Nhật Bản không chỉ là một cường quốc về kinh tế mà còn là một đất nước có nền văn học phát triển từ rất sớm.
Truyền thống văn học của Nhật Bản khởi đầu bằng tác phẩm Kojiki phát triển qua các thời kỳ cổ đại, trung đại và cận hiện đại gắn với tên tuổi của các nhà văn S. Murasaki, M. Basho, R. Akutagawa, Y. Kawabata, K. Oe, Y. Mishima, Kobo Abe... Việc hai nhà văn Nhật Bản nhận giải thưởng Nobel văn chương đã khẳng định vị trí của văn học Nhật trong khu vực và trên thế giới. Văn học Nhật Bản được phổ biến và nghiên cứu ở nhiều nước từ khá lâu. Nhưng ở Việt Nam, tình hình dịch thuật, nghiên cứu văn học Nhật Bản do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan nên diễn ra chậm hơn so với một số nền văn học khác. Trong bài viết này, chúng tôi phác thảo một số nét cơ bản của việc phổ biến văn học Nhật ở Việt Nam trên hai phương diện: dịch thuật và nghiên cứu.
I. Nhận xét chung:
Trong giao lưu văn hoá, văn học với các nước trong khu vực và thế giới, văn học Nhật Bản đến với Việt Nam chậm hơn so với văn học Trung Quốc, văn học Pháp, văn học Liên Xô (cũ) nhưng lại sớm hơn nếu so sánh với văn học Đức, Anh, Mỹ và văn học một số nước khác. Công chúng nước ta đã có những cuộc tiếp xúc đầu tiên diễn ra vào đầu thế kỉ XX với văn hoá và văn minh Nhật Bản gắn với phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục của các sĩ phu yêu nước Việt Nam. Từ phong trào Duy Tân và qua những bức thư Hải ngoại huyết thư gửi về nước, Phan Bội Châu đã giới thiệu với người Việt Nam không chỉ những vấn đề về chính trị, kinh tế, xã hội mà cả những giá trị văn hoá, tinh thần của đất nước Nhật Bản. Cùng với Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu là người đã đặt nhịp cầu đầu tiên cho sự giao lưu văn hoá Việt - Nhật vào đầu thế kỷ XX. Và tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ do cụ Phan Chu Trinh chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của Sài Tứ Lang qua bản dịch của Lương Khải Siêu (Giai nhân chi kỳ ngộ) bằng tiếng Hán được đánh giá là tác phẩm văn học Nhật xuất hiện sớm nhất ở Việt Nam.
Trong những thập niên 30, 40 của thế kỷ XX, mối giao lưu văn hoá với Nhật Bản dường như bị ngắt quãng, thay vào đó là chúng ta hướng đến phương Tây. Phải đến những năm của Thế chiến thứ II, khi Nhật vào Đông Dương thì văn học Nhật Bản mới có điều kiện quay trở lại. Việc tài trợ cho một số tờ báo như: Tạp chí Tây á, Đại Đông á chiến tranh, Đông Dương tạp chí... và lôi kéo một số văn nghệ sĩ nước ta phục vụ cho mục đích chiến tranh của phát xít Nhật đã ít nhiều góp phần vào việc phổ biến văn hoá Nhật đối với công chúng Việt Nam. Đồng thời với việc tuyên truyền tinh thần "võ sĩ đạo", nghệ thuật "trà đạo", nghệ thuật cắm hoa.v.v... nhằm quảng cáo cho chế độ văn minh của nước Nhật, thơ Haiku cũng được đề cao.
Từ những năm sau hoà bình lập lại (1954) và tiếp đến những thập kỷ 60, 70 trong không khí giao lưu với văn học thế giới, văn học Nhật Bản bắt đầu được giới thiệu ở nước ta nhiều hơn. Những tác phẩm văn xuôi có giá trị lần lượt được dịch ở hai miền.
Sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng (1975), đặc biệt bước vào thời kỳ đất nước đổi mới của những thập niên cuối những năm 70, 80 và 90 của thế kỷ XX, văn học Nhật Bản được dịch và nghiên cứu trên một bình diện rộng lớn hơn. Bên cạnh công tác dịch thuật, biên dịch một cách khá hệ thống các tác phẩm văn học Nhật Bản từ cổ đại đến hiện đại với những tác giả tiêu biểu, công việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Nhật Bản trong hệ thống giáo dục phổ thông đến đại học ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng. Chính nhờ những đóng góp to lớn của các dịch giả, các nhà nghiên cứu và giảng dạy mà văn học Nhật được phổ biến sâu rộng đối với đông đảo độc giả trong cả nước.
Góp phần quảng bá, giới thiệu văn học Nhật phải kể đến công sức của các nhà xuất bản, các tạp chí, các báo trung ương và địa phương. Những tạp chí như: Tạp chí Văn học, Tác phẩm mới, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc á, Tạp chí Văn học nước ngoài, Tạp chí Văn (miền Nam trước 1975)... đã đăng tải các tác phẩm hoặc có những chuyên đề, chuyên san nghiên cứu, giới thiệu về văn học Nhật Bản. Như vậy, quá trình và con đường văn học Nhật Bản đến với độc giả Việt Nam diễn ra qua các thời kỳ khác nhau gắn với những vấn đề chính trị, xã hội của đất nước ta. Chúng ta thấy điều này rõ hơn trong vấn đề dịch thuật và nghiên cứu.
II. Một số nét về công tác dịch thuật văn học Nhật Bản ở Việt Nam.
Như trên chúng tôi đã nói, việc giới thiệu văn học Nhật Bản ở nước ta chậm hơn so với việc tiếp nhận văn học một số nước khác. Điều này không chỉ bị hạn chế bởi hàng rào ngôn ngữ (những dịch giả thông thạo tiếng Nhật còn ít) mà do nước ta phải trải qua những năm tháng chiến tranh, chia cắt lâu dài và hơn nữa đã có một thời gian phát xít Nhật chiếm đóng nước ta từ trước 1945 nên việc quan tâm đến một nền văn học trong khu vực còn chưa đúng mức.
1. Trong việc dịch thuật, trước hết phải nói đến vấn đề ngôn ngữ, sau mới đến trình độ văn hoá và kinh nghiệm của người dịch. Chúng ta tiếp nhận văn học Nhật Bản thông qua các bản dịch từ tiếng Hán, Trung Quốc, Nga, Pháp, Anh và tiếng Nhật. Thời kỳ đầu, các bản dịch sớm nhất từ tiếng Hán hoặc tiếng Pháp. Về sau xuất hiện một số tác phẩm được dịch từ tiếng Nga, Anh. Nếu ở miền Nam trước 1975, văn học Nhật Bản thường được dịch từ tiếng Nhật, tiếng Anh, thì ngược lại ở miền Bắc chủ yếu là qua ngôn ngữ Nga, Pháp và Trung Quốc hiện đại. Điều đó nói lên rằng, văn học Nhật Bản đã vào nước ta thông qua các bản dịch từ nhiều ngôn ngữ khác nhau nên rất phong phú và đa dạng.








Trả Lời Với Trích Dẫn


Bookmarks