>
kết quả từ 1 tới 10 trên 10

Ðề tài: [Tham khảo] Hai tùy bút cổ điển Nhật Bản - Cảm nghĩ trong am & Buồn buồn phóng bút

  1. #1
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts

    [Tham khảo] Hai tùy bút cổ điển Nhật Bản - Cảm nghĩ trong am & Buồn buồn phóng bút

    Hai tùy bút cổ điển Nhật Bản


    Sa di Chômei
    Cảm Nghĩ Trong Am
    (Hôjô-ki)

    Tu sĩ Kenkô
    Buồn Buồn Phóng Bút
    (Tsurezure-gusa)

    Nguyễn Nam Trân
    phiên dịch, chú thích và khảo dị
    Nguồn: erct.com


        
    Lời Ngỏ

    Thuở nhỏ, khi còn ngồi trên ghế trường trung học, người dịch đã cảm thấy gần gũi với thể loại văn chương gọi là bút ký vì qua đó, tác giả như nói lên được tình cảm trung thực họ muốn gửi gắm. Khi đọc những tùy bút và ký sự cổ xưa, có cảm tưởng đang nghe người muôn năm cũ nói chuyện trực tiếp với mình, trong lòng không khỏi dậy lên một niềm cảm khái. Ấn tượng sâu sắc nhất vẫn là những tác phẩm như Vũ Trung Tùy Bút, Tang Thương Ngẫu Lục hay Thượng Kinh Ký Sự. Rồi người dịch lẩn thẩn tự đặt câu hỏi : Thế thì tâm tình người Việt Nam vài trăm năm sau ra sao khi họ cầm trong nay những Sài Gòn Năm Xưa, Thương Nhớ Mười Hai hay Hương Rừng Cà Mau của hôm nay ?

    Đến khi có cơ hội tiếp xúc với văn học nước ngoài, dù là Đông hay Tây, tình cảm gắn bó với thể loại văn chương bút ký vẫn trọn vẹn. Từ đó nẩy ra ý định giới thiệu với độc giả Việt Nam những tùy bút cổ điển của Nhật Bản mà mình yêu thích vì nhờ đó mà đã " đọc " được những người Nhật mỗi ngày gặp nhau ngoài đường phố dù không cần trao đổi qua lời nói. Mãng văn học bút ký vốn dĩ rất phong phú ở Nhật và có truyền thống lâu đời trên mười thế kỷ. Chúng có một giá trị nhất định khiến cho đến ngày nay vẫn còn được người trên đảo quốc gối đầu giường, đọc trên xe điện, giảng dạy cho thanh thiếu niên ở cấp cơ sở và hãnh diện khi chúng được dịch ra tiếng nước ngoài.

    Vâng, mười thế kỷ đã trôi qua từ lúc cuốn Makura no Sôshi (Ghi Nhanh Bên Gối), tập tùy bút tối cổ, ra đời. Tám thế kỷ từ ngày có Hôjô-ki (Cảm Nghĩ Trong Am) và bảy thế kỷ từ khi người ta nhặt nhạnh lại được bản thảo của Tsurezure-gusa (Buồn Buồn Phóng Bút) mà tác giả của nó chép trên những mảnh giấy dán tường hay sau những cuốn kinh. Tuy ngày nay chúng ta đã bước vào thời đại du hành vũ trụ, thông tin vi tính và kinh tế tòan cầu, thế nhưng những tình cảm yêu, thương, hờn, giận, ghét bỏ, đam mê, chắc vẫn không khác bao nhiêu so với người xưa, nếu không nói họ còn tinh tế và bén nhạy hơn chúng ta nhiều. Qua những trang tùy bút của hai nhà ẩn sĩ trung cổ Nhật Bản là sa di Chômei và tu sĩ Kenkô sau đây (xin được giới thiệu Makura no Sôshi của nữ học sĩ Sei Shônagon trong một dịp khác), chúng ta sẽ thấy hình bóng của con người muôn thuở nhưng đang thủ hai vai trên hai sân khấu khác mà thôi.

    Đây là dấu ấn của hai tâm hồn cao đẹp - chứ không hẳn là hai bậc thánh hiền - để lại cho chúng ta. Nó phản ánh nhân cách độc đáo của hai ông. Ta thấy đôi khi họ có những ngoan cố, sai lệch, lầm lẫn cũng như mâu thuẫn nhưng nội dung của những điều viết ra luôn luôn dào dạt tình người và đau đáu một nỗi lo đời. Cũng qua hai tác phẩm, ta có thể hình dung xã hội Nhật Bản trung cổ với tất cả tập tục cung đình và dân gian. Chúng hiện trước mắt ta như một cuốn phim sống động. Ngoài giá trị triết lý, văn chương, hai tập tùy bút này còn là một kho tư liệu về sử học và dân tộc học giúp ta hiểu nhân sinh quan của người Nhật đã được hình thành từng bước một như thế nào.

    Quyển sách này được soạn ra trước hết để khỏa lấp chuổi ngày giờ trống vắng của người viết trong những năm tháng lưu lạc trên xứ người. Mục đích thứ hai là đem đến cho quí độc giả mến yêu chút giải khuây, " mua vui cũng được một vài trống canh " trong cuộc sống tất bật hằng ngày, hay như cách nói của Lý Thiệp, nhà thơ đời Đường, có được " nửa ngày nhàn hạ giữa đời phù du ".

    Thiển nghĩ dịch thuật là " dịch văn hóa " nên người viết đặt nặng phần chú thích để làm sáng tỏ ý nghĩa ***g dưới mỗi câu chữ mà khi chuyển qua một ngôn ngữ khác, văn bản sẽ mất đi nhiều thông tin. Kính xin độc giả lượng thứ những chỗ rườm rà cũng như vui lòng dạy bảo về mọi khiếm khuyết mà người viết, dù với tất cả cố gắng và thiện chí, vẫn không sao tránh khỏi.

    Cuối cùng xin gửi một lời cảm ơn trân trọng đến những thân hữu nhất là các bạn trong Nhóm Dịch Thuật Văn Học Nhật Bản đã khích lệ và góp công trong việc hiệu đính bản thảo, các tiền bối và bầu bạn đã không quở trách còn ưu ái hạ bút cho lời giới thiệu cũng như nhà xuất bản đã tận tụy làm việc để quyển sách này sớm được góp mặt với đời.


    Nguyễn Nam Trân


    MỤC LỤC

    1- Cảm Nghĩ Trong Am

    2- Buồn Buồn Phóng Bút

    Lời Giới Thiệu


    • Phần I: Đoạn 1 đến 46
    • Phần II: Đoạn 47 đến 110
    • Phần III: Đoạn 111 đến 182
    • Phần IV: Đoạn 183 đến 243

    3- Bạt



    • CHÔMEI VÀ KENKÔ
    • TRONG DÒNG VĂN HỌC ẨN SĨ NHẬT BẢN
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  2. #2
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    CẢM NGHĨ TRONG AM

    (PHƯƠNG TRƯỢNG KÝ – HÔJÔ-KI)

    Kamo no Chômei

    Kamo no Chômei, tác giả Hôjô-ki

    Nguyễn Nam Trân
    dịch & chú thích


    LỜI GIỚI THIỆU:

    Trong lịch sử văn học Nhật Bản, “Cảm nghĩ trong am” Hôjô-ki (1212) cùng với “Ghi nhanh bên gối” Makura no sôshi (1000?) và “Buồn buồn phóng bút” Tsurezure-gusa (1310-1341) được xem như ba tập tùy bút cổ điển có giá trị lớn nhất. Riêng Hôjô-ki, âm đọc của ba chữ Hán Phương Trượng Ký (ghi chép trong / về cái am vuông vức[1]) , lại là tác phẩm có tính nhất quán, chung đúc, gọn ghẽ hơn cả nếu đem so sánh với Makura no sôshi ra đời hai trăm năm trước nó và Tsurezure-gusa một trăm năm đến sau. Kamo no Chômei (1155?-1216), tác giả của Hôjô-ki, đã sử dụng thần tình văn thể pha trộn Hòa Hán nên phát huy được cái sắc cạnh, trong trẻo mà thâm sâu của nội dung, khiến người đọc như bị cuốn hút hoàn toàn.

    Cũng như Tsurezure-gusa, Hôjô-ki là một tác phẩm quan trọng hàng đầu của dòng văn học ẩn sĩ (còn gọi là văn học thảo am) thời trung cổ Nhật Bản, đặt tên tuổi Chômei bên cạnh cao tăng Saigyô (1118-1190), một nhà thơ waka kiệt xuất, và Urabe Kenkô (1283?-1352?), tác giả Tsurezure-gusa. Tuy ra đời cách đây gần tám trăm năm, nội dung thâm trầm của Hôjô-ki vẫn còn hết sức thiết thân gần gũi đối với con người thời đại chúng ta.

    Dĩ nhiên một tác phẩm cơ bản và quí giá như Hôjô-ki đã được đem vào chương trình trung học cơ sở ở Nhật Bản và các bản dịch nó từ cổ ngữ của thế kỷ 13 qua kim văn cũng như những tập chú thích, bình giảng về nó nhiều không biết cơ man nào. Chúng tôi chọn bản dịch sang kim văn của Yasuraoka Kôsaku (1917-2001), do nhà Kôdansha xuất bản trong loạt sách bỏ túi làm bản lót. Cố học giả Yasuraoka là chuyên gia môn văn học trung cổ Nhật Bản, tốt nghiệp khoa văn Đại Học Tôkyô (Tôkyô Teikoku Daigaku), nguyên giáo sư danh dự Đại Học Sư Phạm Tôkyô (Tôkyô Gakugei Daigaku).

    Đây là bản dịch đầy đủ tác phẩm đã được lược dịch vài đoạn trong Tổng Quan Lịch Sử Văn Học Nhật Bản của chúng tôi. Trong khi dịch, chúng tôi cố gắng cẩn thận đối chiếu và khảo dị bản này với vài bản dịch Nhật-Nhật khác cũng như các bản dịch sang các ngoại ngữ như Pháp và Anh (xin xem thư mục) may mắn có được.

    I) TIỂU TRUYỆN TÁC GIẢ:

    Kamo no Chômei[2], chính ra phải đọc theo âm thuần Nhật là Kamo no Naga.akira, sinh khoảng năm 1155 và mất năm 1216, thọ 61 tuổi. Cuộc đời của ông có thể chia làm 3 giai đoạn:

    1) Giai đoạn thứ nhất từ 1155 đến 1191 (1 đến 36 tuổi):

    Ông là con thứ, sinh ra trong gia đình một ông quan ngũ phẩm giữ đền thần cho hoàng hậu. Cha ông, Kamo no Nagatsugi, chẳng may ngã bệnh, phải từ chức lui về, nhường chỗ cho người trong họ, mấy năm sau thì qua đời. Mất người đỡ đầu, ông từ đó lắm gian nan.

    Vì yêu mến văn chương, ông theo học thơ waka với thầy Shun.e[3] năm ngoài hai mươi tuổi. Thơ ông làm trong giai đoạn này còn ghi lại trong thi tập Kamo no Nagaakira-shuu, nói chung là lành mạnh, bình dị và trong sáng nhưng trong phần tạp thi đã thấy có những bài biểu lộ rõ rệt nỗi thất vọng và tình cảm chán đời.

    Thơ của ông từng được đặt bên thơ các thi nhân nổi tiếng thời đó như Saigyô, Shun.e, Jittei, Shunzei, Kenshô, cũng có bài được tuyển vào Senzai Waka-shuu[4]. Thời ấy, chỉ cần một bài thơ được chọn vào thi tập soạn theo chiếu chỉ của thiên hoàng như Senzai là một vinh hạnh rất lớn.

    Năm 1185, ông đi chơi vùng Ise và viết tập “Ký sự đi Ise” (Ise-ki). Toàn văn nay đã thất truyền nhưng những nhà nghiên cứu cho biết trong đó ông có viết 34 bài waka và một bài renka[5].

    Ngoài thơ, ông còn yêu nhạc và đã theo thầy Nakahara Ariyasu[6] học tì bà lúc đã hơn ba mươi tuổi. Thầy Nakahara vốn là nhân vật đứng đầu về nhạc ở trong cung, rất quí mến và đặt nhiều kỳ vọng nơi ông.

    2) Giai đoạn thứ hai: từ 1192 đến 1204 (37 đến 49 tuổi):

    Sau giai đoạn học tập bồi dưỡng tri thức khá dài, đây là giai đoạn Chômei thực sự góp mặt với làng thơ.

    Ông tham gia vào nhiều hội bình thơ (uta.awase), thắng vài giải lớn và trở thành một viên chức (yori.udo) của Viện Thi Ca (Wakadokoro), có một địa vị trên thi đàn. Kể từ năm 1200 (46 tuổi) trở đi, hầu như năm nào ông cũng có mặt ở các hội bình thơ quan trọng trong và ngoài cung, được mọi người kể cả thiên hoàng nhìn nhận tài năng. Tuy nhiên, phải nói thơ ông thuộc dòng thơ cổ điển, bình dị, đạm bạc chứ không mới mẻ và có tính cách mộng huyễn, khái niệm và tượng trưng của Teika[7], một nhà thơ lớn cùng thời.

    Nếu đời thơ có vẻ êm xuôi, đời thường ông long đong. Nguyện ước được nối chức cha giữ đền thần không thành vì người trong họ phản đối. Tuy thái thượng hoàng Go-Toba, người mến tài ông, đã ra ân can thiệp nhưng không thành công. Nhật ký của Minamoto no Ienaga, một bạn đồng liêu ở Viện Thi Ca chép: “Ông mang mối hận sâu sắc trong lòng nên xuất gia lánh đời”. Có lẽ từ lâu ông đã suy nghĩ về lẽ vô thường của cuộc đời và sự kiện này chỉ là một cái cớ để ông đi đến quyết định.

    3) Giai đoạn thứ ba: từ 1205 đến 1216 (50 đến 61 tuổi ):

    Giai đoạn này tương ứng với cuộc sống ẩn dật trong thảo am cho đến ngày chết. Nếu tu hành có hai lối, một là xuất gia từ nhỏ, hai là xuất gia lúc về già thì Chômei nằm vào trường hợp thứ hai. Trường hợp này vẫn bắt buộc người đi tu phải giữ giới sa di nhưng cho phép họ không phải phụ thuộc một chùa chiền hay tôn phái nào.

    Chômei đã vào vùng rừng núi ở Ôhara, phía bắc Kyôto, một nơi từ xưa vẫn có vô số thảo am mọc quanh các ngôi chùa. Hoàng thân quốc thích, quí tộc Fujiwara và Taira sau khi xuất gia đều về đó ở. Nhiều người là nhân vật nổi tiếng, trong đó có hoàng thái hậu Kenreimon.in tức là vợ góa của Thiên Hoàng Takakura mà gia đình bà, tập đoàn Taira, đã vùi thân trong sóng biển miền Tây.

    Sau khi Chômei xuất gia được một năm, các nhà tuyển khảo đã chọn 10 bài thơ của ông vào tập thơ soạn theo chiếu chỉ Shin-Kokin Waka-shuu. Nhân vật trung tâm của năm người tuyển khảo là Teika, một nhà thơ chủ trương cách tân. Điều này chứng tỏ thơ cổ điển của Chômei cũng được người khác ý kiến đánh giá cao vì có phẩm chất. Thế nhưng tất cả các bài được tuyển là thơ mà ông đã làm vào giai đoạn thứ hai chứ từ ngày đi tu ở Ôhara, không thấy ông có thơ.

    Ngoài tập tùy bút Hôjô-ki, Kamo no Chômei còn để lại “Ghi chép không tên” Mumyô-shô[8], gồm hơn 70 đoạn, viết giữa năm 1211-1216, trong đó ông kể lại giai thoại về các nhà thơ, những danh lam thắng cảnh đề tài của thơ, cũng như điều tâm đắc trong khi làm thơ waka. Phần luận về “yuugen” (khái niệm “u huyền” trong thi ca) rất nổi tiếng. Khoảng năm1214 tức là không bao lâu trước khi mất, ông viết “Mở lòng tu” Hosshin-shuu[9], một tập sách thuyết giáo thuật lại truyện những người trong phái tịnh độ đã phát tâm bồ đề đi tu như thế nào và nhân đó trình bày cảm tưởng của mình.

    Tóm lại, qua ba tác phẩm Mumyô-shô, Hôjô-ki, Hosshin-shuu, ta thấy mối quan tâm trong những ngày tháng cuối cùng của Chômei là thi ca, cuộc sống ẩn dật và lòng tin tôn giáo vậy.

    II) TÁC PHẨM:

    Chômei có một tập thơ và hai tập văn xuôi khác nhưng nơi ý tưởng được phô bày gọn ghẽ, sâu sắc và mạnh mẽ nhất có lẽ là “Cảm Nghĩ Trong Am” tức Hôjô-ki (Phương Trượng Ký).

    “Ký” trước đây được xuất hiện dưới nhiều hình thức ở Trung Quốc và Nhật Bản (và ở Việt Nam[10]) như đường ký, đình ký, du ký, ký sự... Thường người ta dùng nó để ghi chép những điều nghe thấy về một kiến trúc, địa danh hay địa hình. Người đời sau nới rộng nó ra và cho thêm cả phần nghị luận vào đó. Trung Quốc đã tạo ra truyền thống bút ký với Đào Hoa Nguyên Ký (của Đào Tiềm), Túy Ông Đình Ký (của Âu Dương Tu), Yến Hỷ Đình Ký (của Hàn Dũ), Thảo Đường Ký (của Bạch Cư Dị), Nhạc Dương Lâu Ký (của Phạm Trọng Yêm) vv... Nhật Bản cũng có Fujisan-ki (của Miyako no Yoshika), Shosai-ki (của Kanzô Daishôkoku), Teishiin Shiin-ki (của Ki Nagon), Chitei-ki (của Saki no Chuushô-ô) [11]và một Chitei-ki khác nổi tiếng hơn của Yoshishige no Yasutane[12] vốn có liên quan mật thiết với Hôjô-ki này.

    Tuy “Đình bên ao” tức Chitei-ki của Yasutane có ảnh hưởng lớn trên Hôjô-ki[13] nhưng văn thể của Chitei-ki là Hán văn trong khi Hôjô-ki là Hòa Hán hỗn hợp, bút pháp của Hôjô-ki tích cực sâu sắc, mạnh mẽ, tung hoành hơn, còn chen lẫn tự sự với nghị luận. Tuy kế thừa truyền thống về bút ký đã có, nó được xem như tác phẩm trong văn chương Nhật Bản đầu tiên có tính độc sáng trong thể loại này.

    Không chỉ than vãn thở than cho kiếp người bèo bọt như những văn nhân thi sĩ thời xưa, Chômei còn đưa ra những bằng cớ hùng hồn như 5 tai ách đã xảy ra trước mắt ông với nhiều tình tiết cụ thể. Trong phần sau, ông đã lập một tương quan đối lập tâm-thân và nói lên sự quan trọng của cái tâm rồi dẫn đến kết luận là việc chọn lựa cuộc sống an lạc trong thảo am thanh tĩnh trên núi Hino. Tuy nhiên điểm độc đáo của Hôjô-ki là Chômei đã không ngừng suy nghĩ dù khi đã chọn cuộc sống ẩn dật vì vẫn cảm thấy có vấn đề giữa cái tâm và cái hành như ta thấy trong đoạn 12. Đi ở ẩn có thực sự là tu hay không vì tu như thế vẫn chưa triệt để. Lánh đời có nghĩa là giữ một thái độ ích kỷ, chỉ nghĩ đến sự cứu rỗi của riêng mình. Chính hành động tự phê này bộc lộ cái tính nhân bản mà ta ít thấy nơi ai khác.

    Lối hành văn của Chômei rất sinh động. Ông sử dụng nhiều phương pháp tu từ như điệp ngữ, phản đề, nghịch đảo, thêm vào đó, sử dụng khéo léo những điển cố, đối cú mạnh mẽ và hoa lệ.

    Riêng về vai trò của tác phẩm trong dòng văn học thời trung cổ, cũng cần đặt Hôjô-ki vào bối cảnh lịch sử, tôn giáo. Đó là một thời đại chiến tranh loạn lạc, tai ách liên tiếp, mạng người rẻ rúng, cuộc sống cơ hàn. Người ta đã tìm nguồn an ủi trong lòng tin tôn giáo nên đạo Phật chưa bao giờ được phát triển mạnh mẽ như thế. Văn học với Hôjô-ki cũng mở thêm một cánh cửa khác đi vào thế giới nội tâm, để giải quyết những vấn đề của con người.

    Về mặt văn bản, Hôjô-ki có nhiều truyền bản. Bản nhiều chữ gọi là quảng bản, bản ít chữ gọi là lược bản.Ngoài ra, tùy theo nội dung và cách hành văn lại chia ra làm cổ bản (bản cũ) và lưu bản (bản lưu hành). Do đó, quảng bản có một hay nhiều cổ bản và lưu bản; còn lược bản thì lại có 3 là bản năm Chôkyô thứ hai (Trường Hưởng, 1487-1489) bản năm Entoku thứ hai (Diên Đức, 1489-1492) và bản mana tức bản viết bằng chữ Hán. Trong 3 bản cổ[14] thì bản giữ ở chùa Daifukukôji được xem như do chính tay Chômei chép lại. Tuy còn nhiều điểm hồ nghi nhưng đây là bản được giữ gìn trân trọng nhất. Bản Daifukukôji cũng là bản mà dịch giả (sang kim văn) Yasuraoka Kôsaku sử dụng như tư liệu chính.


    THAM KHẢO

    1) Yasuraoka Kôsaku chú dịch Kamo no Chômei, 1980, Hôjô-ki, Kôdansha Gakujutsu Bunko xuất bản, Tôkyô, bản in lần thứ 40 năm 2006.

    2) R.P. Sauveur Candau dịch Kamo no Chômei, 1987, Notes de ma cabane de moine, Gallimard, Unesco, bản in năm 2002.

    3) Yanase Kazuo chú dịch Kamo no Chômei, 1967, Hôjô-ki, Kadokawa Sophia Bunko, bản in lần thứ 52 năm 2006.

    4) Moriguchi, Yasuhiko & David Jenkins dịch Kamo-no-Chômei, Michael Hofmann minh họa, 1996, Hojoki, visions of a torn world, Stone Bridge Press, Berkeley, California.

    5) Nguyễn Nam Trân, 2007, Tổng Quan Lịch Sử Văn Học Nhật Bản. Chương 7: Dòng văn học nhật ký và tùy bút, phần nói về Kamo no Chômei và Hôjô-ki. Tư liệu trên mạng, chưa xuất bản.


    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  3. #3
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    PHIÊN DỊCH TOÀN VĂN[15]

    1-Cái vô thường của đời người và nơi trú ngụ :

    Sông kia chảy mãi chẳng lúc nào ngừng mà nước có bao giờ lại là dòng nước cũ[16]. Bọt cặn dậy lên từ những nơi nước úng cũng có lúc tụ lúc tan chứ không giữ nguyên hình dạng lâu dài[17].

    Con người sinh ra ở đời cũng như chỗ trú ngụ của họ, so với dòng sông, có khác gì đâu.

    Ở chốn kinh đô[18] lộng lẫy, biết bao nhiêu nhà cửa của kẻ giàu người khó, liền liền bên nhau, chen chúc đua cao, tưởng như sẽ còn mãi mãi dù trải qua bao nhiêu thời đại. Nhưng khi thử nhìn coi chúng có thực sự bền lâu hay không thì mới thấy con số những ngôi nhà vẫn nguyên vẹn như xưa thật là ít ỏi. Có ngôi thì năm ngoái bị hỏa hoạn, năm nay phải dựng lại, có ngôi thì nhà to suy sụp, trên nền cũ xây lên mỗi một mái con.

    Người sống trong những ngôi nhà đó, số phận cũng tương tự như vậy. Trong kinh đô có những khu vực tưởng chừng không thay đổi và vẫn đầy người sống ở đó, nhưng trong số hai, ba mươi người ngày xưa ta từng gặp thì nay cùng lắm chỉ còn mỗi một hay hai. Trên đời, sáng có người vừa chết thì chiều đã có kẻ sinh ra, đó là lẽ thường của cuộc sống, hoàn toàn không khác chuyện bọt nước dòng sông, mất đó rồi lại hiện ra.

    Ta không hiểu những con người liên tiếp sinh ra và chết đi đã từ đâu đến cõi đời này và lúc thác sẽ về đâu. Ta cũng không hiểu vì ai mà người ta phải lao tâm mệt trí để xây nhà, rồi vì đâu mà phải trang trí cho đẹp mắt cái chốn vốn chỉ là nơi ở tạm trong cuộc sống vô thường này. Ta thấy cảnh đổi thay liên tục của những ngôi nhà và chủ nhân của chúng so ra chẳng khác gì giọt sương trên cánh hoa bìm buổi sáng. Có lúc sương rơi đi mất để hoa ở lại. Hoa dẫu có còn nhưng khi nắng lên thì đã cạn sức sống. Cũng có lúc hoa tàn héo nhưng giọt sương đọng trên hoa vẫn chưa tan biến. Tuy gọi là chưa tan nhưng sương chỉ còn đó trong khoảnh khắc chớ đâu có thể kéo dài cho đến lúc cuối ngày.

    Từ khi biết phân biệt chuyện phải trái trên đời, ta đã sống hơn bốn mươi xuân thu. Trong khoảng thời gian đó, lại đã có dịp chứng kiến biết bao nhiêu cảnh tượng dị thường.

    2-Hỏa hoạn năm Angen (1177) :

    Như chuyện xảy ra vào ngày 28 tháng 4 năm Angen thứ ba[19]. Hôm ấy gió thổi thật hung bạo rồi ban đêm, trong lúc lộn xộn, một đám cháy đã bùng ra phía đông nam kinh thành vào khoảng 9 giờ tối và lan mạnh về hướng tây bắc. Cuối cùng lửa còn bén vào các điện Suzaku và Daikoku, nhà Quốc Tử Giám và công thự Bộ Hộ, trong vòng một đêm, biến tất cả thành tro bụi. Người ta cho biết hỏa hoạn đã bắt đầu ở ngả tư giữa hai con đường hẻm Higuchi và Tomi, từ chỗ nhà rạp cất tạm cho bọn diễn trò ca múa[20].

    Vì gió quay cuồng không định hướng nên đã để lửa tung hoành khắp nơi. Trận hỏa hoạn dần dần lan rộng giống như một cánh quạt mở bung ra. Những ngôi nhà phía xa ngột ngạt trong đám khói còn những ngôi ở gần phụt xuống mặt đất những vệt lửa dài. Gió bắn bụi tro lên thật cao. Tro ánh lửa sáng lòa làm cho bầu trời đỏ rực. Ngọn gió không gì ghìm nổi đã thổi những luồng lửa bay trong không xa vượt qua mấy trăm thước. Con người bị bao quanh bởi lửa đỏ như thế, hỏi có ai giữ được thần hồn.

    Có người bị ngạt khói ngã lăn ra đất, có người bị lửa trùm lên, chết ngay tại chỗ. Lại có người may mắn chạy được, nhưng chỉ thoát mỗi tấm thân chứ không đem theo được tài sản trong nhà. Bao nhiêu của cái châu báu đành cho ngọn lửa thiêu rụi. Những tổn thất như thế to lớn không thể tưởng.

    Trong dịp này, có 16 phủ đệ của công khanh đã bị cháy tiêu. Ngoài ra nhà cửa thường dân thì không đếm xiết. Nhìn chung con số đó phải đến một phần ba tổng số nhà cửa trong kinh đô. Số nam nữ chết cháy khoảng hàng chục, còn ngựa, bò và các thứ gia súc thì chết mất vô số.

    Con người vì cuộc sống đã làm bao nhiêu trò ngu muội và hoài công nhưng trong những chuyện đó không có gì cực kỳ vô ích bằng chuyện lao tâm lao lực và lãng phí tài sản để xây cất nhà cửa trong chốn kinh đô nhiều nguy hiểm như thế này.

    3-Con trốt năm Jishô (1180):

    Lại nữa, hồi tháng tư năm Jishô thứ tư[21], ở quãng giữa ngả tư hai đại lộ Naka no mikado và Kyôgoku, một con trốt lớn đã dậy lên và thổi cho đến tận khu vực đại lộ Rokujô.

    Trong một đường kính rộng ba, bốn chô[22], trốt bốc mọi đồ vật lên cao. Nhà cửa trọn khu vực ấy, dù nhỏ dù lớn, đều bị tiêu hủy. Có những ngôi nhà hoàn toàn đổ bẹp, có ngôi còn trơ mấy thanh cột thanh kèo. Cửa nẻo cũng bị trốt bứng mang đi ở một nơi cách xa đó những bốn năm chô. Rào dậu vây chung quanh những dinh cơ đều bị thổi bật nên không còn ai nhận ra ranh giới của chúng với những ngôi nhà ở kế cận, và đất thành ra giống như tiếp liền nhau. Hơn nữa, nếu trong nhà có của cải gì thì đã bị trốt giật lên không, những tấm vỏ già hay tấm tranh lớn lợp nhà đều bị rãi ra tan hoang khắp chốn như lá mùa đông. Vì con trốt cuốn bụi bặm đầy trời nên mắt không còn không còn phân biệt được gì nữa. Lại có những âm thanh rít gào dễ sợ ở đâu vọng tới khiến cho có muốn nói với nhau chuyện gì tai cũng không nghe. Ôi, ngọn gió nghiệp chướng[23] nếu có chắc cũng đến cỡ này thôi. Không chỉ nhà cửa chịu thảm họa mà số người trong lúc sửa chữa chúng gánh lấy tai nạn, có khi mang tật nguyền, cũng không đếm xiết. Con trốt này di chuyển về hướng nam tây nam, kéo theo trên đường nó đi bao nhiêu tiếng gào khóc của nạn nhân.

    Trốt giật là chuyện thường ngày vẫn xảy ra nhưng con trốt lần này không phải trò đùa. Làm như nó là điềm báo trước những cơn thịnh nộ khác của Thần Phật.

    4-Cảnh hỗn loạn khi thiên đô về Fukuhara (1180) :

    Còn thêm quyết định đột ngột thiên đô[24] vào tháng sáu cùng năm. Thật là một tai họa không ai ngờ tới. Nói chung, sự lựa chọn Heian làm kinh đô bắt đầu có từ đời Thiên Hoàng Saga[25] và tính đến nay, thành phố đã có bốn trăm năm lịch sử. Cho nên đâu dễ gì mà thiên đô đi chỗ khác một cách tùy tiện[26], không vì một lý do nào đặc biệt. Sở dĩ lệnh thiên đô lần này làm cho ai nấy đều lo lắng xôn xao là vì thực tình nó đã vượt quá đạo lý thông thường.

    Tuy nhiên cho dù có bàn qua tán lại thì trên từ đức kim thượng cho đến các bậc đại thần, công khanh, tất cả mọi người đều dời về kinh đô mới. Như thế, thử hỏi những người có dính líu đến việc phục vụ trong triều, ai muốn nán lại chỗ ở cũ tức là khu vực kinh đô Heian chi nữa. Hàng quan lại muốn bám víu vào chút chức tước hay tìm ân sủng của nhà vua đều gắng sức dọn về kinh đô mới càng sớm càng tốt. Còn những kẻ lâm vào cảnh sa cơ vì không chạy theo thời cuộc, bị dẹp qua một bên lề xã hội, không còn mong gì lập được công danh thì chỉ biết nằm lại chốn cố hương mà thở vắn than dài.

    Những ngôi nhà người ta ở một thời từng chen chúc bên nhau đua tranh sự giàu sang, cùng với thời gian đã trở nên hoang phế. Bao nhiêu nhà bị giỡ ra, kết thành bè thả trôi trên dòng sông Yodo[27] về kinh đô mới. Các nền móng còn trơ lại thoáng cái đã biến thành đồng ruộng. Tâm tình người đời cũng thay đổi cả, họ chỉ còn quí trọng ngựa với yên cương. Không còn thấy ai đi tìm bò hay xe bò kéo[28]. Họ mong được cấp lãnh địa vùng biển Tây Nam chứ không ai muốn có trang viên miền Đông Bắc nữa[29].

    Dạo ấy, nhân có việc, đôi khi chính ta cũng từng ghé qua xứ Settsu[30], nơi có kinh đô mới. Quan sát cảnh tượng ở đó, mới nhận ra rằng đất đai vùng này thực chật hẹp, đến nỗi không đủ phân chia ra làm bốn khu đông tây nam bắc. Hướng bắc quá sát núi nên cao, hướng nam lại tụt thấp xuống gần mặt biển. Nơi đó, sóng đánh ầm ầm, còn gió triều rất nồng và thổi mạnh. Ngự sở của thiên hoàng được cất khuất trong núi làm ta liên tưởng tới hành cung Kinomaru[31] ngày xưa, tuy có hơi (thô sơ) khác thường nhưng cũng vì thế mà có vẽ u nhã.

    Mỗi ngày, thiên hạ cứ giỡ nhà, kết gỗ thành bè thả xuống dòng cho trôi về hạ lưu đến nỗi dòng sông như bị ngập ứ. Không biết với những thứ gỗ đó họ sẽ xây dựng ở đâu. Đất trống hãy còn nhiều nhưng nhà mới cất chưa bao nhiêu. Kinh đô cũ đã hoang tàn mà kinh đô mới vẫn chưa hoàn thành. Một ngày có mặt ở kinh đô mới là một ngày đầy lo lắng trong lòng. Mọi người đều cảm thấy mình như mây trôi dạt, bơ vơ không chỗ nương tựa. Nếu những ai sinh sống ở đây từ trước buồn khổ vì đất đai bị nhà nước trưng dụng thì người mới di trú lại than thở cho công việc xây cất quá cơ cực. Nhìn bên đường, ta thấy những bậc công khanh, đáng lẽ phải ngồi xe bò kéo, từ khi phải cưỡi ngựa đến nay, đã bỏ hết mũ mãng y quan để mặc manh áo chiến tầm thường của hàng vũ sĩ. Mới biết, ngày một ngày hai, phong hóa chốn kinh đô đã hoàn toàn đổi khác, những vị này đã trở thành quê mùa như bọn lính tráng.

    Ta nghe nói sự thay đổi trong phong tục thường là điềm báo trước những rối loạn xã hội. Quả tình là như vậy. Theo tháng ngày, con người càng thêm dao động, lòng dạ bất an. Thấy chuyện thở than sầu khổ của dân chúng không phải là điều vô căn cứ cho nên mùa đông cũng vào năm Jishô thứ tư này, đức hoàng thượng đã dời xa giá về lại kinh đô Heian. Thế nhưng bao nhà cửa ở đó đã bị san phẳng thì ra sao ? Làm gì có thể kiến tạo lại toàn bộ những ngôi nhà đã giỡ hết mang đi !

    Nghe người ta kể lại thì ngày xưa vào thời chư vị thánh quân, các ngài thường lấy lòng từ ái để chăn dân.Vì thế cho nên nơi ngự sở cũng chỉ lợp tranh, mái lại không cần cắt tỉa cho đều[32]. Có ngài thấy khói thổi cơm bốc lên từ những mái nhà dân quá thưa thớt bèn xá miễn phẩm vật phải nộp cho triều đình dầu thuế ấy không đáng là bao[33]. Đó là những hành động của bậc vương giả với mục đích cứu dân, giúp đời. Nhìn vào thời buổi bây giờ mà so với ngày xưa, thì mới biết sự thể đã khác xa đến ngần nào.

    5-Nạn đói năm Yôwa (1181)[34]

    Hình như hồi năm Yôwa thì phải, chuyện xưa rồi nên không nhớ rõ. Suốt hai năm liền, không lương ăn, bao nhiêu cảnh bi thảm. Xuân, hạ thì hạn hán, thu, bão tố lũ lụt, tiếp nối toàn là tai ách, làm cho ngũ cốc hầu như không ra hạt. Dù có ra sức cày bừa vỡ đất mùa xuân, gieo giống mùa hè cũng hoài công cả thôi. Còn đâu cảnh nhộn nhịp gặt hái mùa thu và chất vào kho lẫm mùa đông.

    Vì thế, nông dân khắp châu huyện bỏ nhà cửa ruộng vườn lại đằng sau, chạy qua xứ khác hay vào trong núi ở. Triều đình cho lập đàn cầu đảo, làm bùa làm phép mà hoàn toàn chẳng có kết quả. Nơi kinh đô, cho dù làm nghề gì cũng phải trông cậy vào tài hóa dưới quê mang lên. Nay chẳng thấy còn gì nên người hàng phố vì muốn giữ sĩ diện và duy trì nếp sống cũ, phải đem bán đổ bán tháo những đồ quí giá mà chẳng ai chịu để mắt mua cho. Nếu có người bằng lòng đổi chác thì tiền bị coi rẻ, lương thực đắt giá. Ngoài đường đầy ăn xin, tiếng kêu khóc than thở không đâu là không nghe.

    Năm đầu thời Yôwa thì tình trạng nói trên cuối cùng có lắng đi. Đến năm thứ hai, đang lúc mới nghĩ mọi sự sẽ được phục hồi thì bệnh dịch lại phát, hoàn cảnh bi đát hơn, không còn dấu vết của cuộc sống bình thản ngày xưa. Người người càng ngày càng cùng quẩn, chẳng khác nào lũ cá mắc cạn. Những kẻ từng mang giày đội mũ nghênh ngang cũng phải ăn mày, lê la từ nhà này sang nhà khác ngửa tay xin.

    Có người chịu khổ hết nổi, đầu óc choáng váng, mới thấy đi trên đường bỗng ngã lăn đùng. Bên những bức tường và hàng dậu ở vệ đường, toàn người chết đói. Vì không có cách nào đem vứt xác đi nên mùi xú uế xông lên khắp thành. Những thây ma lần hồi thối rữa ra, hình dung vóc dáng biến dạng quá đỗi, đến nổi không ai nhẫn tâm ghé mắt nhìn.

    Cảnh tượng như thế còn thấy ngay giữa phố thì còn nói gì ngoài bãi sông Kamo. Ở đó, hài cốt bỏ bê chồng chất không còn chỗ cho ngựa hay xe bò di chuyển. Dân bần cùng hạ tiện làm nghề kiếm củi trong núi, vì thiếu lương ăn và sức cùng lực tận, không còn cung cấp đủ củi cho thành phố. Do đó, những kẻ không biết bám víu vào ai để sống phải phá chính nhà mình lấy gỗ đem ra chợ bán. Lúc đó, giá trị của đồ gỗ có trong nhà mà người nào đó đem ra bán cũng chưa đủ kéo dài sinh mạng của hắn thêm được một ngày. Trong số những món đồ gỗ đó, đôi khi có lẫn lộn những thanh sơn son hay thếp vàng. Điều tra mới biết là bị du vào thế cùng, những kẻ tệ hết chỗ nói đã vào chùa cổ đánh cắp tượng Phật, đồ thờ, rồi đập, chẻ ra làm củi. Phải giương mắt nhìn những hành vi không tha thứ nổi ấy, ta hận cho mình đã sinh ra vào thời buổi mạt pháp ngũ trược thập ác như thế này.

    Còn nhiều chuyện thê thảm hơn nữa kia. Có những cặp vợ chồng không nỡ rời nhau, thì trong hai người, kẻ có tình yêu sâu đậm hơn đã chọn cái chết trước tiên. Lý do là người đàn ông hay người đàn bà đó quá tội nghiệp người kia nên quên cả mạng sống của mình, nhường lại cả chút lương thực đang có trong tay. Giữa cha mẹ con cái cũng có lối giải quyết tương tự. Cha mẹ đều chịu chết đói trước con. Lại có đứa trẻ sơ sinh, không hiểu rằng mẹ mình đã nằm chết kề bên, cứ tiếp tục ngậm chặt bầu vú.

    Trong chùa Ninnaji[35] có một nhà tu hành tên Ryuugyô[36] cảm thán cái cảnh người chết vô số như thế, mới kêu gọi các bạn đồng tu mỗi lần nhìn thấy một thây chết hãy chấm bút viết vào trán họ một chữ « A »[37] để dẫn dắt họ về với đạo lý của Đức Phật. Vì muốn tìm hiểu con số nạn nhân, trong vòng hai tháng tư và năm, bọn họ đã cất công đi đếm từ xóm Ichijô về phía Nam, từ xóm Kuujô lên phía bắc, từ khu Kyôgoku đổ về hướng tây và từ đại lộ Suzaku qua phía đông, nghĩa là trong nội thành kinh đô. Con số lên đến hơn 42.300 người, đó là chỉ kể những thây chết thấy bên đường mà thôi. Con số này không tính đến những kẻ đã chết trước hoặc sau thời điểm đó cũng như vô số xác thấy ngoài bãi sông Kamo hay ở Shirakawa, Nishi-no-Kyô và những vùng khuất nẻo khác. Hãy thử tưởng tượng con số nạn nhân nếu kể thêm cả những người chết ở các quận huyện của bảy đạo trong nước.

    Trước đó không lâu, đời thái thượng hoàng Sutoku[38] vào khoảng năm Chôshô[39] cũng đã có cảnh tượng thê thảm tương tự nhưng ta chỉ nghe nói chứ không thấy tận mắt. Còn lần này ta được chứng kiến nạn đói xảy ra nên biết sự kinh hoàng hiếm có của nó như thế nào.

    6- Trận động đất năm Genryaku (1185) [40] :

    Cũng khoảng thời gian này, có một trận động đất vô cùng lớn. Trận này không phải cỡ thường vì nó làm núi lở, sông vùi, biển nghiêng, đất ngập. Mặt đất nứt ra và nước vọt lên, những mỏm đá vỡ rơi lăn lóc dưới thung lũng. Thuyền đang chèo bên bờ bị sóng đánh dập vùi ra ngoài biển, ngựa đang đi trên đường, cảm thấy mặt đất dưới vó cũng lung lay.

    Ở vùng chung quanh kinh đô, bao nhiêu chùa tháp không cái nào đứng vững. Cái bị đổ sập, cái thì ngã nghiêng. Bụi và tro bốc đầy trời trông như lớp khói dày. Tiếng đất rung chuyển, tiếng nhà cửa sụp xuống ầm ầm như sấm vang. Nếu còn nán lại trong nhà thì e nhà sập đè lên, còn chạy ra cho nhanh lại gặp cảnh đất nứt dưới chân. Không có cánh, làm sao bay thoát. Nếu là rồng thì đã cưỡi mây đi cho xong. Trong muôn thứ sợ hãi ở đời này, không thể chối cãi được tai ương đáng sợ hơn cả chính là động đất.

    Mặt đất sau khi rung chuyển khủng khiếp như thế mới chịu ngừng lại nhưng những chấn động nhỏ gọi là dư chấn vẫn chưa thôi.Thường thường, sau một cơn địa chấn, trong một quãng thời gian phải có ít nhất hai ba mươi dư chấn đủ làm kinh hồn xảy ra mỗi ngày. Khoảng mươi hay hai mươi hôm sau, những chấn động đó mới thưa dần. Lúc đó, mỗi ngày đất chỉ còn rung khoảng bốn năm rồi hai ba bận nữa thôi. Sau đó rút xuống cách một hôm hay cách hai ba hôm mới có một bận.Nói chung, giai đoạn dư chấn kéo dài có khi đến ba tháng.

    « Giữa khi đó, có một cậu bé tuổi khoảng lên sáu lên bảy, con một của một vũ sĩ, đang chơi dưới mái bức tường đất, nghịch ngợm đắp một ngôi nhà. Chợt bức tường ấy đổ ập xuống, vùi luôn cả cậu. Thân thể cậu bẹp nhẹp, hai con ngươi bật cả ra ngoài, không làm sao nhận diện được nữa. Cha mẹ chỉ biết ôm lấy xác con mà đau đớn khóc rống, chứ không biết nói lời nào. Nhìn cảnh đó ta thật thương xót. Mới nghĩ rằng cho dù là người vũ sĩ dũng cảm, trước nỗi buồn mất con, cũng không còn thấy có gì là xấu hổ khi phải để lộ tình cảm của mình trước mắt người khác »[41].

    Trong bốn nguyên tố lớn, thường thường thủy, hỏa, phong gây nhiều tai hại và người ta nghĩ rằng mặt đất rộng (đại địa) thì làm gì có thể tạo ra thảm họa. Thế nhưng vào khoảng niên hiệu Saikô[42] thì phải, đất rung chuyển dữ dội đến nỗi đã gây nên một sự cố động trời là làm đổ cả đầu tượng Đức Phật ở chùa Tôdaiji[43]. Thật ra, so với lần này, trận động đất hồi đó đã thấm vào đâu. Lúc gặp cảnh động đất, mọi người mới lên tiếng cho rằng việc xây cất nhà cửa là điều vô nghĩa. Ta nghĩ họ nói được như thế thì những điều nhơ bẩn trong tâm họ cũng đã sạch bớt đi rồi. Thế nhưng vài năm sau, với ngày tháng trôi đi, thì ngay cả số người nói ra được điều đó cũng chẳng còn ai.

    7- Nỗi khổ trên đời :

    Nhìn chung, sống ở trên đời, cái tấm thân ta cũng như nơi ta trú ngụ đều là cái vật vờ, không thể trông cậy được, nhất là, như đã trình bày, vào những lúc tai ách xảy ra. Thêm nữa, tùy theo chỗ ta ở, hoàn cảnh mà ta gặp phải, nỗi khổ tâm của ta cũng thiên hình vạn trạng.

    Một người bản thân không có gì đáng kể mà lại sống bên cạnh người quyền thế thì khi gặp chuyện thật vui cũng không dám vui tận lực. Khi buồn thống thiết, anh ta cũng không dám khóc to cho đỡ cơn buồn. Lo lắng không dám nhúc nhích, ngay khi làm những động tác bình thường mọi ngày thì cũng run rẫy giống như con se sẻ đang tiến đến gần tổ của chim ưng.

    Một người nghèo mà sống bên cạnh người giàu có thì từ sáng đến chiều sẽ cảm thấy hỗ thẹn mãi vì cái dáng thảm hại của mình, lúc ở trong nhà ngoài ngõ đều phải ca ngợi người kia. Mỗi khi thấy thái độ thèm thuồng của vợ con hay kẻ ăn người của mình, hay mỗi khi nghe người nhà kẻ giàu sang ấy khinh miệt nhà mình thì tâm hồn lại bị dao động, không bao giờ có một phút bình yên.

    Nếu người đó sống nơi nhà cửa tụ tập nhiều, chen chúc giữa một khoảnh đất hẹp thì khi nhà kế bên bị tai họa gì, anh ta khó mà thoát được vạ lây. Còn nếu sống ở một nơi heo hút, ngoài việc đường sá đi lại khó khăn, thêm cái nguy cơ gặp phải trộm cướp.

    Hơn nữa, người mà ta gọi là quyền thế thường tham lam lợi lộc, còn người cô đơn không ai đùm bọc dễ bị khinh khi. Có được tài sản thì lo lắng, muốn giữ bằng được, còn không có thì ấm ức, tỵ nạnh với kẻ có. Nếu nương tựa người thì tấm thân thành ra nô lệ cho họ, còn nếu che chở giúp đỡ ai thì sẽ bị chính ân tình ta có với người đó giật giây. Chạy theo người đời mình sẽ khổ tâm, còn như không chạy theo thì bị thiên hạ coi là kẻ dở hơi.

    Thế thì phải cư ngụ ở chỗ nào, phải hành động như thế nào để cho dù chỉ một khoảnh khắc, mình có thể tìm được sự bình an trong tâm đây ?

    8-Xuất gia lánh đời và dựng am :

    Ta được thừa kế gia sản của bà nội ta cho nên trong một khoảng thời gian dài, đã sống trong nhà của cụ. Sau đó, liên hệ của ta với gia đình xấu đi, bản thân ta cũng lâm vào cảnh sa sút. Chuyện cũ kia nọ nhớ ra thì nhiều không kể xiết nhưng xin tóm tắt là, đã lâu, ta không còn được sống nơi đó nữa. Năm ngoài ba mươi tuổi, ta mới nẩy ra ý dựng cho mình một căn nhà nhỏ đơn sơ.

    Nếu đem so sánh căn nhà này với chỗ ở cũ của cụ nội thì mười phần mới được một. Ta chỉ xây cất tối thiểu đủ để làm nơi ngã lưng chứ không đủ vật lực để nhà được tiện nghi đầy đủ. Nói là nhà chứ chỉ có tường và mái, cánh cổng cũng chả làm nổi. Với mấy cột tre, ta dựng một cái chòi để cất cái xe kéo. Mỗi khi có gió mạnh hay tuyết đọng, ta mới cảm thấy lo lắng cho cái èo uột của căn nhà. Nhà ta lại nằm gần bên bờ sông Kamo nên dễ bị lụt lội, đó là chưa kể chuyện trộm đạo.

    Cứ như thế mà ba mươi năm dư, ta đã khổ tâm nhịn chịu để sống với cuộc đời bạc bẽo. Trong suốt thời gian này, toàn gặp những điều không vừa ý, ta nhận ra mình là kẻ thiếu may mắn.Vì lẽ đó, vừa được năm mươi tuổi, ta quyết chí xuất gia, chọn cuộc sống ẩn dật để xa lánh người đời. Thuở giờ ta chưa hề có vợ con nên chẳng có mối liên hệ gì để phải cắt đứt. Bản thân chưa từng nhận bổng lộc, chức tước nên không cần bám víu điều chi. Và như thế, ta vào trong vùng rừng núi Ôhara[44], nằm khểnh với mây trời. Quang âm thấm thoát, ấy thế mà năm năm đã trôi qua.

    Nay ta bước gần đến tuổi sáu mươi, cái thân già suy yếu dần dần để rồi sẽ biến mất đi như hạt sương mai. Lúc những tháng ngày còn lại chẳng khác gì lá bám đầu cành, ta lại đi dựng một nơi tạm trú khác. Cũng giống người đi đường[45] cất một cái chòi tạm để qua đêm, hay như con tằm già cố gắng rút hết ruột ra làm kén. Nếu ta so sánh chỗ này với ngôi nhà cất bên bờ sông Kamo nơi ta sinh hoạt bấy lâu thì nhà kia một trăm phần nó mới được một.

    Trong khi nói ra bao nhiêu điều ngu muội, ta chỉ thấy tuổi tác của mình càng ngày càng cao và chỗ trú ngụ càng ngày càng hẹp lại. Ngôi nhà của ta lần này cũng vậy, nó không giống nhà của người đời chút nào. Rộng thì vuông vức mỗi cạnh chỉ non một trượng, cao chưa tới năm thước. Bởi vì chưa hề nghĩ đến chuyện có đất mới xây nhà, ta không mất nhiều thời giờ để chọn chỗ xây cất. Nền thì lấy mặt đất làm nền, mái lợp tạm bằng tranh, chỉ cần vài cái móc sắt để kết những tấm gỗ vào nhau. Ta cất giản dị như vậy với dụng ý có thể tháo gỡ dọn đi chỗ khác dễ dàng, nhỡ khi có chuyện không vừa lòng xảy đến. Cho dù phải dựng lại ở đâu đó, ta cũng sẽ không mất công khó nhọc. Tất cả vật dụng để vừa gọn trong hai chiếc xe kéo. Ngoài tiền trả người đánh xe, ta không có mục nào khác để chi tiêu cả.

    9- Cuộc sống trong thảo am trên ngọn núi Hino:

    Giờ đây, kể từ khi vào thật xa trong vùng rừng núi Hino dấu tông tích, lánh người đời, ở phía đông thảo am vuông vức này, ta lợp thêm một cái chái rộng nhỏ rộng hơn ba thước, lấy đó làm chỗ để chứa củi chụm. Phía nam, ta trải lóng trúc làm thành một hàng hiên, đầu tây hiên là bàn đặt đồ cúng kiến. Bên trong am, sát về hướng bắc và cách một tấm cửa vách, ta chưng tranh thờ Đức Phật A Di Đà. Bên cạnh đó, lại treo tranh Đức Phổ Hiền, trước mặt ngài đặt bộ kinh Pháp Hoa[46]. Đầu đằng đông, ta trải mấy nhánh dương xỉ khô làm giường ngủ ban đêm. Phía tây nam ta dựng mấy cái giá treo bằng tre trên đó đặt vài rương da màu đen. Trong rương là ít quyển sách nói về thơ (quốc âm) waka và âm nhạc, dăm tác phẩm triết lý như cuốn Ôjô Yôshuu[47]. Tường bên cạnh có treo chiếc đàn koto (cầm) và đàn biwa (tì bà). Chiếc đàn koto này gập lại được và biwa cũng có thể gỡ ra mang đi.

    Nếu nói về cảnh tượng chung quanh thì phía nam cái am, ta có đặt máng gỗ, xếp đá làm chỗ để trữ nước khe. Rừng ở kề bên hiên nên nhặt cành khô làm củi bao nhiêu cũng có. Chỗ đó tên là Toyama[48] thuộc vùng núi Hino. Dây sắn bò lan lấp lối đi, trong trũng cây cối rậm rạp nhưng phía tây lại thoáng nên buổi chiều ngắm mặt trời lặn để suy nghĩ về Đức Phật ở cõi Tây Phương tịnh độ cũng tiện.

    Khi mùa xuân đến, hoa tử đằng[49] nở tựa chòm mây tím hiện ra mỗi lần chư bồ tát đến rước người lành vãng sinh cực lạc. Hè thì tiếng cuốc kêu như lời ước hẹn sẽ đưa linh hồn về cõi u minh. Khi thu sang, tai nghe tiếng ve ngâm ran suốt ngày như lời than ai oán cho cuộc đời bèo bọt. Mùa đông thì cảnh tuyết rơi, đọng rồi lại tan, dường muốn phô cho ta thấy việc ác có thể xóa đi bao nhiêu công lao tích đức của con người.

    Mỗi ngày được niệm Phật đọc kinh tùy thích, khi không muốn tụng nữa thì ngừng lại nghỉ ngơi. Sống có một mình, có làm như thế cũng chẳng ai phá quấy, mà ta cũng chẳng cần giữ ý với ai. Tuy không cố ý thực hiện cái hành vô ngôn nhưng có ai đâu mà phải phạm tội gian dối cùng người. Cho dù không bắt buộc giữ giới răn, chung quanh mình không cớ gì làm loạn cái tâm, làm sao phá giới cho được. Có chăng là tảng sáng có dịp ra bờ sông ngắm thuyền bè đi lại xa xa ở Okanoya[50], thấy con thuyền thì có lúc chạnh nghĩ đến cuộc đời trôi nổi. Lúc đó miệng ngâm thầm mấy câu thơ phong lưu điệu Manshami[51] mượn đỡ của người. Hoặc là lúc chiều về nghe tiếng gió thu rào rào qua cành quế, bắt chước quan đô đốc Minamoto [52] thả cho hồn mình trôi về bến sông Tầm Dương của Bạch Lạc Thiên. Đôi khi, nếu chưa cạn hứng thì dạo đàn cầm khúc Thu Phong Lạc[53] hòa với gió tùng, hay khảy ít tiếng tỳ bà khúc Lưu Tuyền[54] trước dòng nước chảy. Dù đánh đàn hay ngâm thơ không hay ho gì cũng chẳng lo ai để ý vì mình chỉ làm có mỗi một mình và chỉ với mục đích di dưỡng tính tình.

    Lâu lâu có thằng bé con người canh gác sống trong căn nhà cất tạm dưới chân núi Hino lên am với ta. Lúc buồn tình, có thằng bé này làm bạn, cùng nhau đi chơi. Nó mười tuổi, ta sáu mươi. Tuổi tác tuy khác nhau nhiều nhưng cùng chung cái thú thích ngao du. Có lúc đi ngắt hoa đồng, hái quả dại, đào khoai rừng, nhặt gié lúa sót gom thành bó. Nếu trời đẹp, lại lên đỉnh cao nhìn về cố hương Kyôto, ngắm ngọn Kohata, mấy làng Fushimi, Toba, Hatsukashi. Những nơi thắng cảnh là của đất trời nên không có chi làm vướng mắt bận lòng. Đi bộ nhiều mà không biết mệt, đôi khi thích đi thật xa thì lại chuyền theo đường núi từ Hino đến vãn cảnh chùa Iwama, chùa Ishiyama trên núi Kasatori, hay là từ cánh đồng Awazu, vẹt lối cỏ ghé thăm dấu cũ của cụ Semimaru[55], vượt sông Tanakami, đến tận ngôi mộ ngài Sarumarudayuu[56]. Trên đường về, tùy theo thời tiết, lúc thì đánh một vòng thưởng thức hoa anh đào, hay đi hái lá phong đỏ, bẻ cành dương xĩ, lượm lặt trái cây rụng đem về làm lễ vật cúng Phật và cũng để làm quà[57].

    Nếu là đêm thanh vắng, ta ngắm vầng trăng qua song cửa, cảm khái nhớ đến bạn bè xưa và những người đã khuất. Mỗi khi nghe tiếng vượn kêu thương thì lệ ướt đầm tay áo[58]. Nhìn đom đóm chập chờn trong cỏ rậm mà ngỡ ánh lửa chài[59] phía đảo Makinoshima xa thẳm. « Tiếng mưa rơi buổi sáng nghe như tiếng gió rung cành lá »[60]. Nghe chim núi hót bi ai tưởng như tiếng cha tiếng mẹ nhắn gì mình. Khi mấy con nai sống trên đỉnh núi thân thuộc quen hơi đến chơi, mới thấy mình đã xa rời cõi tục đến ngần nào rồi. Lúc ngồi cời than trong lò, ngọn lửa bùng lên như đánh bạn với người già chợt thức giấc giữa đêm khuya. Trong núi không có gì hãi hùng nên cả đến tiếng cú rúc (vốn khó ưa) cũng làm ta thích thú. Cảnh sắc trên non cao theo thời tiết mà biến chuyển muôn màu muôn vẻ. Huống chi, đối với kẻ đã biết sống trầm tư hiểu được đạo lý sâu xa thì cảm xúc về sinh hoạt ở đây đâu chỉ giới hạn trong những điều vừa kể.

    10- Suy nghĩ về cuộc sống thảo am :

    Thật ra, khi ta dọn đến đây, cứ tưởng mình sẽ nán lại ít lâu nhưng không ngờ năm năm đã vèo trôi. Dần dần cuộc sống ở cái am tạm bợ này cũng thành quen, bên hiên lá mục chất dày, ngạch cửa rêu đã mọc xanh. Đôi khi nhân khi có tin tức kinh đô vọng tới, mới biết rằng kể từ khi ta thu hình vào góc núi Hino này, có rất nhiều vị hiển quí đã lìa bỏ cõi đời, và dĩ nhiên là có bao nhiêu thường dân vô danh cũng ra đi trong khoảng thời gian đó. Và làm sao mà đếm cho hết những ngôi nhà bị hũy hoại vì các trận hỏa hoạn thường xuyên xảy ra. Chỉ có cái am tạm bợ của ta là chỗ yên ổn duy nhất. Tuy diện tích của nó không là bao nhưng đêm đến ta có chỗ ngã lưng, ngày có chỗ ngồi. Chừng đó quá đủ cho kẻ sống một thân một mình. Con ốc mượn hồn thích sống trong một vỏ ốc con, bởi vì chúng tự biết mình muốn gì. Con ó biển không rời bãi biển vắng chẳng qua chúng sợ người ta bắt. Hoàn cảnh ta nào có khác gì. Ta hiểu lý do tại sao ta phải sống trong am này, ta lại hiểu rõ người đời. Ta không cầu mong nhà cao cửa rộng, cũng không ham chạy đua theo thế tục, chỉ bằng lòng với cuộc sống thanh tĩnh và nghĩ rằng hạnh phúc nằm ở trong chỗ không có mối lo âu.

    Nhìn chung, khi con người xây nhà, chưa chắc họ đã xây vì mình. Đôi khi họ xây cho vợ con, thân thích, bạn bè. Cũng có lúc họ xây cho các bậc vua chúa, các vị chủ vị thầy, hay xây để chứa tài vật, bò ngựa. Còn ta, ta kết cỏ dựng cái am này chỉ dành cho ta chứ không vì ai khác. Lý do là trong cuộc đời biến đổi không ngừng này và trong hoàn cảnh cá nhân hiện tại, không có ai ở quanh ta, từ vợ con đến kẻ ăn người ở. Nếu ta dựng lên một căn nhà to rộng, hỏi sẽ dùng để chứa ai, đặt ai vào đó.

    Trong mối liên hệ bạn bè, con người ta thường kính trọng bạn giàu, nhất là những kẻ tỏ ra gần gũi tử tế với họ. Thiên hạ chưa chắc đã biết quí những kẻ biết thương người hay tính tình ngay thẳng. Riêng ta thì bạn bè của ta không gì hơn là âm nhạc và phong cảnh thiên nhiên. Trên đời này, kẻ đem thân hầu hạ chỉ tỏ ra hết lòng phục vụ những ai cấp cho mình nhiều bổng lộc quà cáp chứ chắc chắn là không cần có cuộc đời êm đềm thanh tĩnh bên cạnh một kẻ thích giúp đỡ và biết thương người. Vì vậy không gì hay hơn là tự mình hầu hạ lấy mình. Trong bất cứ trường hợp nào, khi bắt buộc phải nhờ vả ai làm chuyện gì, không gì hay hơn là tự nhờ vả mình cái đã. Có mệt xác đấy chớ chẳng phải chơi nhưng so ra còn khỏe cái đầu hơn là phải sai bảo ai hay nhờ ai giúp đỡ. Nếu cần có chuyện phải chạy việc thì cứ sử dụng đôi chân của mình. Khổ thì có khổ nhưng sao bằng cái khổ bám víu lấy bò ngựa, xe cộ, yên cương.

    Hiện nay, ta chia thể xác của mình ra làm hai phần dành cho hai hoạt động. Đó là tay để bảo làm và chân để bảo đi. Hai loại người làm này hoàn toàn đầy đủ và thỏa mãn được tâm ta rồi. Vì tâm ta hiểu được cái nhọc nhằn của thân xác cho nên khi thân xác nhọc nhằn, ta cho nó nghĩ ngơi, khi thân xác cứng cáp thì ta sử dụng. Dù gọi là sử dụng nhưng chỉ đôi lúc thôi chứ không bao giờ quá đáng. Những khi thân xác mệt mỏi và nặng nề, tâm ta cũng không bực bội. Hơn nữa, nhờ có dịp chạy đi chạy lại và lao động thường xuyên, thân xác càng thêm tráng kiện. Thế thì việc gì phải để thân xác nghĩ ngơi quá lố. Cái việc bắt người khác phải lao khổ vì mình mới là điều tội lỗi. Cứ phải mượn sức người có gì gọi là hay đâu.

    Về phục sức và ẩm thực thì ta cũng theo một lối nghĩa là áp dụng phương pháp tự lực sinh tồn. Áo tơ áo gai để mặc khi đi ngủ có thế nào thì dùng thế ấy, chỉ cần để che thân. Thức ăn là rau hái ngoài đồng hay hạt nhặt trên núi, chỉ cần đủ duy trì sự sống. Vì không giao thiệp với người đời ta chẳng có gì để xấu hỗ vì hình dáng bên ngoài của ta. Thức ăn không đủ dùng nhưng cứ nghĩ đó là cái quả báo kiếp trước, nên món tầm thường cũng lấy đó làm ngon.

    Thái độ vui sống với cuộc đời như vậy không đáng đem ra phô trương trước những người có cuộc sống sang trọng. Chuyện này chỉ liên quan đến mỗi mình ta khi đem so sánh hai quãng đời, xưa kia đối với bây giờ, trước và sau khi vào sống trong vùng núi Hino.

    11-Cái thú sống ở thảo am :

    « Từ khi ta xa lánh cõi đời, và chọn cuộc sống ẩn dật, ta cảm thấy không có gì oán hận hay lo âu nữa. Ta phó mặc cuộc đời cho định mệnh, không ước mơ gì, không cầu sống lâu, không mong chết sớm. Ta xem cuộc đời mình như đám mây lúc hợp lúc tan cho nên không gửi gắm hy vọng cũng như tìm ra thất vọng nơi nó nữa. Niềm vui thỏa của ta là ngã lưng đánh một giấc trưa bình yên, và tất cả tham vọng một đời là được ngắm cảnh vật thay đổi theo bốn mùa »[61].

    Cái gọi là ba thế giới[62] chính ra tùy thuộc ở lòng mình. Nếu tâm ta không yên ổn thì của cải như voi ngựa hay đồ quí báu chẳng có ích gì mà kiến trúc như lầu gác thành quách cũng không phải là vật đáng ước muốn.Hiện nay, nơi trú ngụ nhàn tĩnh nghĩa là cái am con vỏn vẹn một phòng này là vật mà ta cho là quan trọng hơn cả. Cũng có lần ta lên kinh đô, hỗ thẹn vì hình dáng ông sư khất thực của mình, thế nhưng, khi từ đó trở về am, lại thấy chính những người đang sống bon chen trong vòng danh lợi phiền toái ở kinh đô mới là kẻ đáng tội nghiệp.

    Nếu người đời còn nghi ngờ những điều ta nói thì cứ xem lũ cá, lũ chim. Cá sống trong nước không bao giờ chán nước[63]. Phải là cá thì mới hiểu cái tâm tình này. Chim không muốn gì hơn là sống trong rừng[64]. Chỉ là chim mới biết vì sao. Những cái thi vị của lối sống nhàn tĩnh[65] cũng thế, người ta chỉ thấm thía khi sống cuộc đời đó.

    12- Phủ định cuộc sống lánh đời :

    Ôi, như ánh trăng tà lặn về hướng tây, đã đến chỗ giáp ranh với đỉnh núi rồi và sẽ bị núi che khuất đi, cuộc đời của ta đang ngã bóng chiều. Trước khi đi vào thế giới u minh của cõi Tam Đồ[66], ta còn than trách tiếc hận gì về những hành vi của mình chi nữa. Điều căn bản trong những lời Đức Phật dạy con người là không nên chấp trước với bất cứ điều gì ở thế gian. Ngay cả chuyện ta quyến luyến cái am con này là một điều tội lỗi và việc ta bấu víu vào cuộc sống cô đơn nhàn tĩnh cũng là trở ngại để được siêu sinh. Làm sao ta lại có thể dùng thời giờ quí báu còn lại để làm chuyện vô ích là kể lể cái cảnh nhàn cư này.

    Có một sáng tinh sương, ta suy nghĩ rất lung về điều nói trên rồi tự hỏi lòng mình : « Nếu mi xa lánh cuộc đời, vào sống giữa núi rừng là muốn giữ cho tâm hồn lắng dịu để có thể tu tập theo con đường của Đức Phật. Thế nhưng, tuy bên ngoài mi có dáng dấp của một vị chân tu, trong lòng mi vẫn đầy nhơ bẩn vì phiền não. Chỗ mi ở thật không khác cái am vuông của Jômyô Kôji[67] nhưng việc mi làm chưa chấm được gót của Shuri Handoku[68] đáng thương kia. Không hiểu có phải kiếp trước mi có quá nhiều nghiệp chướng cho bây giờ bị quả báo nghèo khổ. Hoặc giả vọng tâm mê lầm đã tạo những điều phiền não làm rối loạn đường tu của mi ».

    Khi ta tự đặt cho mình những câu hỏi ấy, lòng ta hoàn toàn không tìm ra câu trả lời. Rốt cuộc, nó mới đủ sức lay động để thoát ra bằng đầu lưỡi[69] ta hai ba bận câu Nam Mô A Di Đà Phật.

    Ta, kẻ xuất gia tên gọi Ren.in[70], đã viết những cảm nghĩ này trong thảo am ở Toyama vào cuối tháng ba năm thứ hai niên hiệu Kenryaku[71].

    « Trăng kia có sáng nhưng buồn cho nó sẽ phải khuất sau nếp núi.

    Cầu mong sao chúng ta có thể thấy ánh sáng vĩnh cửu ! » [72]


    --

    [1] Theo cách miêu tả của Chômei trong bài thì căn phòng của ông vuông vức, mỗi bề khoảng 3 mét, cao khoảng 2,1 mét. Tuy nhiên “phương trượng” cũng là một chữ của nhà Phật thấy trong kinh Duy Ma, chỉ chung chỗ ở của nhà tu hay chính bản thân nhà tu.

    [2] Viết chữ Hán là Áp, Trường Minh. Đọc là Chômei thì trang trọng hơn là Naga.akira.

    [3] Shun.e (Tuấn Huệ, 1113- ? ) tăng ở chùa Tôdaiji. Dòng dõi quí tộc Minamoto, có tập Rinyô Waka-shuu (Lâm Diệp Hòa Ca Tập).

    [4] Thiên Tải Hòa Ca Tập (1183) , một tập thơ quốc âm soạn theo chiếu chỉ thiên hoàng. Gồm 20 quyển. Nội dung được cho là ôn nhã diễm lệ và u tịch.

    [5] Waka là thơ quốc âm Nhật bản có 31 âm. Renka là waka khổ dài cos khi đến hàng trăm câu do nhiều người nối nhau làm.

    [6] Chữ Hán viết là Trung Nguyên, Hữu An.

    [7] Fujiwara no Teika (Đằng Nguyên, Định Gia, 1162-1241), con trai Shunzei (Tuấn Thành, 1114-1204).

    [8] Vô Danh Sao. Còn gọi là Vô Minh Sao, Áp Minh Sao, Trường Minh Vô Danh Sao.

    [9] Phát Tâm Tập. Có bản gồm 8 quyển 102 truyện, có bản gồm 5 quyển 62 truyện.

    [10] Việt Nam có Dục Thúy Sơn Linh Tế Tháp Ký (Trương Hán Siêu), Thanh Hư Động Ký (Nguyễn Phi Khanh), Mai Đình Mộng Ký (Nguyễn Huy Hổ) vv…

    [11] Theo thứ tự: Phú Sĩ Sơn Ký, Thư Trai Ký, Đình Tử Viện Tứ Ẩm Ký, Trì Đình Ký. Để tránh rườm rà, xin lược tên tác giả.

    [12] Viết theo âm Hán là Khánh Từ Bảo Dận ( ? – 1002) văn nhân giai đoạn giữa thời Heian. Tên thật là Kamo, làm quan soạn sắc chiếu cấp cao trong cung. Học Sugawara no Fumitoki (899-981), một học giả cung đình lỗi lạc. Văn chương Yasutane điêu luyện. Sau xuất gia, pháp danh là Tịch Tâm.

    [13] Ảnh hưởng xa của Trì Thượng Biên và Thảo Đường Ký của Bạch Cư Dị cũng cần được nhắc tới. Dấu ấn của ông Bạch lên văn học Nhật Bản vô cùng quan trọng.

    [14] Bản chùa Daifukukôji, bản gia đình Maeda, và bản gia đình Sanjônishi (tàng trữ tại đại học Gakushuuin).

    [15] Để đọc cho thoáng, chúng tôi theo gương Yasuraoka chia bản dịch thành những tiểu đoạn với tựa đề do ông đặt ra.

    [16] Có thể đã lấy ý câu trong Luận Ngữ :“Thệ giả như tư phù, bất sả trú dạ” (Nước chảy mãi thế này ư, ngày đêm không ngừng nghĩ) và câu trong Văn Tuyển (quyển 16) của Lục Sĩ Hành (bài tựa cho Thán Thệ Phú tức bài phú than cho cuộc thế chuyển vần).

    [17] Theo ý thơ của Kakimoto no Hitomaro (Man.yôshuu quyển 7) than cho đời người giống như bọt nổi trên dòng nước.

    [18] Chỉ Heian (sau là Kyôto, kinh đô Nhật Bản từ 794 đến 1868).

    [19] Năm An Nguyên thứ ba (1177).

    [20] Có dịch giả hiểu là nhà rạp cất tạm cho người bệnh (bản R.P. Sauveur Candau). Yanase Kazuo cũng có nêu giả thuyết này.

    [21] Năm Trị Thừa thứ tư (1180).

    [22] Đơn vị đo lường. Một chô ngang với 109m. Còn có nghĩa là xóm.

    [23] Nghiệp phong. Phong tai cùng với hỏa tai và thủy tai họp thành tam tai sẽ diễn ra trong ngày tận thế.

    [24] Quyết định thiên đô về vùng biển Fukuhara, nay là một phần của thành phố Kobe năm 1180. Do lệnh của quyền thần Taira no Kiyomori (1118-1181). Đương kim thiên hoàng, Antoku (1178-1185), cháu ngoại ông ta, lúc đó chỉ là một cậu bé mới có 4 tuổi.

    [25] Thực ra Kyôto đã là kinh đô từ đời Thiên Hoàng Kammu (tại vị 781-806), cha của Saga (tại vị 809-823).

    [26] Đây chỉ là ý kiến của Chômei. Lý do Kiyomori thiên đô có thể nhằm tránh mũi nhọn của thế lực Minamoto đang tiến chiếm kinh đô. Gần đây có thuyết cho rằng ông muốn dời đô ra một hải cảng để thuận tiện cho việc mậu dịch với Trung Quốc.

    [27] Sông Yodo phát nguyên từ hồ Biwa chảy ra vịnh Naniwa (Ôsaka bây giờ). Nối với Kyôto bằng hai con sông nhỏ Kamo và Katsura, nó là trục giao thông đường thủy giữa kinh đô cũ Kyôto và kinh đô mới Fukuhara.

    [28] Ngựa dễ di chuyển hơn xe bò (công khanh hay dùng) chậm chạp.

    [29] Miền Tây Nam là cơ sở của họ Taira. Đông Bắc đã rơi vào tay những kẻ đối đầu nghĩa là tập đoàn Minamoto.

    [30] Settsu là tên của một quận huyện cũ bao gồm Naniwa và Fukuhara.

    [31] Gọi là Kinomaru-dono, hành cung của thiên hoàng Saimei (Tề Minh) cất ở Chikuzen trên đảo Kyuushuu, vốn làm bằng thân gỗ thô chưa đẽo gọt.

    [32] Sự tích về vua Nghiêu, có chép lại trong thiên Ngũ Đố (Năm Loại Mọt) sách Hàn Phi Tử , Sử Ký Tư Mã Thiên và nhiều sách khác.

    [33] Sự tích Thiên Hoàng Nintoku ghi trong Nihon Shoki.

    [34] Năm Dưỡng Hòa (1181-1182), tuy là 2 năm nhưng niên hiệu này chỉ kéo dài có 10 tháng.

    [35] Nhân Hòa Tự, ở ngoại ô bắc kinh đô.

    [36] Tên chữ Hán là Long Hiểu. Một nhà sư gốc gác quí tộc.

    [37] Chữ 阿 (A) trong tiếng Phạn có nghĩa “căn nguyên của vạn vật” tượng trưng cho nguyên lý “bất sinh bất diệt”.

    [38] Sutoku-in (Sùng ĐứcViện, tại vị 1123-1141), một thiên hoàng đảo chánh nhà chúa không thành, bị phối lưu trên đảo Shikoku.

    [39] Niên hiệu Trường Thừa (1132-1135).

    [40] Niên hiệu Nguyên Lịch (1184-1185).

    [41] Đoạn ghi trong ngoặc kép này không thấy có trong bản dịch của Yasuraoka. Sauveur Candau và Yanase Kazuo đều dịch nó nhưng Yanase đã phụ chú về việc có các dị bản. Xem văn từ và nội dung thì đoạn này không có gì xuất sắc, chưa chắc đã do chính Chômei viết.

    [42] Tề Hành (885) dưới đời Thiên Hoàng Montoku (Văn Đức).

    [43] Tức tượng Đại Phật bên ngôi chùa Đông Đại Tự ở Nara.

    [44] Đại Nguyên, thung lũng năm giũa vùng núi non phía tây bắc Kyôto.

    [45] R.P. Sauveur Candeau dịch là “người đi săn”.

    [46] R.P. sắp xếp nhà cửa của Chômei theo một thứ tự khác.

    [47] Vãng Sinh Yếu Tập (985), trước tác của tăng Genshin (Nguyên Tín, 942-1017) phái Thiên Thai.

    [48] Có nghĩa là bìa rừng, ven núi.

    [49] Tức hoa fuji (wisteria, glycine), một loài hoa giây màu tím mát rất nên thơ, khi gió thổi trông như sóng gợn (fujinami). Được người Nhật yêu thích không kém gì hoa anh đào.

    [50] Tên vùng đất cũ trong xứ Yamashiro, nay thuộc Uji gần Kyôto.

    [51] Chữ gọi tắt của Manzei.shami (Mãn thệ sa di) khúc hát của một sa di tên Manzei, trước là quan đại thần, đã thế phát quy y nhưng chưa dứt lòng trần, lại đèo bòng vợ con.

    [52] Đô đốc Minamoto tức Minamoto no Tsunemoto (Nguyên, Kinh Tín, 1016-97), một đại thần hào hoa, bác học đa tài, giỏi văn chương, sành âm luật. Ông thiện nghệ về đàn tỳ bà, trường phái của ông gọi là “Quế Lưu”. Ở đây Chômei muốn nhắc đến Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị.

    [53] “Vui gió thu”Shufuuraku (Thu Phong Lạc). Tên một khúc nhã nhạc.

    [54] “Suối chảy”Ryuusen (Lưu Tuyền). Một khúc tỳ bà bí truyền.

    [55] Nhà thơ mù, giỏi đàn tì bà, sống đầu thời Heian, tương truyền dòng dõi hoàng tộc.

    [56] Một trong 36 ca tiên thời Heian, một nhân vật có tính truyền thuyết.

    [57] Có lẽ làm quà cho người quanh vùng.

    [58] Ba Đông tam giáp Vu Sơn trường. Viên minh tam thanh lệ chiêm thường ( Ba Đông ba kẽm, Vu Sơn dài. Vượn hú ba lần, áo lệ đầy) (Cổ Nhạc Phủ).

    [59] Kagaribi có thể hiểu là lửa thuyền chài hay lửa tuần đêm.

    [60] Câu này chỉ có trong bản của R.P. Sauveur Candau và xét ra cũng không có gì đặc biệt. Xin tồn nghi.

    [61] Đoạn này chỉ có trong bản của R.P. Sauveur Candau và khi chuyển sang đoạn sau thấy hơi thiếu tự nhiên.

    [62] Tam giới: chữ nhà Phật nói về ba trạng thái tâm lý trong con người : dục giới, sắc giới và vô sắc giới . Một bài kệ trong Kinh Pháp Hoa có câu: Tam giới duy nhất tâm, Tâm ngoại biệt vô pháp.

    [63] Xem đối đáp giữa Trang Tử và Huệ Tử trong sách Trang Tử (thiên Thu Thủy). “Anh không phải là cá sao biết cá sướng!” vv…

    [64] Ý thơ điền viên của Đào Tiềm trong Đào Uyên Minh Tập: Kỳ điểu luyến cựu lâm, Trì ngư tư cố uyên.”Chim xa rừng thương cây nhớ cội”vv…

    [65] Nguyên văn “nhàn cư khí vị”. Thơ Bạch Lạc Thiên có câu: Nhân gian vinh dược nhân duyên thiển, Lâm hạ u nhàn khí vị thâm. Nhà thơ Nhật Ôe no Koretoki (Đại Giang, Dĩ Ngôn) cũng có câu: Nhàn trung khí vị thuộc thiền phường. Duy đắc tự nhiên nhật nguyệt trường.

    [66] Ba con đường (tam ác đạo) đưa đến chỗ xữ hình dưới âm ty mà kẻ ác phải đến: địa ngục đạo, súc sinh đạo, ngạ quĩ đạo.

    [67] Tức Tĩnh Danh Cư Sĩ, tên chữ Hán của ngài Duy Ma Cật, tăng sĩ Ấn Độ. Tăng phòng bên nước đó cũng vuông vức mỗi bề khoảng một trượng. Ý nói hai người giống nhau về hình thức nhưng không giống về nội dung.

    [68] Tên Hán là Chu Lê Bàn Đặc, một trong 16 La Hán, học trò của Đức Thích Ca lúc ngài còn tại thế. Có người anh thật thông minh nhưng riêng ông thì từ lúc sinh ra đã cực kỳ ngu độn, học trước quên sau, một bài kệ ba tháng chưa thuộc. Sau bỗng nhiên khai ngộ, chứng quả A La Hán.

    [69] Thiệt căn, một trong lục căn (nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý), cửa ngõ của tâm hồn.

    [70] Liên Dận. Liên là chữ đầu trong tên hiệu mà các tăng phái Tịnh Độ thường dùng.

    [71] Kiến Lịch, năm thứ 2 (1212), Chômei 58 tuổi.

    [72] Hai câu này chỉ có trong bản của R.P. Sauveur Candau.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  4. #4
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    BUỒN BUỒN PHÓNG BÚT

    (ĐỒ NHIÊN THẢO - TSUREZURE-GUSA)

    Urabe Kenkô



    Tượng Urabe Kenkô (ảnh Gallimard)


    Nguyễn Nam Trân
    dịch, chú và khảo dị


    LỜI GIỚI THIỆU


    I) TIỂU TRUYỆN TÁC GIẢ:

    Tác giả “Buồn buồn phóng bút” Tsurezure-gusa,[1] ẩn sĩ Urabe Kenkô[2], còn được gọi là Yoshida[3] Kenkô, nhưng đó là tên người đời sau đặt cho ông. Kenkô là cách đọc theo lối Hán tên cúng cơm Kaneyoshi. Chữ Kane (Kiêm) là do Thiên Hoàng Ichijô (trị vì từ 987 đến 1011) ban cho Urabe Kanenobu, một cụ tổ của gia đình ông sống vào thế kỷ thứ 10.

    Gia đình Urabe Kenkô đời đời làm chức quan giữ đền thần Hirano và Yoshida. Ông thuộc dòng thứ, chi nhánh phụ trách ngôi đền thứ hai. Tuy nhiên, trong chi, nhiều người ra làm quan hơn là giữ đền thần và lại còn đi tu Phật. Người anh cả của ông là tăng Jihen[4], thông minh bác học, đứng đầu hàng giáo phẩm phái Tendai, đã để lại nhiều công trình nghiên cứu giá trị về sử học (3 tập kể lại cuộc chiến đấu chống Nguyên Mông) và nghi lễ (10 tập luận về nghi thức trong triều). Người anh thứ hai, Kaneo làm quan tham nghị về thuế vụ. Kenkô là con trai thứ ba. Ông ít đả động đến gia đình, tuy có nhắc đến cha mình (Kaneaki, quan tham nghị về hộ tịch) trong đoạn cuối cùng (đoạn 243) của Tsurezure-gusa nhưng đó chỉ là ngoại lệ.

    Kenkô sinh khoảng năm 1283 và có lẽ mất năm 1350, hưởng thọ chừng 67 tuổi. Nói là “khoảng”, “có lẽ” và “chừng” vì không có chứng cứ nào hoàn toàn thuyết phục. Sau khi đến tuổi thành nhân, quãng đời thế tục của Kenkô cũng không để lại nhiều chi tiết. Chỉ biết ông làm chức Kuroudo[5], hàng lục phẩm, theo hầu đại thần Horikawa Tomomori thuộc họ Koga (có nơi phiên âm là Kuga). Sau khi Thiên Hoàng Go-Nijô tức vị, ông được ngoại thích Koga tiến cử vào cung làm việc vì mẹ thiên hoàng vốn là con gái của đại thần Tomomori. Lúc đó ông mới khoảng 19 tuổi. Có lẽ tình cảm gắn bó với vương triều và hoài niệm đối với lễ nghi tập tục cổ xưa thấy trong Tsurezure-gusa đã bắt đầu nhen nhúm từ thời gian này chăng?

    Sau sáu năm làm việc trong cung, Kenkô được phong Sahyô Enosuke[6], một tước quan võ. Thế nhưng chẳng bao lâu, Thiên Hoàng Go-Nijô qua đời đột ngột ở cái tuổi 24, ngôi vua truyền cho tân quân tức Thiên Hoàng Hanazono (1308). Đế vị dòng Daikakuji (sau là Nam Triều đóng đô ở Yoshino) như thế đã chuyển qua tay dòng Jimyôin (sau là Bắc Triều ở Kyôto). Một phần có lẽ xúc động mạnh vì cuộc đổi thay, một phần vì đã mang sẵn tư tưởng yếm thế, ông bèn từ chức. Vài năm sau, ông bỏ đi tu Phật và được gọi là Kenkô Gobô[7]. Như thế, sinh hoạt ẩn cư bắt đầu vào thời điểm ông xấp xỉ 30 tuổi.

    Tuy vậy, ông không khỏi cảm thấy có sự dằng co giữa cuộc sống ẩn dật với quãng đời cũ nên từ khoảng trên 40 tuổi trở đi, ông lại hồi kinh và góp mặt với làng thơ. Năm 1320, một bài waka của ông đã được tuyển vào Shoku-Senzai-shuu[8], tập thơ soạn theo sắc chiếu. Trong giai đoạn này, ông gắn bó với trường phái thơ waka Nijô của thầy ông là Nijô Tameyo[9] và đóng góp nhiều trong việc giữ gìn truyền thống của nó.

    Năm ông ngoài 50, đất nước Nhật Bản kinh qua nhiều cuộc biến loạn quân sự lẫn chính trị quan trọng. Các tướng lãnh xuất thân từ cửa họ Hôjô ở Kamakura vừa xây dựng xong mạc phủ Muromachi lại trở giáo đánh nhau. Triều đình chia đôi Nam, Bắc, hết đối lập, giảng hòa rồi lại đối lập. Kenkô không phải không chịu hậu quả của những cuộc tranh chấp đó nhưng nói chung, hoạt động chủ chốt trong sinh hoạt của ông lúc này là thi ca.

    Điểm cần chú ý là liên hệ của ông với các yếu nhân thời cuộc khi ông đã ngoài 60. Qua các hoạt động văn bút, ông đi lại với các quân nhân quyền thế như anh em Ashikaga Takauji và Ashikaga Naoyoshi, Kô no Moronao[10], nhiều khi được sự bảo trợ của họ, tham dự vào cả những hoạt động bên lề chính trường. Những hành động này cũng gây ra nhiều điều tiếng không tốt như giai thoại ông viết thư tình hộ Moronao (1336).

    Kenkô mất ở đâu thì không ai rõ[11]. Cả năm ông mất cũng thế. Sách Shoji Kakochô nói về lịch sử các chùa chiền chép là ngày mồng 8 tháng 4 năm 1350, lúc 68 tuổi (ta). Nhờ đó người ta mới suy ra là ông sinh năm 1283, tức hai năm sau có trận bão Thần Phong (Kamikaze) quét sạch chiến thuyền quân Mông Cổ. Tuy nhiên có những tư liệu khác cho thấy ông sống đến 70 hay cả sau đó nữa.

    Tuổi thọ khá cao so với người thời đó, nhiều kinh lịch, đầu óc lanh lợi hiếu kỳ, ngòi bút bén nhọn như thế nhưng ông không để lại nhiều tác phẩm. Ngoài tác phẩm văn xuôi “Buồn buồn phóng bút” Tsurezure-gusa này, chỉ nghe nói tới tập thơ riêng Kenkô Hôshi Kashuu[12], và chừng hai mươi bài waka khác đăng tải trong các tập thơ soạn theo sắc chiếu. Tập Kokinshô[13] được nhắc đến như một tác phẩm khác của ông nhưng không ai tìm ra dấu vết của nó.

    Về mặt học vấn, thời trẻ Kenkô có thể đã được hấp thụ kỹ càng văn hóa Trung Hoa vì qua những gì ông viết, ông tỏ ra am hiểu Khổng giáo lẫn Lão giáo. Tuy nhiên ông chỉ dùng kiến thức đó để dẫn chứng chứ cơ sở tư tưởng của ông là Thần Đạo và tập tục nghi lễ vương triều Nhật Bản. Một nguồn cội tâm linh khác trong đời Kenkô, dĩ nhiên là Phật giáo vì ông là tăng sĩ. Ông đã muốn tìm hiểu về nó từ lúc còn thơ (xem Tsurezure-gusa, đoạn 243).

    Học vấn của ông không chỉ đóng khung trong triết lý và văn chương hai nước Nhật Trung. Ông đã chứng tỏ mình là người có kiến thức quảng bác trong nhiều lãnh vực khác: âm nhạc (xem các đoạn 199, 219, 220), nghi thức điển lễ (các đoạn 48, 64, 65, 66, 95, 156, 158, 167, 178, 182, 196, 201, 203…), thư đạo, ngữ nguyên học (159, 160, 163), phong tục học (180, 181, 198, 200, 203, 204, 205, 214, 223, 225, 238), cung đạo (92, 122), kỵ mã đạo (145, 185, 186, 188).

    Ông là một nhà thơ có tầm cỡ, từng cố vấn cho thiên hoàng, hoàng gia và các đại thần. Được xưng tụng là một trong bốn trụ cột của thơ waka đương thời bên cạnh Tonna, Jôben, Keiun, tất cả đều là tăng sĩ và môn đồ của trường phái Mikohidari, xây dựng bởi đại thi hào Fujiwara no Shunzei (1114-1204), phát triển bởi con ông ta (Fujiwara no Teika, 1162-1241) và các cháu chắt (Tameuji, Tamenori, Tamesuke, Tameyo vv…).

    Cuộc đời tình ái của Kenkô hồi còn là người thế tục cũng ít được biết đến. Ông không nói rõ trong Tsurezure-gusa mà chỉ thổ lộ qua những vần thơ. Trong đám những người đàn bà quen biết, hình như có hai người để lại dấu ấn sâu đậm. Một người là nữ quan theo hầu hoàng hậu và mối tình này của ông hình như chỉ có một chiều. Người thứ hai cũng là một nữ quan nhưng hầu bà công chúa Enseimon.in. Tên gọi theo chức tước của nữ quan này là Ichijô Enseimon.in. Bà ta cũng tỏ ra rất thắm thiết với Kenkô qua vần thơ đáp lại nhưng hình như chết trẻ vì thấy Kenkô có làm thơ thương khóc bà.

    Charles Grosbois (C.G.) so sánh Kenkô với các nhà tư tưởng và bút ký người Pháp như Montaigne[14], La Bruyère[15], Pascal[16] và đã dành nhiều trang sách để phân tích và đối chiếu quan điểm của Kenkô với các ông ấy. Thế nhưng C.G. cho rằng người Nhật yêu mến Kenkô hơn người Pháp yêu mến Montaigne vì Kenkô có một tâm hồn nghệ sĩ, thấy được qua lối diễn tả trong trẻo, chân thành, đa dạng, nhạy cảm và nhân bản, làm người ta dễ gần gũi. Ông cho rằng Kenkô xứng đáng được gọi là nhà nghệ sĩ vì ông bảo, theo định nghĩa của George Sand[17], nghệ sĩ là “người có hơi hướm cuộc đời” (celui qui sent la vie).

    Học giả M.G. Sansom xem Kenkô như một kẻ bất mãn, không thích ứng được với cuộc đời mới mẽ bao quanh ông. Đối với Sansom, Kenkô trọng hình thức (formalist) và sự nhạy cảm mỹ thuật của ông có tính xuyên thời gian. Về thái độ sống của Kenkô, chuyên gia văn hóa này đã tóm tắt như sau: “Vì Kenkô là một văn nhân, ông không tiêu biểu cho thời đại của mình. Ông là người sống sót sau khi vượt qua những hiểm nghèo của bao cuộc đổi thay”.

    II) TÁC PHẨM:

    Tsurezure-gusa là tác phẩm độc đáo do một người lánh đời viết ra. Có thuyết cho nó có mục đích dâng lên làm quà cho một quí nhân nào đó. Nhưng dầu sao, cách viết tự do tự tại của nó như muốn chứng minh ngược lại lập luận ấy.

    Cuốn sách này được gọi là viết theo thể tùy bút (zuihitsu) nhưng thời Kenkô, người Nhật chưa nó gọi như thế. Dù vậy, hành vi hầu như xung động “mặc cho ngòi bút đưa đường, xé vứt đi cũng được, không cần phải làm phiền mắt ai” của Kenkô thật hợp với ý nghĩa của hình thức văn chương này.

    Về năm tháng Tsurezure-gusa ra đời, có nhiều thuyết nhưng có thể suy định đã được làm ra vào khoảng năm 1330, gồm 2 phần và qua nhiều giai đoạn tu chính, sửa đổi. Có nhiều bản truyền lại nhưng nói chung là các bản đều khá giống nhau. Có bốn bản chính được biến đến:

    - Bản Karasumaru Mitsuhiro (1579-1638, một văn nhân quí tộc) gọi tắt là bản Mitsuhiro là bản in (ấn bản) thông dụng nhất. In năm Keichô 18 tức 1613.
    - Bản Shôtetsu (1381-1459, tăng sĩ, thi nhân waka) là bản chép tay (tả bản) tối cổ.
    - Bản Tô no Tsuneyori (1401-1494, thi nhân waka) bản chép tay, có lối hành văn đặc biệt, chương đoạn phân chia khác các bản khác, còn nhiều nghi vấn.
    - Bản Hosokawa Usai (1534- 1610, võ tướng, thi nhân), bản chép tay trong khoảng năm Keichô (1596-1615). Nói là có cả nét bút của Usai nhưng còn đáng nghi ngờ.
    Theo C.G. bản của tăng Shôtetsu[18] có trước nhất (1431). Tăng là học trò của nhà thơ võ tướng Imagawa Ryôshun[19], người sống đồng thời với Kenkô. Tương truyền sau khi Kenkô chết ở Iga (theo thuyết này), Ryôshun đã cho Myôshô.maru, một người hầu cận từng quen biết với Kenkô, gom góp những gì viết trên giấy dán tường và mặt sau những cuốn kinh mà nhà ẩn tu để lại rồi sắp xếp lại thành hai tập thơ và hai tập tùy bút. Nếu thế thì cũng chưa biết ai mới là người đã đặt cho hai tập tùy bút kia cái tên Tsurezure-gusa.

    Những bản chép tay đầu tiên đều dựa trên bản của Shôtetsu. Đến đầu thế kỷ 17 mới có bản gọi là bản Saga của Sumikura Soan, in mộc bản với tranh và thư đạo của họa sư Kôetsu. Năm 1613, Karasuma Mitsuhiro mới cho in một bản khác có phê bình và nhuận sắc.

    Các phân đoạn bắt đầu có từ bản của thi sĩ Kitamura Kigin (1624-1705).

    Tsurezure-gusa gồm 243 đoạn dài ngắn chen lẫn nhau. Các đoạn 4, 192, 201 là những đoạn ngắn nhất, có chừng 20 chữ. Dài nhất là các đoạn 137 cũng chưa tới 1000 chữ. Tuy chúng là những đoạn lẻ tẻ nhưng có cảm tưởng đã được viết một lèo vì có nối kết với nhau bằng một dòng liên tưởng dễ đoán ra.

    Lối viết ung dung tự tại từ cách chọn đề tài, miêu tả, lý luận. Đôi khi có sự mâu thuẫn, xung đột giữa các đoạn và văn thể khá biến hóa như thể có nhiều người cùng viết. Có lúc viết như giảng đạo, có lúc viết kiểu thế tục. Có lúc chê trách, lúc mĩa mai, lúc hồi tưởng, lúc nhắc nhỡ, lúc lại như đang kể chuyện, than thở hay tâm sự. Trước đó, chưa thấy ai viết một cách đa dạng như thế.

    Đề tài của 243 đoạn rất phong phú, đả động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp mọi góc cạnh của cuộc đời. Từ cái ước mơ sinh trong gia đình quí tộc, đức kiệm ước, kinh nghiệm ái tình, sự quan tâm đến đạo Phật trong đời sống hàng ngày, cảnh ngộ thất ý, con cái vô dụng, lòng đam mê sắc dục, sự quyến rũ của phụ nữ, chỗ ở, những đòi hỏi đối với bạn bè, sự yêu chuộng sách vở đời xưa v.v… Nhiều khi chủ quan, độc đoán, đánh giá mọi vật theo cái yêu ghét của mình. Điều này cho ta thấy Kenkô là một người nhiều cá tính.


    BẢN DỊCH:

    Bản dịch ra tiếng Việt của chúng tôi tuy theo bản cổ văn nhưng thực sự đã tham khảo song song bản dịch sang kim văn của Giáo Sư Miki Sumito (S.M.). Giáo sư đã dùng bản cổ văn Karasumaru Mitsuhiro tức bản năm 1613 có trong bộ Nhật Bản Cổ Điển Toàn Thư in sau chiến tranh.

    Những lời chú thích và bình giảng phần lớn cũng đều trích dịch từ tác phẩm của giáo sư Miki. Là một học giả lỗi lạc chuyên về văn học trung cổ Nhật bản, ông sinh năm 1935, tốt nghiệp ban Tiến Sĩ Đại Học Đông Kinh, giáo sư danh dự Đại Học Sư Phạm Ochanomizu và hiện là khoa trưởng khoa văn Đại Học Quốc Tế Jôsai (Tôkyô).

    Ngoài tác phẩm cơ bản này, người dịch còn tham khảo các bản Anh (của GS Donald Keene,) (D.K.), Pháp (dịch giả Charles Grosbois và Yoshida Tomoko) (C.G.) và Việt (dịch giả Tùng Sơn) (T.S). Không nói cũng hiểu, người đi sau bao giờ cũng học hỏi được một điều gì tốt đẹp ở người đi trước. Sự gọn ghẽ, khoa học của D.Keene, sự uyên bác, chải chuốt của C. Grosbois và cách sử dụng tiếng Việt tinh tế và kiến thức Phật Giáo của Tùng Sơn cần được ghi nhận.

    Bản dịch chia làm bốn phần sắp xếp đúng theo thứ tự bản dịch của GS Miki Sumito:

    1) Phần I: Từ đoạn 1 đến đoạn 46.
    2) Phần II: Từ đoạn 47 đến đoạn 110.
    3) Phần III: Từ đoạn 111 đến đoạn 182.
    4) Phần IV: Từ đoạn 183 đến 243.


    THAM KHẢO:

    1) Grosbois, Charles & Yoshida Tomoko dịch Tsurezure-gusa của Urabe Kenkô, 1968, Les Heures Oisives, Connaissance de l’Orient, Gallimard, Unesco, Paris.

    2) Keene, Donald dịch Kenkô, 1967, Esays in Iddleness, The Tsurezure-gusa of Kenkô, Tuttle Publishing, Tôkyô, 1981.

    3) Miki, Sumito, 1979, chú dịch Tsurezure-gusa, 4 quyển, Kôdansha Gakujutsu Bunko, Tôkyô, bản in lần thứ 29, 2000.

    4) Tùng Sơn, 2005, Đồ Nhiên Thảo, chú dịch Tsurezuregusa của Kenkô, tác giả xuất bản, California, USA.

    5) Nguyễn Nam Trân, 2007, Tổng Quan Lịch Sử Văn Học Nhật Bản. Chương 7: Dòng văn học nhật ký và tùy bút, phần nói về Urabe Kenkô và Tsurezuregusa. Tư liệu trên mạng, chưa xuất bản.

    --

    [1] Âm Hán là Đồ Nhiên Thảo徒然草. Đồ nhiên 徒然có nghĩa là trạng thái buồn chán, thẩn thờ, trong khi thảo là viết tháu, quyển sách hay bản sơ khởi còn cần chữa lại. Tuy nhiên có bảnTsurezure-gusa trình bày thẳng với tựa đề bằng chữ hiragana (Tsurezure + Thảo つれづれ草; Tsurezure + Chủngつれづれ種). Thảo và Chủng đều đọc là Kusa.

    [2] Âm Hán Bốc Bộ, Kiêm Hảo hay Kiêm Hiếu. Bốc Bộ là dòng họ chuyên về bói toán (bốc phệ), liên quan đến tôn giáo lễ nghi.

    [3] Có thời ông về ở bên cạnh đền Kanshin.in ở Yoshida (vùng Kyôto).

    [4] Từ Biến, không rõ năm sinh năm mất. Tuy là tăng Phật Giáo nhưng tư tưởng lại thiên về Thần Đạo.

    [5] Âm Hán là Tàng Nhân, người làm ở Tàng Nhân Sở (Kurou.dokoro) tức cơ quan lo về nghi thức, tuyên chỉ, sớ tấu, xuất nạp và các tạp dịch bên cạnh thiên hoàng. Thường được xem như là một hàm danh dự.

    [6] Tả Binh Vệ Tá. Một chức quan võ phụ tá.

    [7] Gobô: ngự phòng. Tiếng tôn xưng một tăng lữ.

    [8] Tục Thiên Tải Hòa Ca Tập (20 tập). Tập waka đời thứ 21, ra đời năm 1320 do Nijô (Fujiwara) Tameyo soạn.

    [9] Nhị Điều (hay Đằng Nguyên) Vi Thế (1250-1338), tổ nhánh Nijô, trường phái waka đối lập với nhánh Kyôgoku của Tamekane.

    [10] Sứ Quân Túc Lợi Tôn Thị, em ông là Túc Lợi Trực Nghĩa và tướng của họ là Cao, Sư Trực. Sau này vì tranh chấp quyền lợi, anh em ruột thịt, chủ tớ sẽ giết hại lẫn nhau.

    [11] C.G. cho là ông mất trong một cái am ở vùng Narabigaoka, trên một ngọn đồi gần chùa Ninnaji (Kyôto) năm 1350.

    [12] Kiêm Hảo (Hiếu) Pháp Sư Gia Tập.

    [13] Cổ Kim Sao.

    [14] Michel (Eyquem) de Montaigne (1533-92).

    [15] Jean de la Bruyère (1645-96)

    [16] Blaise Pascal (1623-62)

    [17] George Sand (1804-76)

    [18] Chính Triệt (1381-1459), tăng sĩ và nhà thơ waka.

    [19] Kim Xuyên, Liễu Tuấn (1326-1414?), võ tướng và học giả về lý luận thơ waka.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  5. #5
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    PHẦN I ( ĐOẠN 1 ĐẾN 46 )


    Lời mở đầu

    Đoạn 1: Sinh ra ở đời.
    Đoạn 2: Các bậc vua hiền xưa.
    Đoạn 3: Dù cho được đủ mọi điều.
    Đoạn 4: Chuyện kiếp sau
    Đoạn 5: Kẻ chìm đắm trong nỗi buồn bất hạnh.
    Đoạn 6: Nếu thân danh ta cao quí.
    Đoạn 7: Không khô như sương trên cánh đồng Adashi.
    Đoạn 8: Cái làm rối loạn lòng người.
    Đoạn 9: Mái tóc đẹp.
    Đoạn 10: Sự hài hòa của nơi cư trú.
    Đoạn 11: Nhân “tháng không thần”.
    Đoạn 12: Bạn đồng tâm.
    Đoạn 13: Đối bóng ngọn đèn.
    Đoạn 14: Về thơ Waka.
    Đoạn 15: Cho dù cất bước đi đâu.
    Đoạn 16: Nhạc tế thần.
    Đoạn 17: Náu mình trong chùa trên núi.
    Đoạn 18: Cam cảnh thanh bần.
    Đoạn 19: Bốn mùa thay đổi.
    Đoạn 20: Người ấy tên gọi là chi nhỉ?.
    Đoạn 21: Vui là khi ngắm vầng trăng.
    Đoạn 22: Mến mộ đời xưa.
    Đoạn 23: Thời buổi suy vi.
    Đoạn 24: Truyện công chúa đi tu thế ra ở
    cung ngoài đồng.
    Đoạn 25: Đất lở đất bồi trên sông Asuka và đời vô thường.
    Đoạn 26: Gió dầu không cuốn, lòng cũng đổi thay.
    Đoạn 27: Lễ nhường ngôi.
    Đoạn 28: Trong năm Thiên Hoàng cư tang.
    Đoạn 29: Lặng lẽ suy tư.
    Đoạn 30: Nỗi buồn khi một người qua đời.
    Đoạn 31: Buổi sáng tuyết rơi.
    Đoạn 32: Khoảng ngày 20 tháng 9.
    Đoạn 33: Hoàn thành cung mới.
    Đoạn 34: Kaikô, một loại ốc loa.
    Đoạn 35: Người viết chữ xấu.
    Đoạn 36: Lâu ngày không đến thăm nàng.
    Đoạn 37: Người hết sức thân quen.
    Đoạn 38: Chạy theo danh lợi.
    Đoạn 39: Có người hỏi đạo ngài Hônen.
    Đoạn 40: Truyện ở xứ Inaba.
    Đoạn 41: Hội đua ngựa đền Kamo mồng
    năm tháng năm.
    Đoạn 42: Truyện con ông tướng Karahashi.
    Đoạn 43: Tiết cuối xuân.
    Đoạn 44: Từ bên trong phên trúc.
    Đoạn 45: Người anh quan nhị phẩm Kin.yo.
    Đoạn 46: Ven vùng Yanagihara

       
    Lời Nói Đầu:

    Những lúc rỗi rảnh đến nhàm chán[1], từ sáng đến chiều, ta đối mặt với nghiên mực, đang nghĩ chuyện này bắt sang chuyện khác, mặc cho ý tưởng trào ra đầu ngọn bút. Thấy mình thật vớ vẫn!


    Đoạn 1: Sinh ra ở đời.

    Chao ôi, con người[2] từ khi sinh ra ở đời, đương nhiên ai mà chẳng ước mong được thế này thế nọ. (Thế nhưng) trước hết, nói về địa vị, riêng cái ngôi thiên hoàng thì không ai dám. Các hoàng tử cho đến hoàng tôn cũng được kể vào hàng cành vàng lá ngọc[3], khác với dòng giống phàm tục, cần phải kính trọng. Người xuất thân nhà các quan đệ nhất đương triều[4] là dòng dõi cao sang thì đành rồi, nhưng ngay cả con cái cỡ bậc quí tộc được cấp kẻ để sai bảo đều vượt người thường. Đến đời con cháu các vị ấy, dù có sa sút[5], vẫn còn phong vận. Riêng những người cấp thấp hơn ở trong triều, ví dụ vì nhờ gia thế, tài năng hoặc thời buổi mà được mở mày mở mặt thì đó là hạng không đáng kể cho dầu họ nghĩ mình tài giỏi.

    Như địa vị tăng lữ thì chẳng mấy ai thèm ước mơ. Thầy tu là loại người mà bà Sei Shônagon[6] từng viết: “trơ như khúc gỗ”[7]! Quả đúng thế! Việc đạt danh vọng cao hay được người đời tán tụng, các nhà tu không biết đó là vinh dự. Cao tăng Sôga[8] có lần cho rằng đối với kẻ xuất gia, tiếng tăm chỉ đem đến ràng buộc vô ích, làm họ đi ngược lại điều Đức Phật dạy. Còn như nếu vượt khỏi thế gian, sống đời ẩn dật, dốc lòng tu niệm, thì tuy có bị người đời khinh thường nhưng điều mong ước của mình đã đạt được rồi.

    Người thường coi chuyện hình thù, vóc dáng tuyệt vời mới chính là điều đáng mong mỏi. Gặp kẻ có cách ăn nói êm tai, gãy gọn, dáng dấp dễ yêu một chút là ta sẽ ngồi tiếp họ không biết chán. Nhưng nếu con người nom thanh lịch kia bỗng nhiên một ngày lộ bản tính đê tiện thì đáng thất vọng.

    Gia thế hay cái dáng bên ngoài là những gì thừa hưởng từ lúc sinh ra, ta đành chịu. Nhưng tâm hồn thì nếu cố gắng trau giồi, càng ngày nó sẽ trở nên cao đẹp. Ngược lại, những ai dù hình thù dễ coi và tốt bụng chăng nữa, nếu thiếu tài nghệ, học vấn, khi phải bon chen giữa đám thân phận thấp hèn, nhân cách tồi tệ, chắc chắn sẽ bị khuất thân dưới tay người. Đó cũng là điều đáng tiếc cho họ.

    Nên học cái gì đây? Theo ta đó là cái vốn văn hóa gồm các kinh điển, thơ chữ Hán, thơ quốc âm waka, âm nhạc…Thêm nữa, về mặt kiến thức lễ nghi, chế độ, tổ chức hành chánh trong triều[9] nếu mình trở thành mẫu mực cho mọi người thì không còn gì hơn. Chữ đẹp mà văn lưu loát, giọng tốt và bắt trúng nhịp[10], khi được người mời nâng chén thì tuy ngoài mặt tỏ vẻ muốn từ chối nhưng thật ra không phải rượu không hào. Thế mới đáng mặt nam nhi.



    Đoạn 2: Các bậc vua hiền xưa.

    Những ai[11] kênh kiệu, chỉ giỏi tiêu xài hoang phí xa xỉ, không chút để ý đến tiếng dân ta thán và cảnh đất nước suy vong, quên hết đường lối cai trị lý tưởng của vị vua hiền đức thời xưa[12], là kẻ không còn biết phải trái.

    Ngài Kujô[13] từng răn con cháu: “Từ áo mũ đến xe cộ[14], có thế nào thì cứ thế mà dùng. Đừng đi tìm cái hoa mỹ”. Cựu hoàng Juntoku[15] khi viết về chuyện trong cung cũng có câu: “Về vật dụng áo xống của thiên hoàng, giản dị đơn sơ là hợp nhất”.



    Đoạn 3: Dù cho được đủ mọi điều[16].

    Dù cho được đủ mọi điều, đàn ông mà chưa có kinh nghiệm luyến ái thì coi như vẫn còn thiếu sót[17]. Nhìn người đó, thấy anh ta không khác gì cái chén rượu thật đẹp nhưng lại thủng đáy[18].

    Tức cười cho cái anh chàng cứ để quần áo ẩm ướt sương khuya, quanh quẩn đi tìm mà không ra bóng người con gái, tâm hồn rối như tơ vò, không lúc nào được bình tâm vì cha mẹ can ngăn, thiên hạ đàm tiếu. Tính hết kế này tới kế khác mà không xong, nhiều lúc cứ phải ngủ một mình và không ngon giấc[19].

    Có ham muốn tình yêu[20] đi nữa nhưng không nên hoàn toàn chìm đắm trong đó, phải để cho đàn bà biết mình không phải dễ bị họ chinh phục.



    Đoạn 4: Chuyện kiếp sau[21]

    Người đáng ca ngợi[22] là kẻ biết nghĩ tới kiếp sau, luôn luôn quan tâm sâu sắc với con đường tu Phật.



    Đoạn 5: Kẻ chìm đắm trong nỗi buồn bất hạnh.

    Kẻ chìm đắm trong nỗi buồn vì chuyện bất hạnh[23] không nên vội vàng làm những chuyện như cắt tóc đi tu mà phải về nhà ngày đêm đóng cửa sống một mình, không cho ai biết mình còn đó hay không. Phải có cái tâm tình giống như là trong cuộc sinh hoạt này, mình không còn mong đợi điều gì nữa.

    Quan tham nghị bậc trung Akimoto[24] có lần nói: Ta muốn nhìn vầng trăng sáng nơi bước lưu đày mà không cảm thấy có gì tội lỗi[25]”. Ta nghĩ có thể thấu hiểu được lời ông.



    Đoạn 6: Nếu thân danh ta cao quí.

    Trường hợp thân danh ta cao quí, chứ không nói đến kẻ thân danh tầm thường, thì cứ ở như vậy, đừng có con cái.

    Các ngài Tiền Trung Thư Vương[26], thái chính đại thần Kujô[27] , tả đại thần Hanazono[28] tất cả đều mong cho họ mình tuyệt tự. Đại thần Sômedono[29] cũng nói: “Không có con chả sao đâu. Có đứa con chẳng ra gì là chuyện bực không chịu được!”. Giai thoại này là đề tài cho một truyện trong tập “Ông già Yotsugi”[30]. Thái tử Shôtoku[31] khi cho xây sinh phần của mình có bảo: “Phải xén chỗ này. Phải chặt chỗ kia!” . Ta hiểu hình như ngài muốn đoạn tuyệt đường con cái[32].



    Đoạn 7: Không khô như sương trên cánh đồng Adashi

    Sương trên cánh đồng Adashi[33] khô ngay, khói núi Toribe[34] mới nhìn đã không thấy nữa thế mà con người không muốn mình biến mất như giọt sương, ngọn khói. Tuy nhiên, nếu cuộc đời cứ kéo dài vĩnh viễn thì còn gì đáng để xúc động[35] nữa. Chính vì đời vô thường nên nó mới tuyệt vời.

    Thử nhìn sinh vật muôn loài xem, có giống nào sống lâu hơn loài người. Phù du sáng sinh ra chiều đã chết đi[36], ve sầu sống chỉ nội mùa hè, nào có biết xuân thu[37], chúng là những con vật mà cuộc đời thật ngắn ngũi. Sống mà biết sống vui thỏa thì cho dù một năm thôi cũng đã thấy cuộc đời dài lắm rồi. Còn như cứ muốn mình sống mãi sống hoài, không sao thấy đủ thì nghìn năm chỉ thoáng qua như giấc mộng một đêm. Cuộc đời này sẽ phải biến mất đi lúc nào đó thôi, bám víu làm chi khi để thấy cảnh già nua xấu xí. Sống càng thọ càng mang nhục[38]. Cùng lắm thì nên chết lúc chưa tới bốn mươi là vừa đẹp[39].

    Sau đi qua cái tuổi đó rồi, con người không còn biết mắc cỡ vì hình dung xấu xí nữa, lại thích nhập bọn với người khác. Lúc đời xế bóng, họ muốn kéo dài tính mệnh để gần gũi con cháu[40], cầu mong sống thêm để chứng kiến tương lai của chúng lúc thành nhân. Họ chỉ đeo đẳng mỗi cái lòng dục mà quên phải sống cho ra hồn người. Những cảnh tượng như vậy thật không sao coi cho được.



    Đoạn 8: Cái làm rối loạn lòng người.

    Ở đời, cái làm cho cái tâm của người đàn ông rối loạn là dục vọng của họ đối với phụ nữ. Lòng người ta quả là ngu muội vậy. Cái hấp dẫn gây ra bởi giác quan nào có thực, ví dụ hương thơm [41]xông quần áo[42] chỉ là cái nhất thời, thế mà khi ngữi mùi lan xạ là không thể nào con tim không bấn loạn. Nhà ẩn tu[43] ở chùa Kume[44] đất Yamato thấy bắp chân trần trắng muốt của người con gái đang giặt đồ mà mất phép thần thông (nên đang bay bỗng) rơi xuống đất. Thật vậy, khác với hương phấn (không thực và không lâu dài), tay chân và làn da người con gái có cái đẹp màu mỡ của da thịt thiên nhiên, chả trách nhà tu hành kia đâm ra mê loạn.



    Đoạn 9: Mái tóc đẹp.

    Nơi người đàn bà, mái tóc đẹp[45] là cái thu hút tia nhìn của đàn ông hơn cả. Còn tính tình và phẩm cách của nàng, thì qua lời ăn tiếng nói, cho dầu mặt khuất sau bức mành[46], cũng có thể đoán biết được.

    Nhân một dịp nào đó, nếu dáng vẻ tự nhiên của họ chiếm được trái tim đàn ông, hầu như cô nào bà nào cũng sẽ thao thức mất ngủ, chẳng nề hà trước khổ cực, nhiều khi chịu đựng được cả những điều thường ngày không kham nổi, cũng chỉ vì họ đang tràn trề tình yêu.

    Thật vậy, dục vọng yêu đương của trai gái vốn có nguồn cội rất sâu xa. Con người ta nhận nhiều kích thích do lục trần [47] thành ra sinh nhiều điều ham muốn.Tất cả ham muốn đều có thể vứt được tất chỉ trừ tình cảm đối với người khác phái thì khó mà bỏ.Về điểm này dù cho già, trẻ, hiền, ngu, không ai khác ai cả.

    Cũng vì lý do đó nên mới có truyền thuyết là sợi dây thừng xe bằng lọn tóc của người đàn bà có thể cột được con voi khổng lồ[48], mà ống tiêu đẽo từ gỗ đôi guốc của người đàn bà có thể làm cho con nai mùa thu động tình đi tìm nai cái lần đến gần[49]. Cho nên phải tự răn mình, cẩn thận không nên lầm lạc mắc vào dục vọng đáng sợ đó.



    Đoạn 10: Sự hài hòa của nơi cư trú.

    Nơi cư trú của còn người thường hài hòa và thích hợp với người sống trong đó. Vì thế, dù ngôi nhà chỉ là nơi ở tạm trong cuộc đời biến ảo, ta thấy nó cũng có khi đem lại cho ta nhiều nguồn vui và cảm tưởng thích thú.

    Chỗ một con người thanh cao sống trong cảnh an nhiên tự tại thì ngay ánh trăng chiếu vào trong nhà cũng có cái gì nên thơ hơn một bậc. Nhà không cần loại trang trí bóng lộn thời thượng mà là nơi có những lùm cây hoang dại, cỏ trong sân mọc theo thiên nhiên, với những tấm mành tre và rào dậu để lơi là đầy phong vị cổ kính, làm cho mình cảm thấy thoải mái và lắng dịu khi nhìn.

    Nhiều người cho thợ mộc tận lực tu bổ nhà cửa, đặt những đồ chưng bày quí hiếm thu thập trong nước hoặc đến từ Trung Quốc, sửa sang nhân tạo cả những cây cỏ đã có, làm khung cảnh thành ra nhức mắt và không khỏi gây bực mình. Ai mà có thể sống mãi trong căn nhà đó, và ý tưởng đầu tiên đến với ta là nó có thể bị thiêu rụi một cách dễ dàng trong phút chốc. Tóm lại, chỉ cần nhìn một ngôi nhà, ắt biết chủ nhân của nó là người thế nào.

    Nơi phủ đệ của quan Tả Đại Thần Gôtokudaiji[50], vì không muốn cho diều hâu đến đậu, ngài đã cho giăng giây thừng trên mái tẩm điện. Tăng Saigyô[51] thấy thế mới bảo: “Diều hâu đến đậu thì đã có gì bất tiện! Ông quan này quả thật hẹp lượng”. Thế rồi từ đó nghe nói người không đến thăm đại thần nữa. Còn Hoàng tử Ayanokôji[52] thì trên nóc điện Kosaka[53] là nơi ngài ngự, một hôm cũng có giăng giây thừng. Nhân đó, khi ta nhắc đến chuyện xưa thì người ta có giải thích lý do như thế này: “Bởi vì lũ quạ tụ tập thành bầy trên đó có thể sà xuống ao giết hết ếch nhái. Hoàng tử thấy thế nên đem lòng tội nghiệp chúng”. Nếu như vậy thì hoàng tử thật là người đáng quí.

    Trường hợp của quan Tả Đại Thần Gotokuji thì không hiểu ông có duyên cớ gì đặc biệt chăng?



    Đoạn 11: Về “tháng không thần” [54].

    Tháng không thần (tháng mười âm lịch), nhân có việc đến thăm người ta, phải đi ngang qua cánh đồng Kurusu[55], vào tận một thôn làng ven núi. Khi đang vẹt lối bước đi trên con đường mòn xanh rêu và trải về xa tắp, ta thấy một cái am nhỏ quạnh hiu. Chỉ nghe tiếng nước giọt tí tách từ máng tre bị lá mục che phủ, ngoài ra chung quanh hoàn toàn tịch mịch.Vì có một cái giá bày biện sơ sài mấy nhánh hoa cúc và lá phong đỏ để cúng Phật, mới đoán chừng chắc có ai sống đâu đây.

    Ta lặng người nhìn không khỏi cảm kích. nghĩ thầm sao lại có người sống được nơi thanh vắng như thế này. Bên kia khu vườn, có một cây cam cành trĩu những quả to. Chung quanh thân cây được rào giậu kỹ lưỡng. Điều đó bất giác làm ta mất đi hứng thú. Phải chi không có cây cam này thì hay biết chừng nào[56].



    Đoạn 12: Bạn đồng tâm.

    Với những người có tâm hồn đồng điệu với mình, nếu ta có dịp được ngồi nói chuyện với nhau một cách thân mật, chia sẻ về điều gây hứng thú hay chuyện dâu bể cuộc đời, thực lòng tâm sự an ủi nhau thì không có gì vui sướng hơn. Tuy nhiên, trên thực tế thật khó tìm được kẻ như thế, thường là ta cứ phải giữ ý giữ tứ với người nói chuyện trước mặt mình.Những giây phút đó, ta cảm thấy buồn và cô đơn.

    Đối với những việc thế nào cũng phải làm cho ra lẽ, ta mong được có những người chịu khó lắng tai rồi nói “Không lẽ thế sao!” và cho những ý kiến tinh tế. Với họ, ta có thể tranh cãi: “Vì thế này nên nó phải thế kia!” hay ra sức thuyết phục họ và nhờ đó, đỡ ấm ức. Nhưng trên thực tế có rất nhiều người trước một việc gì không đồng ý, họ tỏ ra thuận thảo với ta đấy nhưng lòng vẫn mang nặng hiềm nghi. Đối với những kẻ ấy, trong lúc có mặt nhau, có thể nói chuyện cho xuôi tai, nhưng họ không phải là bạn thật của ta đâu. Thế mới đáng buồn làm sao!



    Đoạn 13: Đối bóng ngọn đèn.

    Mở trang sách dưới ngọn đèn, như được làm bạn với người muôn năm cũ, không có gì cảm thấy được an ủi cho bằng.

    Về các tác phẩm tuyệt vời đó hay phải kể đến những trang gây xúc động của Văn Tuyển [57], lời lẽ trong Bạch Thị Văn Tập [58], sách Lão Tử [59], thiên Nam Hoa [60]. Về trứ tác của các quan bác sĩ [61]nước ta, trong số sách các bậc tiền bối, nhiều cuốn đọc cảm khái vô hạn.





    Một nình đối bóng ngọn đèn (Đoạn 13)



    Đoạn 14: Về thơ waka[62].

    Dù ai bảo thế nào đi nữa, thơ quốc âm waka là cái gây được xúc động trong lòng. Ngay khi lấy kẻ bần dân hay người kiếm củi làm đề tài thì qua lối diễn đạt bằng thơ, cũng thành đậm đà thi vị. Nói về con heo rừng hung hãn mà viết với từ ngữ thơ như “Ổ cỏ khô nơi heo rừng ngủ” [63] thì bỗng thấy hiền lành tao nhã.

    Gần đây, đôi khi ta được đọc một số bài khá thú vị nhưng đều không có cái phong vị của thơ xưa nghĩa là nói lên được điều khó nói, những tình cảm thấm thía đọng lại được cả bên ngoài câu chữ. Ví dụ như câu thơ [64] của Tsurayuki[65] “ Dù chúng ta nào có phải như tơ quấn lại” đã bị bao đời xem chỉ là một bài thơ tạp nhạp trong cuốn Kokinshuu[66], nhưng thử hỏi thời nay có ai làm nổi một câu thơ như vậy! Thời xưa, loại thơ có âm điệu hay chữ dùng như bài nói trên thực ra hết sức nhiều. Riêng bài thơ này, ta không hiểu lý do gì người ta xem nó là xoàng xĩnh. Hơn nữa, câu thứ hai [67] “Dù đâu có phải” của bài mà Tsurayuki làm đó sau cũng đã được trích dẫn trong Truyện Genji[68].

    Trong Shin-Kokinshuu[69], cái câu “Duy còn lại thông buồn trên đỉnh núi” [70] cũng bị đời coi là thơ không ra gì. Nếu thế thì nó đã không được độc giả cảm nhận một cách đầy đủ, bởi vì bài đó khi được đem ra để đánh giá trong buổi bình thơ, mới đầu các người bình đã xem là thơ thuộc loại khá rồi, sau đó đến khi thượng hoàng[71] duyệt, lại dạy rằng nó có ý nghĩa thâm sâu. Đó là điều mà (chức quan trong Viện Thi Ca) Minamoto no Ienaga[72] đã chép lại trong nhật ký của ông.

    Người ta bảo nguyên lý làm thơ xưa giờ vẫn không khác, thế nhưng rốt cuộc thử hỏi nguyên lý đó là gì? Cũng cùng một ngôn ngữ thơ, cũng cùng một gối thơ[73], thế mà thơ người xưa hoàn toàn khác. Thơ người xưa trung thực, không làm cho ra vẻ, mà hình thức lại đẹp và tình ý nồng đượm.

    Ta nghĩ lời thơ của tập dân dao Ryôjin Hishô[74] có nhiều câu làm rúng động lòng người. Tác giả của nó là những người đời xưa đấy, thế nhưng những lời nói không kiểu cách, không văn hoa thốt ra từ miệng của họ, tất cả đều trở thành tuyệt vời.



    Đoạn 15: Cho dù cất bước đi đâu.

    Dù lên đường đi chơi những đâu, nội chuyện được ra khỏi nhà ít lâu là trong người tỉnh táo hẳn.

    Được đi dạo chỗ này chỗ nọ chung quanh nhà mình đến tạm trú ví dụ nơi đồng ruộng thanh u hay xóm làng trong núi, chắc chắn mình sẽ khám phá những điều mới lạ.Từ nơi lữ thứ, có dịp gửi thiệp chào thăm về kinh đô và nhắn: “Chuyện kia chuyện nọ, cứ tùy tiện mà làm đi! Chớ có quên nghe !”[75] thì đó thật là những câu nhắn nhủ đáng yêu.

    Khi bước chân đi xa như thế, người ta thường nhạy cảm[76] hơn về bất cứ chuyện gì. Cho đến cả những vật mang theo bên mình, đều thấy đáng quí hơn ngày thường, đối với những người tài năng hay có dung mạo đường đường, ta nhận ra dễ dàng hơn.

    Nếu được cơ hội viếng các đền chùa[77], đóng cửa ở đó ít lâu để khấn nguyện thì cũng là một điều thích thú.



    Đoạn 16: Nhạc tế thần[78]

    Nhạc kagura[79] để tế thần vừa vui tai lại vừa tao nhã.

    Nói chung, trong đó các loại nhạc khí tiếng nghe hay là sáo ngang và khèn. Riêng ta thích đàn tì bà và đàn Nhật wagon[80].



    Đoạn 17: Náu mình trong chùa trên núi.

    Lui vào làm Phật sự ở chùa trong núi[81], mình sẽ hết buồn chán, tâm hồn được xóa sạch mọi phiền não.



    Đoạn 18: Cam cảnh thanh bần.

    Sống một cuộc đời giản dị, kiệm ước, không đua đòi xa xỉ, chẳng màng của cải, không bắt chước người đời là điều tốt hơn cả. Xưa nay, cứ xem hiền nhân có ai giàu đâu[82].

    Bên Trung Quốc[83], ông Hứa Do[84], trên người chẳng có lấy một thứ vật dụng, đến nỗi lúc khát phải lấy tay bụm nước mà uống. Có kẻ thấy thế mới tặng ông ta một quả bầu khô. Một hôm ông treo nó trên cành cây, quả bầu bị gió đánh lanh canh rầy rà, ông ta bực mình vứt quách. Rồi cứ tiếp tục vốc nước trong lòng bàn tay mà uống, thế nhưng ông cảm thấy mát rượi tận đáy lòng.

    Người tên là Tôn Thần[85] thì mùa đông không chiếu đắp cho ấm, chỉ có mỗi bó rơm, tối trải mà ngủ, sáng ra cuốn lại.

    Người Trung Quốc xem những chuyện này là bài học có ý nghĩa nên ghi chép gìn giữ, truyền cho đời sau[86]. Còn ở (Nhật Bản) ta, chẳng thấy ai kể lại những sự việc như thế này cả.



    Đoạn 19: Bốn mùa thay đổi.

    Bốn mùa tiếp theo nhau thay đổi, tùy theo phong vật, mỗi mùa đều đem lại những cái thú đặc biệt.

    Hình như mọi người đều đồng ý: “Mùa thu, ta dễ cảm thông với đất trời”. Có thế thật, nhưng ta nghĩ mùa xuân mới làm cho tâm hồn dễ dao động hơn cả[87].Trước tiên, trong tiếng chim kêu[88] cảm thấy sự đổi mới, dưới ánh nắng hiền hòa của ngày xuân, cỏ mọc dưới chân bờ giậu cũng nẩy xanh. Thế rồi mùa xuân dần dần lộ rõ ra, sương mờ giăng mắc, hoa anh đào bắt đầu hé nụ.Tiếc là lúc đó lúc đó, thường thì hết mưa rồi gió dập vùi chúng tan tác. Cho đến khi anh đào xanh lá, đời hoa kia đã gây cho người biết bao nhiêu cái não lòng[89].

    Chuyện hoa quít đánh thức lòng hoài cựu thì ai cũng biết nhưng, ngoài ra, hương thơm của hoa mơ cũng gợi lại bao nhiêu kỹ niệm, thương nhớ xa xưa. Hoa chùm vàng[90] nở tươi tắn, hoa tử đằng[91] buông rũ mơ huyền, vẻ đẹp nào cũng làm ta khó quên [92].

    Có người bảo: “Vào dịp lễ Tắm Phật[93] hay lễ thần đền Kamo thì trên ngọn cây, lá non xum xuê khoe sắc, thế nhưng lúc này là lúc mình thường nghĩ về sự đổi thay của cuộc đời và về những người thân thương một cách thấm thía và sâu sắc nhất”. Quả thật như vậy. Tháng năm, khi hoa xương bồ[94] tô điểm bên hiên nhà, cũng là lúc phải đi nhổ mạ, ai mà chẳng chạnh lòng buồn khi nghe một tiếng gà nước[95] kêu lên bất chợt [96]. Đến tháng sáu, bên mái tranh nghèo, nhìn màu hoa bìm[97] buổi tối nở trắng nhờ nhờ dưới làn khói của lửa đốt đuổi muỗi tan loãng dần, thấy thật thú vị. Lễ tẩy uế cuối tháng sáu trông cũng hay hay [98].

    Lễ Thất Tịch (với ả Chức chàng Ngâu) hết sức dễ thương[99]. Sau đó, khi trời đã trọng thu thì ban đêm cảm thấy lạnh dần, ngỗng trời từ đâu đến vừa bay vừa kêu quang quác, những ngọn lá nấp dưới bụi cây hagi[100] đỏ dần. Lúc đó người ta đi gặt lúa đầu mùa về phơi. Mùa thu thực là lúc bao nhiêu là cảnh tượng thú vị muôn màu muôn vẻ như hiện ra cùng một lượt. Ngoài ra, sáng hôm sau ngày cơn bão quét qua cũng là một cách đáng yêu[101]. Nếu cứ nói thêm về những quang cảnh này nữa e lại trùng với những gì đã thấy chép trong Truyện Genji[102] và Ghi Nhanh Bên Gối[103] rồi nhưng ta nghĩ có nói lại cũng không sao.Bởi vì không nói ra thì bụng còn ấm ức cho nên cứ để mặc ngọn bút đưa đẩy.Thế nhưng những gì ta viết nguyên chỉ là để giúp mình giải buồn, có xé đi vứt đi cũng được, không phải phiền đến ai phải để mắt.

    Ta nghĩ cảnh vật tiêu sơ của mùa đông chẳng có chỗ nào làm nó thua kém mùa thu đâu. Vào một buổi sáng, thấy bên bờ ao nước trong vườn, lá đỏ rụng đầy lên cỏ được phủ bên trên bằng một lớp sương trắng tinh, có hơi nước bốc lên từ dòng suối giả, thật thích. Trong những ngày cuối năm, nhìn thiên hạ bận bịu tất bật thì không có gì cảm khái cho bằng. Thế nhưng trên bầu trời đêm, vầng trăng tàn đã qua ngày hai mươi không người buồn ngắm, với quầng ánh sáng lạnh lẽo, leo dần lên không, đủ đánh thức trong lòng nỗi u hoài lặng lẽ. Nghi thức niệm Phật[104] và cảnh các sứ giả lên đường về địa phương để cúng tế lăng mộ[105] gợi trong ta một niềm tôn kính. Thời điểm này, trong cung có rất nhiều lễ lạc, thêm vào đó còn các nghi thức để chuẩn bị đón chào năm mới nên cảnh tượng trông thật bận rộn. Từ Lễ Đuổi Quỉ[106] đến Lễ Bái Vọng Tứ Phương[107] đều thấy hay hay. Tối ba mươi, từ nửa đêm trở đi, giữa khi trời tối mịt, người ta đốt đuốc gỗ thông lên, vòng quanh gõ cửa các nhà hàng xóm, không biết hò hét cái gì nhưng không khí hết sức nhộn nhịp, chân họ chạy thật nhanh thiếu điều không chạm đất.Khi trời hừng sáng thì hàng phố bỗng yên ắng một cách lạ lùng. Lúc đó mình mới tiếc nuối, thấy năm cũ sao mà qua quá nhanh.

    Đêm giao thừa cũng là lúc những người đã khuất trở về nhà[108]. Chính ra phải làm lễ để đón rước linh hồn họ nhưng lúc sau này, ở kinh đô người ta cũng bỏ mất tập tục đó. Ngược lại, thấy ở vùng Kantô[109] thiên hạ hãy còn gìn giữ tục lệ ấy. Thật cảm động.

    Như thế, khi ngày nguyên đán bắt đầu, bầu trời tân xuân trông nào khác chi so với ngày hôm qua nhưng mọi người đều cảm thấy thay đổi hoàn toàn.Ngoài các đường phố chính, người ta trang hoàng những bụi tùng đón xuân trước cửa nhà, nơi nơi tràn ngập niềm vui và sức sống. Cảnh tượng đó cũng thật thích.



    Đoạn 20: Người ấy tên gọi là chi nhỉ?

    Con người lánh đời đó[110], tên gọi là chi nhỉ? Người ấy từng nói: “Tấm thân mà cuộc đời này không có mảy may điều gì đủ lôi cuốn nữa”. Chỉ bảo: “Hãy còn tiếc mỗi khung cảnh bầu trời[111]”. Ta cảm thấy đồng tình với câu nói đó.



    Đoạn 21: Vui là khi ngắm vầng trăng.

    Dầu sao, khi ngắm vầng trăng, ta bao giờ cũng tìm thấy nguồn an ủi. Có người bảo: “Không có gì dễ thương bằng vầng trăng”. Người khác lại bảo: “Nhìn sương thấy xúc động hơn”.[112] Ta thích thú nghe họ tranh luận với nhau. Nhận xét thích hợp nhất có lẽ là mọi vật đều có vẻ đẹp riêng của nó.

    Hoa và nguyệt thì khỏi phải bàn đến. Làn gió thực là cái làm ta dễ rung động hơn cả[113]. Cảnh dòng suối trong bắn nước vào bờ đá, bất luận mùa nào, đều đáng yêu.

    (Về sông) ta có đọc bài thơ với nội dung:

    Nguyên, Tương sao cuộn về Đông mãi,

    Chẳng nể lòng sầu, chậm chút cho![114]

    Lấy làm vô cùng cảm khái. Kê Khang[115] cũng nói: “Lúc đi chơi chỗ núi non, hồ đầm, thấy chim thấy cá, trong lòng vui thích”. Không có gì an ủi tâm hồn bằng khi có dịp lửng thửng dạo một vòng quanh nơi nước biếc cỏ xanh không lấy bóng người.

    Đoạn 22: Mến mộ đời xưa.

    Bất cứ việc gì, người ta hay hâm mộ cung cách đời xưa. Thời mới bây giờ, mọi sự hầu như xuống dốc quá đáng. Cứ lấy đồ gỗ của chuyên gia dụng cụ văn phòng trong cung khắc biết: kiểu càng xưa thì nom càng khéo.

    Nghệ thuật viết thư cũng vậy. Văn từ theo lối cũ, nhìn mấy bản nháp, thấy nhiều cái hay. Lời ăn tiếng nói hằng ngày sau này đổ đốn ra.

    Ngày xưa phải nói: “Nâng càng xe lên!”, “Khơi ngọn bấc lên!” thì bây giờ gặp trường hợp như thế chỉ nghe họ hô (cộc lốc) : “Nhấc!” “Khơi!”. Ở cơ quan bảo vệ trong cung, thay vì ra lệnh: “Chuẩn bị dàn chào!” họ lại nói (nôm na): “Đuốc đâu, thắp mang tới đi!”. Chỗ mà thiên hoàng nghe giảng kinh Tối Thắng Vương[116] ngày xưa có danh hiệu là Ngự Thính Văn Sở thì ngày nay họ chỉ tóm lược lại thành Phòng Giảng. Bậc cố lão nhiều người cho những việc đó là “Không tha thứ được!”



    Đoạn 23: Thời buổi suy vi.

    Trong thời buổi tàn mạt[117] của thế gian như ngày nay mà nơi cung cấm vẫn còn giữ được không khí trang trọng thiêng liêng, không bị ố nhiễm thế tục, thật là một điều đáng nể.

    Nghe cách đặt tên như “Đài Sương” (Rodai) [118], “Gian Ngự Thiện Ban Mai” (Asagarei no Ma) [119] và tên gọi những điện này, môn nọ [120] trong cung làm cho ai cũng thích. Thật là êm tai khi thấy người ta gọi Kojitomi, Koitashiki, Takayarido, (những cái tên thanh bai) đặt cho mấy bộ phận tầm thường như cánh cửa sổ nửa vời, hành lang lát gỗ hay cánh cửa lách, một khi chúng là vật ở trong cung.

    “Hãy chuẩn bị cho “trận” tối!”, hiệu lệnh đó gây ấn tượng khi nghe nó ở gian phòng hội nghị[121]. Còn khi sửa soạn đèn đóm cho tẩm điện của thiên hoàng thì họ hô “Mau điểm hỏa lên!”, nghe cũng thấy hay. Dáng điệu các bậc công khanh cấp cao điều hành hội nghị trong phòng họp, ra chỉ thị như thế nào thì đã đành rồi, nhưng ngay cả tiểu lại thuộc các ty sở khi làm việc ai nấy đều cũng mặt mũi vênh váo và đều tỏ ra mình thành thạo. Cảnh tượng này thật vui mắt. Vào những đêm đông lạnh giá, lác đác đó đây cái dáng họ ngủ gà ngủ gật[122] thấy mà tức cười.

    Nghe nói có lần quan Thái Chính Đại Thần Tokudaiji[123] nhận xét: “Những tiếng chuông trong Naishi-dokoro[124] nghe thanh nhã êm tai!”



    Đoạn 24: Truyện công chúa đi tu thế ra ở cung ngoài đồng .

    Ta nghĩ thật không có gì tao nhã, gây bồi hồi trong lòng hơn cảnh tượng cô công chúa chưa chồng đi tu thế ở đền thần (người gọi là Saiô)[125], phải ra tạm trú cung ngoài đồng[126] (chỗ gọi là No no Miya). Để kiêng những chữ (nhà Phật) như “Phật” như “kinh”, người ta dùng các từ đặc biệt (Thần Đạo) thành ra “Vị thần đặt giữa khám thờ” (nakago), “giấy nhuộm màu” (somegami)[127], nghe qua cũng hay hay.

    Hầu hết các đền thần đều có những phong vị khó quên. Dù rằng cảnh núi rừng tự nó cũng đã đem lại dáng dấp cổ kính thanh u rồi, thế nhưng những vòng rào gọi là tamagaki[128] và những tấm yufu[129] sợi tơi ra treo rủ trên cành cây thiêng sakaki[130] đã tạo cho nó thêm một thi vị đặc biệt.

    Những ngôi đền đáng chú ý hơn cả là đền Ise, Kamo, Kasuga, Hirano, Sumiyoshi, Miwa, Kifune, Yoshida, Ôharano, Matsu no O, Umenomiya[131].



    Đoạn 25: Đất lở đất bồi trên sông Asuka [132] và cuộc đời vô thường

    Cuộc đời này thảy đều vô thường cũng như vực sâu hóa ra con lạch[133] trên dòng sông Asuka mà những bài thơ xưa bao lần nhắc tới.Thời cuộc thay đổi, bao nhiêu điều may mắn và nỗi bất hạnh đến với chúng ta cũng trôi đi theo dòng đời biến dịch[134]. Trong khoảng thời gian ấy, những cuộc đất đẹp đẽ đã biến thành cánh đồng hoang, dù nhà hãy còn đó nhưng đã thay chủ khác, đào lý trong sân vẫn y như cũ nhưng là vật vô tri, chúng nào biết thổ lộ điều gì[135]. Vậy thì, ai có thể kể cho ta nghe chuyện xưa tích cũ? Huống chi, đứng trước những nơi mà các vị tôn quí ngày xưa ta chưa hề biết mặt đã từng sinh sống thì lòng cảm khái thương cho cuộc thế đổi dời lẽ nào không có.

    Khi ta nhìn điện Kyôgoku[136] và chùa Hôjô[137] chẳng hạn, chỉ thấy dấu vết của ý chí[138] con người còn sót lại chứ nào thấy hình bóng sự nghiệp hưng thịnh của những năm tháng trôi qua nên lòng không khỏi chạnh niềm thương cảm. Ngài Midô[139] ra lệnh kiến tạo chúng đẹp đẽ, cúng tiến vào đó lợi tức của một số trang viên, cũng vì ngài nghĩ chỉ có dòng họ nhà mình đời đời làm kẻ phò tá vương thất và nắm quyền bính vinh hiển mãi mãi. Lúc đó làm gì ngài có thể dự đoán trong tương lai gần hay xa, chúng có thể trở thành hoang phế như thế này đâu. Đại môn và tòa kim đường[140] của chùa Hôjô hãy còn tồn tại cho đến gần đây thế nhưng nam môn đã cháy tiêu hồi năm Shôwa[141]. Rồi lúc sau này, tòa kim đường cũng sập nát trơ ra đó, không nghe ai nói đến chuyện trùng tu. Vỏn vẹn có Vô Lượng Thọ Viện là còn sót lại[142] như để nhắc nhở đến một thời xưa. Tượng Phật[143] cao một trượng sáu gồm có chín vị, uy nghiêm ngồi xếp hàng cạnh nhau. Thật vô cùng cảm khái khi ta nhìn thấy nét bút của quan Dainagon Kôzei[144] trên hoành phi hay chữ viết của ngài Kaneyuki[145] bên cửa vẫn chưa mờ. Những nơi như Pháp Hoa Đường[146] hình như cũng còn đó. Thế nhưng kéo dài được đến lúc nào đây! Những di tích còn được như ngôi chùa này chẳng có là bao. Có khi chỉ còn trơ mỗi viên đá xưa đặt làm móng, mà người ta cũng không biết chính xác di tích ấy tên gì.

    Do đó, bất cứ việc gì mà để tâm lo liệu cho cả đến lúc sau khi mình nhắm mắt đi rồi thì thật là vô nghĩa.



    Đoạn 26: Gió dầu không cuốn, lòng cũng đổi thay.

    Người ta bảo lòng của con người còn mong manh hơn cả hoa anh đào tan tác khi gặp làn gió cuốn.Khi nghĩ về những tháng ngày vì quá tin ai nên đã đem tình yêu trao gửi, ta không thể nào quên được những điều nàng nói mà một lần mình đã cảm động lắng nghe. Việc người bạn của ta dần dần lãng ra, sống trong một thế giới càng ngày càng xa lạ với ta thì cũng là chuyện thường tình ở đời. Thế nhưng nỗi buồn sinh ly này còn gây đau đớn cho ta còn hơn sự tử biệt.

    Vì cuộc chia tay gây đau thương như thế, nên ta tin chắc rằng chuyện cái người đàn ông buồn bã khi thấy ai đem chỉ trắng nhuộm đủ màu[147] và một người khác than thở vì con đường bỗng đâm ra thành ngả rẽ, đều là có thật.

    Trong số trăm bài thơ đem trình lên cho thái thượng hoàng Horikawa có bài như sau[148]:

    Mukashi mishi
    Imo ga kakine wa
    Ararenikeri
    Tsubana majiri no
    Sumire nomi shite

    Hàng dậu anh từng thấy,
    Xưa bao quanh nhà em.
    Nay hoàn toàn đổ nát.
    Chỉ còn hoa tím chen,
    Trên đồng gianh trắng lớp.

    Cảnh tượng như thế quả là buồn và tác giả bài thơ chắc đã từng trải qua kinh nghiệm ấy.



    Đoạn 27: Lễ Nhường Ngôi

    Không có cảnh nào đau lòng[149] hơn là lúc cữ hành nghi thức nhường ngôi, khi (cựu hoàng) trao cho tân quân[150] ba thứ báu vật truyền quốc là lưỡi kiếm, tấm kính và viên ngọc.

    Mùa xuân năm ngài thoái vị, cựu hoàng[151] đã vịnh bài thơ [152]như sau:

    Tonomori no
    Tono no miyakko
    Yoso ni shite
    Hawanu niwa ni
    Hana zo chirishiku

    Bọn phục dịch trong cung,
    Ngay cả hàng thấp kém,
    Cũng đổi lòng, dửng dưng.
    Vườn ta bỏ không quét,
    Hoa
    [153] rụng phủ đầy sân.

    Vì bận rộn với công việc đình đám mừng vua mới, không còn ai vãng lai đến chỗ ở của cựu hoàng nữa. Những cơ hội này mới thấy bộc lộ lòng dạ của người đời[154].



    Đoạn 28: Trong năm Thiên Hoàng cư tang[155].

    Năm thiên hoàng cư tang[156] là khoảng thời gian gây ra nhiều cảm xúc sâu xa. Ở nơi ngài thiên cư ra để chịu tang (chỗ gọi là iro)[157], người ta hạ thấp mặt sàn ván xuống[158], rũ màn kết bằng cỏ lau, phủ qua loa vải bố ra bên ngoài rèm. Đồ dùng thảy đều phải đơn sơ thô phác. Cái cảnh quần áo, thanh đao cho đến giải lưng mang đao của mọi người đều khác trước gây cho ta cảm giác nặng nề u ám [159].



    Đoạn 29: Lặng lẽ suy tư.

    Lúc lặng lẽ suy tư, kỷ niệm đáng yêu lại hiện về xâm chiếm hồn mà ta không sao cưỡng nỗi. Sau khi mọi người ngon giấc cả rồi, và để giết thời giờ trong đêm (thu) dài[160], ta có thể làm vài việc trong tầm tay như sắp xếp lại đồ dùng văn phòng, xé mấy thứ giấy tờ thấy không cần giữ nữa. Tình cờ lúc đó ta bắt gặp những mẫu thư đạo, bút tích của người bạn nay đã qua đời hay những tranh vẽ do người đó phác thảo. Ta có cảm tưởng như sống lại quãng ngày xa xưa ấy.

    Bức thư của người hiện còn sống cũng gây xúc cảm, nếu là thư nhận được từ lâu rồi thì nó khơi cho ta nhớ lại thư đó đã viết trong dịp nào, hồi nào, năm nào. Những vật dụng đã quen tay cũng vậy, cái thân người dùng[161] đã thay đổi rồi mà chúng vẫn vô tình, trơ trơ như xưa. Ôi, buồn làm sao!



    Đoạn 30: Nỗi buồn khi một người qua đời.

    Không có cảnh nào buồn hơn là những gì xảy ra sau cái chết của một con người.

    Trong thời gian gọi là Chuu.in[162], bà con thân quyến dọn ra một vùng như thôn làng ven núi[163], nơi thường là chật hẹp và bất tiện cho việc tụ họp một số người đông đúc, để cử hành tang lễ[164] cho người chết. Lúc ấy, lòng họ còn tràn đầy xúc động. Mấy hôm đó trôi qua rất nhanh, đó là điều không nói cũng hiểu. Đến ngày thứ 49 là ngày cuối thì người ta đã hết quan tâm và giữa họ không còn gì để thưa gửi nữa. Họ chuẩn bị thu dọn mọi thứ chung quanh mình rồi chia tay tản mác ai về nhà nấy. Từ khi về đến nơi, nếu họ có đâm ra buồn trở lại nhiều hơn trước thì cũng là sự tự nhiên. Họ sẽ trách nhau bằng những câu như: “Không chấp nhận được. Ăn nói không biết giữ gìn giữa chỗ ma chay như vậy làm cho người sống xúi quẩy đấy!”. Cách phát ngôn không chút tình cảm kiểu đó trước cảnh tang tóc buồn bã này làm cho ta thấy con người quả là đáng chán.

    Sau đó, năm tháng trôi qua. Tuy không phải chẳng ai còn nhớ đến người đã khuất nhưng rõ ràng là “mỗi ngày hình ảnh của người ấy nhòa nhạt dần” [165] như cách nói của người xưa. Không biết có phải vì nỗi buồn không còn được thống thiết như những ngày người ấy vừa mới nằm xuống hay sao mà người ta đã bắt đầu nói khôi hài, cười cợt khi bàn về người đã khuất.

    Về phần kẻ quá cố, người ta đem xác anh ra chôn vùi ở một chỗ núi non nào đó và chỉ ghé đến thăm trong những dịp lễ đặc biệt. Thế rồi bia mộ của anh cũng bị rêu ăn mòn và lá rụng lấp lên, chỉ còn cơn bão buổi chiều và vầng trăng khuya ghé đến làm bạn với anh.

    Lúc những người thương tưởng đến anh hãy còn sinh tiền thì chưa đến nỗi, nhưng chẳng bao lâu họ cũng nối gót theo anh thôi. Con cháu của anh dù có nghe nói đến tên tuổi ông cha mình nhưng không hề gặp, chưa từng quen, làm sao truy điệu anh mãi được. Dĩ nhiên sau khi những buổi lễ bái cúng kiến không còn được cử hành nữa thì ai còn biết đến ngôi mộ ấy xưa là của người nào. Khi mùa xuân đến, mồ kia xanh cỏ[166], người có chút lòng còn nhìn nó mà chạnh niềm hoài cảm. Chứ về sau, khi năm tháng chồng chất thêm lên, lúc những cây tùng từng gào thét bi ai trong cơn bão tố, chưa sống hết nghìn năm đã biến thành củi chụm, thì những ngôi mộ cũng sẽ bị cày xới đi và nơi đó thành ruộng thành đồng[167]. Rốt cuộc chẳng còn chút gì đâu dấu tích của người ấy[168] nữa. Không buồn sao cho được!
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  6. #6
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Đoạn 31: Buổi sáng tuyết rơi.

    Buổi sáng sau khi thích thú ngắm cảnh tuyết rơi, nhân có việc cần mới viết thơ gửi cho một người[169], nhưng trong thơ không hề đả động đến tuyết. Thư họ[170] trả lời như sau: “Viết một bức thư mà không lấy một lời hỏi thăm người ta đã cảm xúc thế nào trước cảnh tuyết rơi, quả là vụng về. Thế thì tôi đâu phải hoài công để tâm vào điều ông dạy bảo. Càng nghĩ càng buồn người gì mà thiếu ý tứ.”

    Câu nói đó thấy có dễ thương không?

    Người viết câu đó giờ đây đã mất. Câu chuyện thật ra chẳng có gì mà cũng khó quên.



    Đoạn 32: Khoảng ngày 20 tháng 9 [171].

    Khoảng ngày 20 tháng 9, có lần ta được một người quí phái[172] rủ đi bộ ngắm trăng cho đến khi hừng sáng. Vị ấy, như chợt nhớ ra, mới dừng chân ghé lại một ngôi nhà[173], lên tiếng xưng danh rồi được đưa vào bên trong. Khu vườn hoang vu, đầy sương móc nhưng chung quanh đó một làn hương tự nhiên chứ không phải do ai cố tình đốt lên, thơm dìu dịu như phong cách của một kẻ sống tĩnh mịch lánh đời, gây nên một xúc cảm hết sức đậm đà.

    Người quí phái sau khi nán lại một ít lâu thì bỏ ra ngoài. Riêng ta, bị lôi cuốn vì phong cảnh tao nhã nơi đó, vẫn còn đứng trong một chỗ khuất ngắm nhìn thêm một chốc nữa. Bỗng thấy chủ nhà tay mở hé cánh cửa, dường như để ngắm vầng trăng. Vừa tiễn khách ra ngoài liền trở vào trong, đóng bít cửa thì sẽ khiến người ta thất vọng biết bao nhiêu. Lẽ nào người này cảm thấy dù khách đã đi rồi nhưng vẫn còn có ai đó đang đứng nhìn mình được. Cử chỉ (tự nhiên) như thế chỉ có nơi những người ngày thường đã sẵn có tấm lòng nhân hậu mà thôi.

    Ta nghe nói người ấy đã qua đời sau đó ít lâu.[174]



    Đoạn 33: Hoàn thành cung mới [175].

    Sau khi cung thất mới đã cất xong, những nhà chuyên môn (sành về nghi thức, qui trình), được vời tới xem xét, đều thấy không có điều gì đáng góp ý cả. Cho đến lúc gần đến ngày thiên hoàng[176] nhập cung thì có bà Genkimon.in[177] đến viếng. Người ta kể là bà có nhận xét rất tinh tế như thế này: “Cánh cửa sổ làm theo hình cái lược (bán nguyệt) trong điện Kan.in[178] (trước kia)không giống như cửa sổ ở đây. Nó tròn hơn và không có đường viền”.

    Trên cánh cửa sổ của cung mới, người ta đã chạm khắc và ghép thêm một đường viền bằng gỗ. Đó là một điều sai lầm, sau đã được sửa lại cho chính xác[179].



    Đoạn 34: Kaikô[180], một loại ốc loa [181]?

    Vỏ con ốc tên là kaikô (dùng để làm hương) có hình thù giống ốc loa horagai nhưng khổ nhỏ hơn, chỗ miệng hơi dài, mím lại và chìa ra phía ngoài. Ta có tìm được một con như vậy trên bãi Kanazawa trong vùng Musashi[182] và dân sở tại gọi nó là henatari[183].



    Đoạn 35: Người viết chữ xấu.

    Người viết chữ xấu không cần ngần ngại làm chi, thư từ cứ thế thoải mái mà viết là tốt. Cho chữ mình là xấu rồi nhờ người khác viết hộ thì phiền lắm.[184]



    Đoạn 36: Lâu ngày không đến thăm nàng.

    Bẵng đi ít lâu không thăm nom[185] một người đàn bà. Trong lòng biết nàng hận mình là chừng nào và cũng cảm thấy mình sống thiếu thành thật, nên không biết lấy lời gì để biện hộ. Vừa lúc ấy thì từ phía nàng lại có tin nhắn[186], kiểu như: “Làm ơn gửi cậu tớ trai đến giúp việc cái đi! Một người cũng đủ!”[187] Thật chuyện không dè. Nghe sướng quá đi thôi. Ta thích người đàn bà tính khí (dễ thương mà sắc sảo) như thế.

    Chuyện này người khác kể lại[188] nhưng ta cũng đồng cảm với anh ấy.



    Đoạn 37: Người hết sức thân quen.

    Khi người sáng chiều hết sức thân quen, không có gì ngăn cách[189] bỗng một hôm lại làm mặt lạ và có cử chỉ khác thường, chắc hẳn có kẻ sẽ bảo: “Sao xưa thế kia mà bây giờ lại thế khác?” . Theo ta, thái độ (lạnh lùng) đó chứng tỏ người ấy hết sức đàng hoàng và thành thật.

    Mặt khác, kẻ không thân tình[190] mà khi thổ lộ chuyện gì, cứ thẳng thắn trung thực trình bày với ta thì chắc chắn ta cũng đánh giá họ là người tốt .



    Đoạn 38: Chạy theo danh lợi.

    Khi ta đã vướng vào vòng danh lợi rồi thì tâm hồn không còn giây phút bình yên, tấm thân một đời khổ sở. Có phải ngu không!

    Nếu ta có nhiều của cải, cả ngày cứ phải bo bo với nó, sẽ lơi là việc bảo trọng tấm thân[191]. Như thế là chuốc lấy nguy hiểm, rước tai họa vào mình[192]. Sau khi mình chết đi rồi, dẫu có vàng mười chất cao đụng cả sao Bắc Đẩu[193], ta chỉ gây ra sự phiền nhiễu cho lũ con cháu còn sống. Hơn nữa, những thứ của cải làm rộn ràng lòng kẻ ngu si chỉ là vật vô nghĩa. Xe lớn, ngựa béo[194], đồ trang sức bằng vàng hay châu ngọc dĩ nhiên là những thứ mà người có tâm hồn coi thường và lãng tránh. Vàng bạc phải đem quăng trên núi, châu ngọc phải đem vứt xuống vực[195] mới phải. Kẻ mù quáng vì cái lợi thật là kẻ ngu ngốc vậy.

    Để cái danh bất hủ[196] lưu truyền lâu dài cho đời sau là điều đáng mong muốn chăng? Này nhé, người có địa vị cao chưa hẳn đã là bậc tài năng lỗi lạc. Có nhiều trường hợp kẻ ngu ngốc đần độn được sinh ra ở chốn danh gia vọng tộc, thừa thế nhà mà leo lên được địa vị cao, sống xa hoa rất mực. Lại có trường hợp những bậc hiền nhân quân tử tài đức hơn người có khi chỉ vui lòng với chức phận thấp kém, hay vì không gặp thời mà uổng hết một đời[197]. Do đó, việc gắng gỗ để có địa vị cao sang thì cũng chỉ là điều ngu muội giống như việc chạy theo cái lợi.

    Còn những kẻ muốn để lại danh tiếng là người học thức và nhân cách (cao cả) hơn thiên hạ thì xét cho cùng, cái danh mà họ cầu không gì khác hơn là sự vui thích được mọi người nói tốt về mình. Tuy nhiên, người khen ngợi, kẻ bài báng[198] cũng không sống mãi sống hoài. Còn ai kia vừa được nghe tiếng đời ca tụng một chút thì cũng nối gót họ lìa bỏ cõi đời. Thế thì, với ai ta ngại lời chê và những ai ta đợi tiếng khen? Phải biết là cái danh sẽ kéo theo lời chê bai và nếu danh tiếng đến sau khi ta chết, nó chỉ là cái danh vô ích[199]. Kẻ trông đợi nó cũng ngu muội như kẻ chạy theo địa vị.

    Tuy nhiên, đối với những kẻ không màng danh tiếng mà chuyên tâm cầu học để trở thành hiền nhân, xin có một lời ngõ với họ: Tri thức cũng có thể đẻ ra những điều lầm lẫn lớn nữa[200]. Tài năng thường làm sinh sôi bao nhiêu phiền não. Những gì ta nghe ông thầy truyền lại hay do học hỏi mà có, chưa chắc đã là trí thức chân thực. Thế nào là tri thức chân thực đây? Người đời bảo cái này phải[201], cái kia không phải, nhưng hai điều phải trái[202] đó rất khó phân biệt. Cái gì mới đáng gọi là điều thiện ? Người đạt đến chỗ ngộ lại là người không có những cái gọi là tri thức, đức độ, sự nghiệp, danh tiếng gì cả[203]. Ai làm sao biết đến và đi truyền bá những thành tích của họ? Những người này vốn không dấu diếm đức độ của mình và cũng không giữ rịt cái ngu của mình[204]. Nguyên lai, chỉ vì họ đã vượt lên khỏi sự so sánh tương đối hiền, ngu, được, mất.

    Khi suy nghĩ về bản chất tham danh tham lợi vì sự mê lầm của lòng người, ta phát hiện ra những điều đó.Vạn sự thảy đều hư không[205]. Không cần phải bàn luận mà cũng chẳng cần phải chạy theo danh lợi làm gì.



    Đoạn 39: Có người[206] hỏi đạo ngài Hônen[207].

    Có người đến gặp đại sư Hônen, thưa rằng:

    - Trong khi miệng đang niệm Phật mà cơn buồn ngủ kéo đến, việc niệm Phật thành ra bị trở ngại Làm cách nào để khắc phục khuyết điểm đó.
    Vị thánh tăng mới đáp:

    - Thế chỉ chỉ niệm Phật lúc nào mắt còn mở nổi thôi.
    Thực là lời dạy đáng kính phục.

    Ngài lại nói:

    - Về chuyện vãng sinh cực lạc, nếu mình nghĩ thực hiện được thì sẽ được. Nếu mình nghĩ không có khả năng, thì sẽ không được.
    Đây cũng là một lời dạy đáng kính phục.

    Thế rồi, ngài còn thêm:

    -Dù lòng còn hoài nghi nhưng hể đã niệm Phật, thế nào cũng được vãng sinh.

    Đáng kính thay![208]



    Đoạn 40: Truyện ở xứ Inaba[209].

    Ở xứ Inaba có một một người về già mới xuống tóc đi tu[210]. Con gái ông ta dung nhan thật mỹ miều. Nghe tiếng đồn, nhiều kẻ đến cầu hôn. Thế nhưng cô ấy chỉ thích ăn hạt dẻ, hoàn toàn không động tới cơm gạo hay ngũ cốc gì cả. Ông thân sinh mới bảo:

    - Cái con bé quái gỡ như thế thì thôi, gả bán sao được!
    Và không cho cô kết hôn với ai cả[211].



    Đoạn 41: Hội đua ngựa đền Kamo ngày mồng năm tháng năm.

    Hôm mồng năm tháng năm, lúc đi xem đua ngựa ở đền Kamo[212], vì đám đông dân chúng đứng dàn ra trước chiếc xe bò kéo của bọn ta[213] ngáng tầm mắt nên cả bọn mới bỏ xe đi xuống, đến bên cạnh hàng rào trường đua. Thế nhưng chính chỗ đó người ta lại tụ tập kín mít, không cách chi chen lấn vào cho được.

    Lúc đó thấy một nhà sư leo lên cái cây xoan phía đối diện, ngồi trên một cái chạc mà xem trò. Ông ta cứ bám vào thân cây như thế mà coi bộ đang ngủ gật[214], chỉ lúc tưởng sắp rơi xuống đất thì mới choàng tỉnh. Có người thấy thế mới cười ngạo và mắng cho:

    - Ông sư này ngốc ơi là ngốc! Leo lên chỗ trên cây nguy hiểm như thế mà yên tâm ngủ cho được!
    Ta làm như không có chuyện gì, trả lời:

    - Chuyện chết chóc thì chúng mình ngay tức thời cũng có thể chết. Thế mà mình quên khuấy chuyện đó, bỏ cả ngày cùng đi xem trò. Như vậy nói về ngu ngốc thì giữa chúng mình với ông sư kia, ai đã ngu ngốc kém ai!
    Nói xong thì một người đứng trước mặt mới trả lời:

    - Ông dạy chí phải. Chính bọn mình mới là kẻ ngu.
    Rồi ngoảnh lại, nói với những người khác:

    - Mời các bác vào đây thôi!
    Và bọn họ để chỗ trống cho những người khác cũng vào được.

    Sự thực nhỏ nhặt ta vừa phát biểu, đâu phải mọi người không từng nghĩ tới. Nhưng có lẽ trong trường hợp nầy, vì lời ta thốt ra đột ngột không ngờ nên đi thẳng được vào lòng của họ.

    Con người đâu là gỗ đá[215] cho nên tùy trường hợp, phải có lúc cảm động trước những lời như vậy.



    Đoạn 42: Truyện con ông tướng Karahashi Chuujô[216].

    Pháp chủ Gyôga Sôzu[217] nguyên là con trai của chức võ quan (ngự lâm quân cao cấp) Karahashi Chuujô. Ông chuyên dạy về giáo lý[218] cho ai muốn học Phật. Ông mắc bệnh máu xông lên đầu[219] mãn tính. Càng về già, mũi bị tắt nghẽn, thở không ra. Đã thử chữa trị bằng nhiều cách nhưng bệnh càng ngày càng nặng. Mắt, mũi, trán đều bị sưng phù lên, hết còn thấy đường. Mặt giống như mặt nạ vai hề Ninomai[220] trong tuồng hát. Sau đó nó lại biến dạng như là mặt quỉ, trông khiếp sợ vô cùng. Cuối cùng, mắt ông ta vêu lên phía đỉnh đầu còn mũi thành ra mọc ngay giữa trán. Từ đó không rời tăng phòng để ra ngoài gặp ai nữa. Ông sống như cấm cố, rồi chẳng bao lâu chứng trạng càng ngày càng nặng ra và chết.

    Mới biết ở đời có những chứng bệnh[221] (quái ác) như thế này.



    Đoạn 43: Tiết cuối xuân.

    Lúc ấy vào tiết cuối xuân, một ngày trời bầu êm ả gây nhiều xúc cảm, ta tìm thấy được ngôi nhà thanh u. Đó là một ngôi nhà đâm vào trong sâu, có những khóm cây làm nó đượm màu cô tịch. Hoa anh đào tàn rụng lả tả ngoài vườn xui chạnh niềm hoài cảm. Đi ngang đó mà không dừng chân lại thì lấy làm tiếc nên thử bước vào khuôn viên. Ta mới thấy về phía nam, những căn phòng để ở[222] đều sập liếp cửa lại cả làm cho khung cảnh thật tịch mịch. Duy phía đông hãy còn một cánh cửa mở khá rộng và qua chỗ thủng của bức mành, ta nhìn thấy một thanh niên tuổi trạc đôi mươi mặt mày tuấn tú đang ngồi khoan thai, dáng hết sức bình yên vui thỏa. Người đó đang đưa mắt đọc một cuộn sách đang mở ra trên cái bàn con trước mặt.

    Chàng ta là người thế nào ấy nhỉ, cứ muốn gặp ai để hỏi thăm[223].



    Đoạn 44: Từ bên trong tấmphên trúc[224].

    Từ bên trong tấm phên trúc[225] đơn sơ, có một người đàn ông hãy còn hết sức trẻ bước ra. Vì ở dưới ánh trăng nên không rõ màu sắc y phục chàng ta cho lắm. Chỉ nhìn cái áo khoác ngoài[226] lấp lánh và cái quần tím than chàng mặc, ta thấy toát ra một vẻ con nhà đài các. Có một chú tiểu đồng đi theo chàng và cả hai cất bước theo con đường hẹp giữa những đám ruộng trãi dài về phía xa. Chàng vẹt một lối đi ướt át giữa những chòm lá lúa đẫm sương và đắm mình trong tiếng sáo. Biết rằng giữa chốn này không có ai biết thưởng thức tiếng sáo của chàng, ta muốn dò thử xem chàng đang đi đến nhà ai đây. Trong khi ta tiếp tục theo dõi thì bỗng thấy chàng ngừng thổi sáo dừng chân và bước vào bên trong cánh cổng lớn một phủ đệ nằm kề chân núi. Cảnh chiếc xe mà càng xe đang được đặt hạ xuống đặt trên cái bục đỡ làm ta thêm chú ý vì đây là cảnh trong núi chứ không phải ở giữa kinh đô. Ta bèn hỏi một người đầy tớ đang đứng gần đó thì anh ta bảo “Vâng, đây là một vị hoàng tử nào đó trong triều đang ghé qua”. “Có lẽ để làm một số Phật sự[227]”.

    Trên điện thờ trong dinh đã thấy các nhà sư đang tụ tập. Mùi hương thoang thoảng thơm lên trong đêm lạnh càng thấy thấm thía niềm xúc cảm. Từ tẩm điện bên trong cho đến điện thờ, cái cảnh bọn thị nữ đi qua đi lại bên hành lang để hương bay theo gió[228] làm cho ta không ngờ nơi đây lại là một vùng núi non không người lai vãng.

    Trong khu vườn mà cây trái đơm ra xum xuê một cách tự nhiên như trên cánh đồng mùa thu, cả mặt đất như chìm dưới một tầng sương móc. Tiếng côn trùng bi ai, tiếng suối dẫn nước chảy róc rách bên tai. Chung quanh chỗ này, có cảm tưởng mây trời như bay mau hơn ở kinh đô, làm cho vầng trăng kia hết ẩn mặt rồi lại hiện ra.



    Đoạn 45: Người anh của quan nhị phẩm Kin.yo[229].

    Người anh của quan nhị phẩm Kinyo là một tăng quan tên là Ryôgaku Sôjô[230]. Ông ta là người rất dễ cáu giận. Bên cạnh phòng tăng, có một cây tàm ma[231] . Thiên hạ nhân đó gọi ông là “Hòa thượng tàm ma”. Thấy tên không tiện cho mình, ông chặt mất cái cây ấy. Thế nhưng cây bị chặt mất mà rễ vẫn còn. Người ta lại đặt tên ông là “Hòa thượng rễ cây”. Ông càng lộn ruột, bắt đào cả rễ đem vứt. Chỗ rễ cây bị bứng đi còn để lại một cái hố lớn như cái ao. Thiên hạ lại gọi ông với cái tên mới: “Hòa thượng hố ao”.



    Đoạn 46: Bên cạnh vùng Yanagihara[232].

    Cạnh vùng Yanagihara có một vị sư có hiệu là Gôdô no Hôin (Giáo Chủ Bọn Trộm Cướp)[233]. Bởi vì trộm thường đến “viếng” [234] ông quá thường xuyên cho nên mới bị người ta gán cho cái tên (lạ lùng) ấy.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  7. #7
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Chú thích

    [1] Tsurezure naru mama ni: lúc cứ chán mà không biết làm gì. Câu mở đầu của tập sách và thành tựa đề.

    [2] Trong văn mạch này, ngụ ý nói về “người đàn ông”.

    [3] Nguyên văn là “vườn trúc” (trúc viên) chỉ dòng dõi vua chúa, chữ xuất phát từ điển cố về gia đình Lương Hiếu Vương, con Hán Văn Đế Lưu Hằng (179-157 TCN) . Miki Sumito chuyển ra tiếng Nhật là “dòng dõi chư thần” .

    [4] Ý nói con cái năm bậc quan lớn thời Kamakura như gia đình Tể Tướng Nhiếp Chính Fujiwara no Michinaga chẳng hạn.

    [5] Thời Kenkô, giới vũ sĩ hưng thịnh và nhiều quí tộc trở nên nghèo khó. Tuy vậy, ta thấy Kenkô rất kính trọng giới quí tộc. Cả đời ông không đi xa hơn được trên hoạn lộ vì không xuất thân từ tầng lớp này.

    [6] Nữ quan đời Heian, sinh và mất khoảng 965-1010, hầu hạ hoàng hậu Teishi tức Sadako của thiên hoàng Ichijô (987-1011). Rất thông minh, hiểu biết nhiều và tinh tế. Tác giả tập tùy bút “Ghi nhanh bên gối” (Makura no Sôshi,1000?)

    [7] Trong tùy bút Makura no Sôshi, bà Sei Shônagon xem các sa môn là hạng người “không còn tình cảm”.

    [8] Sôga Shônin (Tăng Hạ thượng nhân, 917-1003), còn đọc là Zôga, con nhà quí tộc họ Tachibana. Là một cao tăng có hành tung kỳ dị, trước theo phái Thiên Thai chùa núi Hieizan, sau chán ghét đường lối dấn thân chính trị của phái này, ẩn cư trên ngọn Tô-no-mine.

    [9] Kenkô rất chú trọng về lễ nhạc.

    [10] Ở đây nói về gõ phách trong việc diễn tấu các loại nhạc.

    [11] Chỉ giới thượng lưu trong xã hội đương thời.

    [12] Cụm từ thường dùng để chỉ các bậc vua chúa lý tưởng như Nghiêu, Thuấn bên Trung Quốc hay ba thiên hoàng Nhật Bản là Nintoku (303-399), Daigo (898-930) và Murakami (947-967).

    [13] Hay Kujôdono, tên gọi tôn kính quan Tả Đại Thần Fujiwara no Morosuke (Đằng Nguyên, Sư Phụ, 908-960). Dinh ông ở khu phố Kujô (đường số 9) trong thành Kyôto nên gọi là ngài Kujô. Có để lại một tập gia huấn, răn dạy con cháu về cách xử thế.

    [14] Jissha (ngưu xa): xe bò kéo, chỉ xe của giới quí tộc.

    [15] Juntoku.in, thiên hoàng thứ 84 hiệu là Juntoku (Thuận Đức, 1197-1242), sau cuộc biến loạn năm Jôkyuu buộc phải thoái vị (1221), bị đày ra đảo Sado rồi chết ở đó. Một nhà thơ hàng đầu và là người hiểu rõ về nghi thức các triều truớc. Có tập Kinpishô “Cấm Bí Sao” (1218-1221) chép về lễ lạc và lề lối làm việc trong cung.

    [16] Đoạn này bổ sung ý của đoạn 1, bàn về giá trị của người đàn ông.

    [17] Cũng là nhân sinh quan thấy trong bài thơ của thi hào Fujiwara no Shunzei ( trong tập Chôshuu Eisô, Trường Thu Vịnh Tảo), một người lớp trước của Kenkô.

    [18] Câu nói có chép ở Văn Tuyển (Monzen) nếu đọc theo âm Nhật, ở bài tựa Tam Đô Phú: Ngọc chi vô đương, tuy bảo bất dụng “Chén ngọc thủng đáy, tuy quí chẳng dùng được”.

    [19] Xem thêm cách miêu tả về “đêm ngủ một mình cho đến sáng” trong đoạn 137.

    [20] Hàm ý phê phán kẻ ngoại tình hay yêu ngoài vòng lễ giáo như vương tử Ariwara Narihira trong Truyện Ise. Tuy ca ngợi tình yêu nhưng quan điểm của Kenkô không đồng ý sự buông thả.

    [21] Một trong những đoạn ngắn nhất của quyển sách nhưng có liên lạc với đoạn 3.

    [22] Theo S.M., nhân vật mà Kenkô nhắc tới ở đây có thể là quan tả đại thần Minamoto no Arihito (Nguyên, Hữu Nhân, 1103-1147), người mà ông ca tụng trong Hosshinshuu.

    [23] Gặp chuyện thất vọng hay bị đè nén.

    [24] Minamoto no Akimoto (Nguyên, Hiển Cơ, 1000-1047), bầy tôi yêu của thiên hoàng Go-Ichijô. Giữa lúc tiền đồ xán lạn, bỗng dưng năm mới 37 tuổi, bỏ triều đình đi vân du khi thiên hoàng vừa mất. Pháp danh Enshô (Viên Chiếu). Chính Kenkô cũng đã bỏ đi tu khi Thiên Hoàng Go Nijô, người mà ông hầu hạ từ năm ông mới 19 tuổi, qua đời.

    [25] Ước mơ lãng mạn của nhiều trí thức đời trung cổ đặt mình vào hoàn cảnh của các thi nhân đã ngắm trăng nơi đất trích (Lý Bạch, Bạch Cư Dị vv…). Hành động có vẻ tự bế, tự ngược nhưng cũng là cơ hội giúp họ tự quan sát cho thấu rõ mình hơn.

    [26] Tức hoàng tử Kaneakira (Kiêm Minh, 914-987), tước vương giữ chức Trung Thư Khanh. Gọi là Tiền để phân biệt với Hậu Trung Thư Vương Tomohira (Câu Bình). Cả hai đều học rộng tài cao, lo việc soạn sắc chiếu văn thư. Ông có 2 con.

    [27] Theo S.M, đó là Fujiwara no Nobunaga (Đằng Nguyên, Tín Trường, 1022-1094). C.G. cho là Fujiwara no Koremichi, chết năm 1165, thọ 73 tuổi và có nhiều con, trong đó một gái làm hoàng hậu.

    [28] Tức Minamoto no Arihito, đã chú ở đoạn 4. Ông là người đẹp trai, giỏi thi ca lẫn âm nhạc. Có phủ đệ ở vùng Hanazono gần chùa Ninnaji nên gọi là Tả Đại Thần Hanazono. Chết năm 41 tuổi.

    [29] Tức quan Nhiếp Chính Thái Chính Đại Thần Fujiwara no Yoshifusa (Đằng Nguyên, Lương Phòng, 804-872). Somedono là gọi tên theo phủ đệ.

    [30] Yotsugi còn có nghĩa là “nối dõi”. “Ông già Yotsugi” là tên nhân vật đóng vai người kể truyện trong cuốn sử truyện “Gương Lớn” Ôkagami. Truyện có một đoạn nói về Yoshifusa nhưng nội dung không đúng như Kenkô trình bày. Có thể ông nhớ sai.

    [31] Tức Thánh Đức thái tử (574-622) , nhà chính trị lỗi lạc và đạo đức, cha đẻ của nhà nước Nhật Bản thời cổ. Ông muốn xây cất kiệm ước để cơ nghiệp đến đó thì ngừng chứ không truyền tử lưu tôn. Tuy nhiên, theo C.G., tương truyền ông có 14 người con.

    [32] Kenkô không con nên đứng trên lập trường “con cái là đồ vô dụng”. Đoạn này viết ra và nêu nhiều tên tuổi lớn là để ông biện hộ cho chính ông chăng?

    [33] Cánh đồng Adashi ở ngoại thành Kyôto, có chùa và là nơi phong táng nghĩa là “chôn theo gió”, có thể là chỗ rãi tro người chết. Chữ Hán viết Adashi là “Hóa Dã” nghĩa là “cánh đồng biến hóa”, từng gợi hứng cho nhiều vần thơ waka về cuộc đời vô thường.

    [34] Vùng gò núi phía đông Kyôto, cũng là nơi hỏa táng. Khói núi Toribe cũng là đề tài cho nhiều vần thơ nói về cái chết và sự hóa thân.

    [35] Tạm dịch “cái đáng để xúc động” từ thành ngữ nổi tiếng và khó dịch: mono no aware.

    [36] Câu trong Hoài Nam Tử: Phù du triêu sinh nhi mộ tử.

    [37] Câu trong Trang Tử, thiên Tiêu Dao Du: Triêu khuẩn bất tri hối sóc, huệ cô (hạ thiền) bất tri xuân thu. Huệ cô là con ve sầu nhỏ.

    [38] Câu trong sách Trang Tử: “Nghiêu viết: Đa nam tử tắc đa cụ,phú tắc đa sự, thọ tắc đa nhục. Thị tam giả sở dĩ vi dưỡng đức dã”.

    [39] Quan niệm thời trung cổ là đời người chỉ có 50 năm.

    [40] Theo sách Quan Tâm Lược Yếu Tập: Triêu lộ chi để tham danh lợi. Tịch dương chi tiền ái tử tôn.

    [41] Xưa nay sắc và hương vẫn thường đi đôi.

    [42] Thơ waka lãng vịnh trong tập Wakan Rôeishuu của Nhật có ghép với Hán thi của Bạch Cư Dị: Vị quân huân y thường, Quân văn lan xạ bất hinh hương (Tân Nhạc Phủ Đại Hành Lộ, Bạch Thị Văn Tập). Quí tộc Nhật xưa có tục lệ xông hương quần áo.

    [43] Nguyên tác sennin (tiên nhân) nhưng ở đây có nghĩa là người tu hành có pháp thuật chứ không có nghĩa nhà tu đạt dược lý tưởng của Đạo gia.

    [44] Nhà ẩn tu Kume tương truyền là một người biết bay. Truyện của ông có chép trong “Truyện giờ đã xưa” Konjaku Môngatari. Kenkô cũng nhắc đến ông trong Hosshinshuu với ngụ ý chê bai.

    [45] Mái tóc đen và buông dài là tiêu chuẩn thẩm mỹ của người Nhật thời trung cổ.

    [46] Bức mành bằng cói thưa hay tấm màn mỏng để người phụ nữ dấu mặt trước người lạ nhưng vẫn giúp họ quan sát được chung quanh.

    [47] Sáu giác quan (mục, nhỉ, tỵ, thiệt, thân, ý) khi tiếp xúc với ngoại giới (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) sẽ sinh ra lòng ham muốn.

    [48] Các nhà chú thích thời Edo (dẫn bởi S.M.) cho biết trong kinh Đại Uy Đức Đà La Ni và kinh Ngũ Khổ Chương Cú có chuyện con bạch tượng khổng lồ hung dữ phá phách nhưng bị người ta trói được bằng sợi thừng xe bằng lọn tóc (không nói rõ là tóc đàn bà). Theo C. G. , trong các đền chùa ngày nay như đền Kuruma, các kiệu thờ còn có dây kết bằng tóc đàn bà.

    [49] Điển cố không rõ lắm nhưng có ghi trong một tập sách nói về nghi thức của gia đình samurai thời Muromachi tên là Tựu Cung Mã Nghi Đại Quan Văn Thư. Theo đó, người thợ săn khi thổi ông tiêu đẽo từ gỗ loại guốc ashida của người kỹ nữ có thể dụ được nai đực trong mùa động tình.

    [50] Tên thật là Fujiwara no Sanesada (Đằng Nguyên, Thực Định, 1139-1191). Cũng là một nhà thơ waka. Gotokuji là tên phủ đệ của ông trên ngọn núi Kitayama.

    [51] Saigyô (Tây Hành, 118-1190) tên thật là Satô Norikiyo trước làm võ quan thuộc đội ngự lâm quân, đi tu năm mới 23 tuổi. Ông là nhà văn hóa quan trọng thời trung cổ Nhật Bản. Giỏi thơ waka. Gia đình ông đời đời giúp việc cho phủ Gotokuji cho đến khi có biến cố gây ra sự đoạn tuyệt này. Xem ở đây thì thấy Kenkô có hơi chỉ trích Saigyô tuy về văn học, ông chịu ảnh hưởng của nhà thơ lớn này.

    [52] Hoàng tử đi tu (Hôshinnô), con trai Thiên Hoàng Kameyama, tên nhà Phật là Shôe (Tính Huệ) nên thường được gọi là Shôe Hôshinnô.

    [53] Cũng là biệt viện của một ngôi chùa, gọi là Myôhôin (Diệu Pháp Viện) thuộc phái Thiên Thai, trước ở trên Hieizan sau dời về Higashiyama (1184). Hoàng tử Ayanokoji ra đó ở vì đây là chùa riêng của một dòng họ, đời nào cũng có một người trong họ ra đó tu. C.G. cho biết gần đây, tục lệ ấy vẫn còn.

    [54] Người Nhật gọi tháng mười âm lịch là kaminazuki (thần vô nguyệt). Theo một thuyết thì tháng này các thần đi dự hội, không còn vị nào cả.

    [55] Địa danh gần Kyôto.

    [56] Cây cam rực rỡ được rào kỹ lưỡng để tránh trộm cắp có tác dụng “sát phong cảnh”, chứng tỏ chủ nhân (một người ẩn tu) không phải là một ẩn sĩ đích thực..

    [57] Văn Tuyển của Chiêu Minh Thái Tử nhà Lương biên tập, gom góp một nghìn năm thơ văn từ cuối đời Xuân Thu, đã truyền bá đến Nhật dưới đời Thái Tử Shôtoku. Rất phổ biến trong giới trí thức.

    [58] Bạch Thị Văn Tập gồm 75 quyển (nay chỉ còn 71) thu thập văn thơ của Bạch Cư Dị đời Đường. Truyền đến Nhật dưới triều Heian, rất được ái mộ.

    [59] Lão Tử. Ý nói Đạo Đức Kinh tương truyền của của Lão Đam, 2 quyển.

    [60] Ý nói Nam Hoa Kinh của Trang Chu. Nam Hoa là nơi ông ở ẩn.

    [61] Chức Hakase (Bác Sĩ) nghĩa hẹp chỉ các học quan ở nhà Quốc Tử Giám, nghĩa rộng chỉ tầng lớp trí thức, học giả cung đình. Sei Shônagon, trong Makura no Sôshi của bà, có lần trích dẫn một số sách Hòa Hán mà trí thức thời Heian yêu thích nhưng ở đây, Kenkô không nói rõ là loại sách nào.

    [62] Thể thơ quốc âm truyền thống 31 âm, xếp theo thứ tự 5/7/5/7/7. Không những viết tuy bút, Kenkô là một thi nhân có hạng. Cùng với 3 tăng sĩ cùng thời từng được xem là tứ trụ của thơ waka.

    [63] Nguyên văn: Fusu i no toko. Tương truyền heo rừng ngủ bảy ngày bảy đêm trong ổ cỏ khô của nó (theo Waka Iroha, tên một quyển sách nhập môn về thơ waka).

    [64] Ito ni yoru / mono naranaku ni (Được tơ quấn lại / Nào đâu có phải). Về câu thơ của Tsurayuki, ông đã viết như sau:

    Azuma e makarikeru toki / Michi nite yomeru : Ito ni yoru / mono naranaku ni / Wakareji no / Kokorobosokumo / Omohoyuru kana.

    Ý nói: Khi đi về hướng đông, trên đường ta có ngâm câu thơ sau: Dù tình cảm chúng mình nào đâu phải như tơ quấn. Ở ngã rẽ chia tay, lòng bao nhiêu lo lắng.

    Trong bài, chữ hosoi trong thành ngữ kokoro-bosoi (lo lắng) làm liên tưởng tới con đường hẹp (hosoi) dần cũng như sợi tơ mỏng dần.

    [65] Ki no Tsurayuki (Kỷ, Quán Chi, ? – 945), nhà thơ cự phách thời Heian, tác giả Nhật Ký Tosa và là người vâng lệnh thiên hoàng biên soạn tập thơ Kokin-Wakashuu (Cổ Kim Hòa Ca Tập , 905).

    [66] Tên tắt của Kokin Waka-shuu nói trên.

    [67] “Mono to wa nashi ni” cũng đồng nghĩa với “Mono naranaku ni” (Dù đâu có phải)

    [68] Genji Monogatari, cuốn tiểu thuyết tâm lý miêu tả cuộc sống cung đình do bà Murasaki Shikibu soạn khoảng năm1001-1008.

    [69] Tập thơ Waka do Fujiwara no Teika (Đằng Nguyên, Định Gia) soạn theo chiếu chỉ năm 1201, hoàn thành năm 1206.

    [70] Thơ Hafuribe Narihige (Chúc Bộ, Thành Mậu) Nguyên văn:

    Fuyu no kite / Yama mo arawani / Ko no ha furi / Nokoru matsu sae / Mine ni sabishiki.

    Ý nói: Mùa đông đã đến. Lá rụng và núi hoang sơ. Duy còn một cây thông xanh nhưng đơn độc đứng buồn tênh trên đỉnh.

    Không rõ ai đã gọi nó là thơ xoàng xỉnh, không giá trị!

    [71] Thiên hoàng Go-Toba (1180-1239), người rất giỏi văn chương.

    [72] Minamoto no Ienaga (Đằng Nguyên, Gia Trường, 1170-1234). Chức vị đứng thứ nhì trong Viện Thi Ca (Waka-dokoro).

    [73] Phong cảnh nổi tiếng tạo thành ước lệ cho người làm thơ.

    [74] Tên Hán là Lương Trần Bí Sao.Tuyển tập các bài ca gọi là Eikyoku (Dĩnh Khúc) “Những bài ca đất Dĩnh”. Dĩnh (có người đọc là Sính), kinh đô nước Sở ngày xưa, một nơi hành lạc trong thiên hạ. Eikyoku dân dã, thông tục, được hát trong chỗ hội hè đình đám hay xóm ăn chơi. Không thuộc loại waka. Tập thơ trên do thái thượng hoàng Go-Shirakawa biên soạn.

    [75] Câu này nhiều người dịch khác nhau chỉ vì vị trí một dấu chấm câu.

    [76] Phải chăng Kenkô muốn bảo trên đường du lịch, người ta thường dễ xúc cảm hơn, hiếu kỳ hơn và ý thức rõ về mình hơn?

    [77] SM cho rằng các đền chùa ngay trong thành phố cũng là một thế giới riêng biệt. Vào đó giống như đi chơi xa!

    [78] Dòng liên tưởng đưa Kenkô dù đoạn 15 (chùa, đền thần) đến đoạn 16 (nhạc cúng tế).

    [79] Thần Nhạc (kagura) tức nhạc chơi trong buổi lễ tế thần đệm cho điệu múa. Được trình đấu trong cung lẫn trong dân.

    [80] Wagon (Hòa cầm), một loại đàn 6 dây thô sơ,đặc biệt Nhật. Câu này nói lên lòng hoài cựu của Kenko đối với vẻ đẹp cổ truyền dù ở trong cung hay ở chỗ quê mùa, nhất là vì ông vốn sinh trong gia đình phục vụ tế lễ.

    [81] Các nhà nghiên cứu phỏng đoán Kenkô muốn nói riêng về chùa Yokawa trong núi Hieizan vì đó hầu như là một qui ước của các văn nhân Nhật Bản khi dùng chữ “sơn tự”.

    [82] Xem Shasekishuu (Sa Thạch Tập) của tăng Mujuu: Tư học đạo, học bần “Muốn học đạo, trước phải biết sống trong cảnh nghèo”. Sách chú thích Tsurezure-gusa của tăng Huệ Không lại trích dẫn câu: Cổ ngữ vân: Hiền giả vị tất phú.Phú giả vị tất hiền.

    [83] Nguyên văn Morokoshi (Đường thổ) ám chỉ Trung Quốc nói chung chứ không riêng gì nhà Đường.

    [84] Sách Mông Cầu có chép truyện Hứa Do Nhất Biều “Quả Bầu ông Hứa Do”. Hứa Do là người hiền trong truyền thuyết, được vua Nghiêu sai sứ giả đến mời về để nhường ngôi cho nhưng ông xem đó là chuyện nhơ bẩn nên xuống sống Dĩnh rữa tai rồi lên núi Kỳ Sơn ở ẩn không ra nữa. Việt Nam ta cũng quen với điển tích Sào Phủ Hứa Do. Sách Mông Cầu là sách giáo khoa gồm 3 quyển với 596 câu 4 chữ do Lý Hàn đời Đường thu thập gương các danh nhân để dạy nhi đồng.

    [85] Truyện hiền nhân cổ dại từa tựa truyện Hứa Do. Sách Mông Cầu cũng có ghi lại tích Tôn Thần Cảo Tịch “Chiếu rơm của Tôn Thần”.

    [86] Trong chính sử Trung Quốc kể từ Hậu Hán Thư đều có mục Ẩn Sĩ Liệt Truyện. Kenkô ca tụng Trung Quốc để phê phán Nhật Bản.

    [87] Từ xưa vẫn có “xuân thu tranh ưu luận”, qua đó người ta bàn xem mùa nào đáng thích hơn.

    [88] Có khi hiểu là gà (gáy sáng) hay chim oanh (còn gọi là momochidori, bách thiên điểu, con chim tượng trưng cho mùa xuân).

    [89] Thơ Vương An Thạch: Xuân sắc não nhân miên bất đắc. Nguyệt di hoa ảnh thướng lan can. Trong thơ Nhật cũng có những vần waka của vưuowng tử Ariwara no Narihira và tăng Saigyô chia sẻ ý kiến này (theo S.M.)

    [90] Yamabuki (Japanese rose, kerria rose) hoa họ hồng màu vàng hay trắng.

    [91] Fuji (wisteria, glycine), còn gọi là đậu tía, hoa buông chùm màu tím nhạt.

    [92] Hai loại hoa này nở vào cuối xuân. Trong tập Wakan Ryoeishuu có câu: Trù trướng xuân qui lưu bất đắc. Tử đằng hoa hạ tiệm hoàng hôn. Cho nên tuy không nói “Cuối xuân” gì cả mà chỉ cần đưa tên hoa tử đằng (wisteria, glycine) ra cũng có thể ngầm hiểu là tiếc xuân.

    [93] Lễ Kanbutsu (Quán Phật) vào thượng tuần tháng tư (ta), còn gọi là Sinh Phật Hội, một nghi thức liên quan đến ngày đản sinh của Đức Thích Ca Mâu Ni. Lúc đó, người ta dùng nước thơm để rưới lên tượng ngài.

    [94] Ayame (iris) hoa màu tím hoặc trắng, lá hình lưỡi kiếm, mọc trên thảo nguyên, thường được trồng bên hiên nhà.

    [95] Kuinaga (water rail, râle d’eau): gà nước, lưng màu xám có ban đen, bụng chấm trắng. Trong Waka, nó là giống chim tượng trưng cho mùa hạ.

    [96] Khoảng thời gian này, gà nước thường kêu từ chiều đến nửa đêm làm người ta nghĩ về người mình yêu có thể đến thăm.

    [97] Yuugao (moonflower, liseron nocturne), tên chữ Hán là tịch nhan, một loại hoa bìm, gốc vùng nhiệt đới, lá hình quả tim, thân dây, bò như rau muống, ăn được, hoa màu trắng nở vào buổi tối. Dùng cữ “bìm” nôm na tuy không sát nhưng hợp với ngữ cảnh hơn.

    [98] Nghi thức thần đạo cuối mùa hè, cử hành ban đêm bên bờ nước.

    [99] Vào dịp này, trong triều cũng như nơi nhà dân đều làm lễ “khất xảo” để cầu khéo tay trong việc nữ công. Quang cảnh rất vui.

    [100] Hagi (Lespedeza Bicolor) một loại cây như cây oải hương (lavender) nhưng hoa trắng. Sự kiện lá nhuộm màu đỏ đối với thi nhân là dấu hiệu báo tin mùa đông sắp tới. (D.K.).

    [101] Cảnh lá đỏ rụng bời bời sau cơn bão. Chú ý đến cách thưởng thức thiên nhiên của Kenkô khác người thường và tương phản với cách nhìn của Sei Shônagon. Ví dụ Kenkô thích cả mùa đông trong khi bà Sei cũng như bao người khác rất sợ mùa đông (D.K.).

    [102] Ví dụ trong Truyện Genji đã có chương thứ 28 nhan đề Nowaki (Bão Mùa Thu) nói về cảnh giông tố rất nổi tiếng.

    [103] Makura no Sôshi của Sei Shônagon.

    [104] Nghi thức niệm Phật (Obutsumyô) có lẽ là hình thức đàn tràng để trừ tà cử hành ở điện Seiryô (Thanh Lương) hàng năm trong cung trong vòng 3 hôm từ ngày 19 tháng chạp.

    [105] Nghi thức Nosaki no tsukashi, thiên hoàng cho người về cúng các lăng mộ của dòng họ vào giữa tháng chạp.

    [106] Tsuina : Nghi thức đuổi quỷ, trừ dịch lệ, cử hành vào cuối tháng chạp. Đã bị bãi bỏ từ thời Muromachi (thế kỷ 14). Mỗi tục ném đậu đuổi quỉ ra vào ngày xuân phân là còn được giữ lại mà thôi.

    [107] Shihôhai: Lễ bái vọng bắc đẩu thất tinh do chính thiên hoàng chủ lễ vào ngày đầu năm.

    [108] Hôonki tức sách Báo Ân Ký viết thời Edo cho biết mỗi năm người chết về nhà 6 lần, trong đó có đêm Vu Lan và Giao Thừa.

    [109] Tức miền Đông so với Kyôto. Nay là vùng Tôkyô.

    [110] Có thuyết cho rằng Kenkô muốn nhắc đến Kamo no Chômei, tác giả Hôjôki vì Chômei từng phát biểu một câu tương tự: Tất cả tham vọng một đời là được ngắm cảnh vật thay đổi theo bốn mùa (xem “Cảm Nghĩ Trong Am, đoạn 11). Cũng có thể là một ẩn sĩ khác mà nhà sư Shinkei (Tâm Kính) đã nhắc đến trong Hitorigoto (Nói Một Mình). Tuy nhiên, việc xác định ai là nhân vật ở đây e có hơi khó.

    [111] Nhiều lối giải thích khác nhau: một là sự vần chuyển của thời tiết bốn mùa, hai là vầng trăng (như trong đoạn 21 tiếp theo đó) , ba là phong cảnh của bầu trời.

    [112] Trong Wakan Rôeishuu, đã thấy nhắc lại câu thơ nói về sương và trăng: Khả liên cửu nguyệt sơ tam dạ. Lộ tự chân châu, nguyệt tự cung.

    [113] Đề tài gió thu rất phổ biến trong Waka của Kokin hay Shin-Kokin (thơ Saigyô chẳng hạn).

    [114] Hai câu trong bài Tương Nam Tức Sự của Đái Thúc Luân đời Trung Đường: Lô quất hoa khai, phong diệp suy. Xuất môn hà xứ vọng kinh sư. Nguyên, Tương nhật dạ đông lưu khứ. Bất vị sầu nhân trú (chỉ) thiểu thời. (xem Tam Thể Thi do Chu Bật biên). Khuất Nguyên từng viết trong Ly Tao: Tế Nguyên Tương dĩ đông chinh hề. Hoàng thân Kaneakira cũng có câu: Nhiễu Nguyên Tương nhi thương Sở. Đây Kenkô nói về cảm xúc (nhớ kinh đô, thương người hiền như Khuất Nguyên bị vua đuổi đi không dùng) mà cảnh sông mang đến cho ông.

    [115] Tự là Thúc Dạ, một trong Trúc Lâm Thất Hiền nước Ngụy đời Tam Quốc. Câu ông viết trong bức thư tuyệt giao gửi Sơn Đào: Du sơn trạch, quan ngư điểu, tâm thậm lạc chi (Văn Tuyển).

    [116] Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh, kinh cầu cho quốc thái dân an, do các cao tăng dược mời tới giảng ở một căn phòng trong điện Seiryô (Thanh Lương).

    [117] Ảnh hưởng tư tưởng “mạt pháp” của Phật Giáo.

    [118] Âm Hán là Lộ Đài, một cái đài cao không có mai nối hai điện lớn là Tử Thìn và Nhân Thọ, là chỗ hội họp kín đáo trong cung. Ngày lễ có tổ chức múa hát. Theo C.G., còn có đấu vật và đá cầu.

    [119] Âm Hán là Triêu Hướng Gian, nơi thiên hoàng dùng bửa điểm tâm.

    [120] Có thể kẻ ra vài cái tên như Tử Thìn Điện, Thanh Lương Điện, Chu Tước Môn, Kiến Lễ Môn chẳng hạn.

    [121] Nguyên văn Jin (Trận) hay Jin no Za (Trận Tọa) trong nghĩa “trận mạc” tức chỗ các công khanh bàn luận về chính trị, nghi lễ. Còn viết là “Trần” như “trình bày”.

    [122] Thế là người Nhật đã thích ngủ gật từ ngày xưa rồi!

    [123] Tên gọi Fujiwara no Kintaka (Đằng Nguyên, Công Hiếu, 1253-1305), thái chính đại thần từ năm 1302, chức của ông ngang với thủ tướng ngày nay. Có thể có quen biết với Kenkô, người mà từ năm 19 tuổi đã làm một chức quan nhỏ lo việc nghi lễ trong cung. Đoạn này nói về những hồi ức về cuộc sống trong cung mà Kenkô đã từng trãi.

    [124] Nội Thị Sở, nơi giữ một trong 3 quốc bảo là cái kính thần (Yata no Kagami). Khi thiên hoàng ngự đến đấy khấn nguyện, các nữ quan rung chuông nhỏ.

    [125] Saiô hay Itsuki no Miko, âm Hán là Trai Vương, chữ dùng để chỉ cô công chúa chưa chồng, thay mặt thiên hoàng ra tu ở đền thần. Thể nghiệm bản thân của Kenkô có lẽ là chuyện xảy ra năm 1306, ông 24 tuổi, lúc công chúa Shôshi (Trang tử), con gái Thiên Hoàng Go-Uda (trị vì 1267-1324) ra ở No no Miya trước khi vào đền thần.

    [126] No no Miya hay Dã Cung là nơi công chúa được chọn làm Saiô được đưa đến. Công chúa sẽ phải cách tuyệt người đời để trai giới sạch sẽ trước khi phó nhậm đền Ise. Cung này là nơi ở tạm dùng cho giai đoạn chuyển tiếp giũa đời tục và đời tu. Di tích hãy còn ở cánh đồng Saga, gần Kyôto và cuộc sống ở đây đã được mô tả trong chương Kikaki truyện Genji.

    [127] Engishiki, tập nghi thức Thần Đạo đã chuyển hết ngữ vựng Phật giáo dưới dạng ngôn ngữ Thần đạo để phân biệt hai tôn giáo.

    [128] Tuy tama nghĩa là ngọc nhưng chỉ là một từ tu sức, hàm ý cao quý. Hàng giậu này, theo Truyện Genji cho biết, làm bằng tre.

    [129] Giây tua bằng sợi tướt từ vỏ cây.

    [130] Một loại lá cây luôn luôn xanh, các nhà tu thần đạo hay làm động tác phất qua phất lại để tẩy uế. Tên khoa học là cleyera ochnacea thuộc họ trà (camellia) (theo D.K.)

    [131] Những ngôi đền chính trong số 22 ngôi có truyền thống và nổi tiếng ở Nhật. Ở đây, cách liệt kê của Kenkô có vẻ giống kiểu viết của Sei Shônagon.

    [132] Sông Asuka gần Nara, nơi có kinh đô xưa là một hình ảnh quen thuộc trong thi ca Nhật Bản. Tập Kokinshuu có câu thơ như sau: Yo no naka wa / Nani ka tsune naru / Asukagawa / Kinô no fuchi zo / Kyô wa se ni naru. Ý nói: Ở đời này có gì vĩnh cữu đâu! Sông Asuka hôm qua là vực sâu nay là con lạch.

    [133] Fuchi: vực sâu. Se: con lạch (cạn).

    [134] Câu này cũng lấy ý từ bài tựa Kokinshuu. Xuất xứ từ Trường Hận Ca Truyện của Trần Hồng: Thời di, sự khứ, lạc tận, bi lai.

    [135] Ý câu thơ chữ Hán của Sugawara no Fumitoki (Quản Nguyên, Văn Thì, 899-981) thấy trongWakan Ryôeishuu.: Đào lý bất ngôn, xuân kỷ mộ. Yên hà vô tích, tích thùy thê (Đào lý không nói gì, đã mấy chiều xuân rồi. Đi vào khói sóng không để lại dấu vết, hỏi xưa chốn này ai ở) . Sử Ký cũng có chép: Đào lý bất ngôn, hạ tự thành hề (Đào lý không nói gì, dưới chân tự thành lối đi, Lý Tướng Quân Truyện).

    [136] Điện Kinh Cực do Fujiwara no Michinaga cho xây trên đại lộ cùng tên. Cháy năm 1054.

    [137] Pháp Thành Tự, nơi Michinaga vào tu năm 1018 khi từ giã chính trường. Ông chết ở đây năm 1027.

    [138] Đối lập giữa ý chí con người và sự việc. Sách Monzui (Bản Triều Văn Túy) có câu: Lạc tận ai lai, chí lưu sự biến. Đây nói về ý chí sắt đá của quyền thần Fujiwara no Michinaga không ngăn nỗi sự tàn phá của thời gian.

    [139] Tên tôn kính để gọi quyền thần Fujiwara no Michinaga.

    [140] Nơi đặt tượng Phật chính trong chùa.

    [141] Niên hiệu Chính Hòa (1312-1317). Không biết chính xác nam môn cháy năm nào.

    [142] Muryôju.in (Vô Lượng Thọ Viện) chính ra cũng đã bị cháy năm 1331, chứng tỏ Kenkô đã viết đoạn này trước biến cố đó.

    [143] Mỗi tượng tượng trưng cho một cõi trời. Trượng sáu (jôroku) hay 4,85m là hai lần chiều cao truyền thuyết của Phật A Di Đà (tám thước ta).

    [144] Quan tham nghị cấp cao Fujiwara no Yukinari (Đằng Nguyên, Hành Thành, 972-1027) còn có thể đọc theo âm Hán cho trang trọng là Kôzei (Hành Thành). Chữ Gaku (ngạch, cai trán) có nghĩa là hoành phi hay trướng.

    [145] Minamoto no Kaneyuki (Nguyên, Kiêm Hành), trấn thủ vùng Yamato, giỏi viết chữ. Năm sanh năm mất không rõ, phỏng đoán là người hoạt động khoảng 1053-65. Theo học giả Inenaga Saburô, ông ta chỉ viết chữ lên cửa sau này thôi.

    [146] Còn gọi là Tam Muội Đường, thờ Phổ Hiền Bồ Tát.Tòa nhà dùng cho tăng phái Thiên Thai tụng kinh Pháp Hoa.

    [147] Sách Mông Cầu có viết: “Ông Mặc Tử buồn cho sợi tơ. Ông Dương Chu khóc khi thấy ngã rẽ” Mặc Tử bi ti, Dương Chu khấp kỳ. Hai sự tích này từng được nhắc trong thiên Thuyết Lâm, sách Hoài Nam Tử: Ông Mặc Tử thấy người ta nhuộm tơ mà buồn vì biết nó sẽ hết trắng mà biến thành vàng hoặc đen. Ông Dương Chu thấy ngã rẽ mà khóc vì con đường có thể về Nam hay về Bắc. Ý thương xót cho những thay đổi làm mất sự trinh nguyên buổi ban đầu cũng như nỗi khổ tâm của con người trong cuộc sống khi phải đứng trước sự chọn lựa.

    [148] Bài này là một trong 100 bài tuyển từ 1600 bài viết giữa 1099-1103 do 16 nhà thơ viết, được dâng lên Thiên Hoàng Horikawa vào năm 1104.

    [149] Cảm xúc của Kenkô trước cảnh thất vọng của cựu hoàng Hanazono vì sự thay bậc đổi ngôi ngoài ý muốn của mình. Năm đó (1318) , cựu hoàng mới 22 tuổi và tân quân Go-Daigo 31 tuổi (hai người thuộc hai dòng vua khác nhau). Sách chép hôm ấy buổi lễ đã diễn ra trong mưa.

    [150] Ý nói Thiên Hoàng Go-Daigo (Hậu Đề Hồ, trị vì 1318-1339), người cho chí đánh đổ mạc phủ, trung hưng vương thất.

    [151] Ám chỉ Thiên Hoàng Hanazono (Hoa Viên, tại vị 1308-1318) Ông đóng vai cựu hoàng (shin.in) từ 1318 đến 1333.

    [152] Bài thơ này không thấy chép ở đâu cả. Người ta ngờ nó phát xuất từ một bài khác của Minamoto no Kintada (Nguyên, Công Trung, 889-948) có từ xưa, đã đăng trong Shuuishuu (Thập Di Tập, 995): Tonomori no / Tomo no miyakko / Kokoro araba / Kono haru bakari / Asagiyomesu na.

    Ý nói: Hỡi những người làm việc tạp dịch trong cung (miyakko) ơi! Nếu các ngươi có một chút lòng. Thì nội mùa xuân nầy thôi. Hãy nhịn đừng có quét vườn vào buổi sáng.

    Dĩ nhiên bài này có một hàm ý khác (xin đừng quét lối hoa anh đào rụng để giữ vẻ đẹp đáng yêu của mùa xuân) và được sử dụng như một honka (bài thơ gốc) cho bài của cựu hoàng Hanazono vốn chỉ có nội dung cay đắng.

    [153] Khi người Nhật chỉ nói hana (hoa) thôi thì phải hiểu là hoa anh đào.

    [154] Kenkô muốn phúng thích sự bỏ chủ cũ để chạy theo chủ mới của người đời trong một thời đại có nhiều biến động. Sau đó, Nhật Bản sẽ bước vào thời phân ly thành hai triều đình Nam (đóng ở Yoshino) Bắc (đóng ở Kyôto).

    [155] Dòng liên tưởng tiếp tục đoạn này với các đoạn 23, 24 và 27 ở trên, nói về các tập tục nghi thức trong cung.

    [156] Thời gian gọi là ryôan (lượng ám) nghĩa là “thành thực trầm ngâm suy xét”. Thiên hoàng cư tang cha, mẹ mình hay bậc trưởng thương ngang vai họ. Thời gian thường là một năm.

    [157] Cung giả nơi thiên hoàng tạm trú, xa cách mọi người. Ngày xưa, thời gian ra ở đây kéo dài 13 tháng, nay rút ngắn, chỉ ở tượng trưng có 13 hôm.

    [158] Có ý nghĩa là gần với mặt đất và người chết hơn.

    [159] Vì dùng những màu chìm và tối như màu sơn đen, màu nâu hạt dẻ.

    [160] Nguyên văn là nagakiyo (đêm dài) mà thôi. Thế nhưng, nhân vì trong tập Wakan Ryôeishuu có câu “Thu dạ trường, trường dạ. Vô miên, thiên bất minh” và “Mạn thảo, lộ thâm, nhân định hậu”. nên các nhà dịch qua kim văn thường nhận định đó là “đêm thu dài ”(thu dạ trường) , “sau khi mọi người đã ngủ yên” (nhân định hậu)

    [161] Có thuyết cho rằng người “dùng vật đã quen tay” này không phải bản thân tác giả mà là một người đã mất hay vắng mặt.

    [162] Âm Hán là Trung Ấm, còn đọc là Chuu.u (Trung Hữu), thời gian tính từ một niệm (60 đến 90 sát na) đến vĩnh viễn nhưng thường được ấn định là trong vòng 49 ngày (shijuuku.nichi) , để kẻ chết thác sanh vào kiếp khác. Cứ mỗi bảy ngày, họ có một cơ hội để đầu thai, mau hay chậm là tùy công đức của mình.Gia đình sẽ tụng niệm để người chết thác sanh vào nơi hạnh phúc.

    [163] Thường thường đền, chùa và nghĩa trang nằm ở những nơi xa vắng như ven núi.

    [164] Những việc như nhập quan, tống táng, đọc kinh, cúng tế vv…

    [165] Câu trong Văn Tuyển: Khứ giả nhật dĩ sơ. Lai giả nhật dĩ thân.Xuất quách môn trực thị. Đản dĩ khâu dữ phần (Cổ Thi Thập Cửu Thủ).

    [166] Thơ Bạch Cư Dị: Hóa tác lộ bàng thổ.Niên niên xuân thảo sinh.(Tục Cổ Thi Thập Thủ Đệ Nhị. Bạch Thị Văn Tập).

    [167] Cũng là câu trong Văn Tuyển: …Cổ mộ lê vi điền. Tùng bách thôi vi tân. Bạch dương đa bi phong. Tiêu điều sầu sát nhân.Tư hoàn cố lý lữ. Dục qui đạo vô nhân. (Cổ Thi Thập Cửu Thủ).

    [168] Thơ Bạch Cư Dị: Cổ mộ hà đại nhân. Bất tri tính dữ danh. (Tục Cổ Thi Thập Thủ Đệ Nhị. Bạch Thị Văn Tập).

    [169] Theo truyền thống, người Nhật hay nhắc đến thiên nhiên trên đầu bức thư để hỏi thăm. Hơn nữa, cảnh tuyết rơi dễ xui nhớ bạn. Trong phần nhan đề “Giao Hữu” (Kôyuu) trong tập thơ Wakan Ryôei-shuu có hai câu thơ chữ Hán của Bạch Cư Dị (772-846) và một bài waka của Taira no Kanemori (?-990). Câu thơ của ông Bạch như sau: Cầm thi tửu hữu giai phao ngã, Tuyết nguyệt hoa thì tối ức quân” (Bạn rượu, đàn, thơ đều bỏ tớ. Bên hoa, tuyết, nguyệt, nhớ mình ai). Thơ Kanemori: Trong núi tuyết rơi đầy. Lấp hết cả đường đi. Một mình ngóng hình bóng. Người ngỡ đến hôm nay. (Shuu-I shuu, Đông. Bài Yamasato wa / Yuki furitsumite / Michi mo nashi / Kyô komu hito wo / Aware to wa mimu).

    [170] “Người nào đó” có sác xuất lớn là một ông bạn cũ nhưng nhiều thuyết ngờ rằng đây là một người đàn bà vì văn từ trong thư trả lời rất cung kính kiểu văn phụ nữ. Hơn nữa, xưa vẫn có câu nói: “Nếu sáng tuyết rơi nhớ đến người đàn bà thì tối sáng trăng sẽ cất bước tìm nàng”. Dù trong đời Kenkô rất ít thấy hình bóng đàn bà nhưng qua đoạn văn này, ông dùng lối tu từ mitate nghĩa là đặt mình vào trường hợp người khác.

    [171] Ngày 20 tháng 9 âm lịch nhằm tiết vãn thu, lúc mà đêm tàn trăng vẫn còn treo trên trời (ariake no tsuki). Mùa của luyến ái.

    [172] Có lẽ là một nhà quí tộc (như đại thần Horikawa Tomomori), người mà lúc chưa xuất gia, Kenkô từng phục vụ.

    [173] Có thể phỏng đoán là nơi cư trú của một người đàn bà.

    [174] Người con gái biết thưởng thức cảnh tuyết rơi (đoạn 31) và người con gái lịch sự còn nhìn theo sau khi tiễn chân khách (đoạn 32 này) là hai hình ảnh đối xứng nhưng cùng chia sẻ một số phận hẩm hiu (chết sớm). Nó cũng nói lên sự mong manh, vô thường của cái đẹp, đúng theo quan điểm của Kenkô: hể đẹp thì mong manh nhưng vì mong manh nên mới đẹp.

    [175] Vì hỏa tai xảy ra liên tiếp, người ta phải xây cất cung thất mới, mô phỏng theo mẩu điện Kan.in (Nhàn Viện Điện).

    [176] Thiên hoàng Hanazono (Hoa Viên). Nhà vua đã dọn vào cung mới năm 1317.

    [177] Bà Genkimon.in (Hoàng thái hậu Huyền Huy Môn), tên thật là Fujiwara Inko, mẹ của Thiên Hoàng Fushimi và như thế, vai bà nội đương kim thiên hoàng (Hanazono). Mất năm 1329, thọ 84 tuổi.

    [178] Cung điện cũ của 8 đời Thiên Hoàng. Bà Genkimon.in đã từng ở đó tới năm 14 tuổi (lúc bà là phi tần trẻ của Thiên Hoàng Go Fukakusa), và rất quen thuộc với kiến trúc của điện này. Nhất là cửa sổ điện Kan.in là cái lổ hổng hình bán nguyệt, cửa thông duy nhất để từ trong cung cấm bà có thể nhìn ra thế giới sinh hoạt của các triều thần bên ngoài.

    [179] Kiến trúc ngày xưa đơn sơ không chuộng đẽo gọt, hoa hòe. Câu chuyện này không những muốn ca ngợi trí nhớ bền bĩ và sự thông hiểu của hoàng thái hậu mà còn nói lên tinh thần phục cổ của Kenkô.

    [180] Âm Hán viết là Giáp Hương. Ngày xưa người Nhật hay nghiền vỏ sò để làm hương từ vỏ ốc hình miệng loa và gọi đó là “loại hương làm từ vỏ ốc, vỏ sò” (bối hương) và cũng đọc là Kaikô. Chữ Bối (ốc sò) và Giáp (vỏ, mai) đều đọc qua âm Nhật là Kai.Hương đạo cũng là một nghệ thuật của Nhật được đưa lên hàng đạo như trà đạo, vũ đạo, cung đạo, kiếm đạo, hoa đạo... Xem chương 32 Umegae (Cành Mơ) nói về “Cuộc Thi Hương Thơm” trong Truyện Genji thì hiểu.

    [181] Horagai, âm Hán là Pháp Loa Bối. Một loại sò lớn, dài khoảng 40cm, thường dùng làm loa hoặc tù và được các nhà sư hay quân đội dùng như một phương tiện thông tin thô sơ.

    [182] Kanazawa đây không phải là thành phố lớn cùng tên phía tây Nhật Bản mà là một thị trấn nhỏ niền đông gần Yokohama, ngày xưa tên đọc là Kanesawa. Đồng bằng Musashi ám chỉ khu vực quanh Tôkyô bây giờ.

    [183] Chưa truy nguyên được ý nghĩa của chữ này nhưng theo S.M. các nhà chú thích cho rằng đây là một tiếng lóng của dân sở tại vùng Tôkyô, có liên quan đến tính dục và không được thanh nhã. Cái tên henatari thông tục tương phản với việc người ta dùng nó để chế tạo hương thơm, một sản phẩm có tính văn hóa và được dùng trong giới thượng lưu xã hội ở Kyôto. S.M. còn tự hỏi tại sao đoạn này lại nằm giữa 3 đoạn trên và 3 đoạn dưới có vẻ nói về phụ nữ.

    [184] Kenkô nổi tiếng là người viết chữ đẹp đã đành nhưng ở đây, có lẽ ông phê bình thái độ phụ nữ hơn là phê bình cách viết chữ của họ. Ông cảm được thái độ ngây thơ, thành thật (câu trên) và thái độ khách sáo, không thành thật (câu dưới) của người đó. Không có gì “phiền” hơn khi những điều thầm kín viest trong thơ phải qua tay một người thứ ba!

    [185] Trong tiếng Nhật cổ, từ “thăm” (otozuru) không chỉ là “đi thăm” mà còn hàm ý “thư từ thăm hỏi, cho hay tin tức”.

    [186] Ban cho một cơ hội làm lành?

    [187] Dĩ nhiên làm gì cần cậu giúp việc nào ngoài “kẻ bạc tình” và một kẻ ấy mà thôi. Dùng chữ jichô (người giúp việc, kẻ làm tạp dịch) là đã đủ để “trả thù” rồi.

    [188] Có thuyết cho rằng Kenkô chỉ giả thác như thế thôi chứ nhân vật nam trong đoạn này chính là ông.

    [189] Hai chữ quan trong trong câu này là chôseki (sáng chiều) và hedate-nashi (không ngăn cách). Tuy không nói rõ người thân này là đàn ông hay đàn bà nhưng các nhà chú thích e rằng đây là một nhân vật nữ, có liên hệ vừa tinh thần vừa thể xác với người trong cuộc. Có lẽ tình cảm hai người đã “lờn” đi vì thời gian chăng?

    [190] Theo văn mạch, cũng có thể hiểu là phụ nữ.

    [191] Hậu Hán Thư: Vị tôn, thân nguy, tài đa, mệnh đãi (Chức lớn, thân nguy hiểm, lắm tiền, dễ tiêu mạng).Thơ của tăng Hàn San đời Đường cũng có câu : Tài đa mệnh đãi.

    [192] Trong Monzen (Văn Tuyển) bài Hồng Hộc Phú có câu: Bất hoài bảo chỉ cổ hại hề. Bất sức biểu chỉ chiêu lụy. (Không giữ của để rước hại chừ. Không diện bên ngoài để mua vạ),

    [193] Ý thơ Bạch Cư Dị: Thân hậu đồi kim trụ Bắc Đẩu. Bất như sinh tiền nhất tôn tửu (Khuyến Tửu. Bạch Thị Văn Tập).

    [194] Ý nói giàu có sang trọng. Sách Mông Cầu nói về Tư Mã Tương Như có câu: Đại xa phì mã.

    [195] Trang Tử, thiên Thiên Địa: Tàng kim ư sơn, tàng châu ư uyên. Thế nhưng, câu trong Văn Tuyển: Quyên kim ư sơn. Trầm chu ư uyên, thì gần ý đó hơn.

    [196] Cái danh không chôn vùi mục nát. Bạch Thị Văn Tập: Long Môn nguyên thượng thổ. Mai cốt bất mai danh.

    [197] Văn Tuyển (trong Thơ tuyệt giao Sơn Đào tức Sơn Cự Nguyên), Kê Khang viết: Lão Tử,Trang Chu, ngô chi sư dã. Thân cư tiện chức. Liễu Hạ Huệ, Đông Phương Sóc, đạt nhân dã. An hồ ti vị. Ngô khởi cảm đoản chi dã.

    [198] Sách Trang Tử (thiên Đức Sung Phù) có viết: Khí dự, cơ khát, hàn thử, thị sự chi biến, mệnh chi hành dã.

    [199] Sách Liệt Tử: Dương Chu: Sở hiếu tử hậu danh. Phi sở thủ dã. Trong Tấn Thư, truyện Trương Hàn: Sử ngã hữu thân hậu danh. Bất như tức thời nhất bôi tửu.

    [200] Ý trong sách Lão Tử Đạo Đức Kinh: Đại đạo phế, hữu nhân nghĩa. Trí tuệ xuất, hữu đại ngụy.

    [201] Tư tưởng “khả” và “bất khả” trong Trang Tử, thiên Tề Vật Luận: Phương khả phương bất khả. Phương bất khả phương khả. Nhân thị nhân phi, nhân thị nhân định. Thị dĩ thánh nhân, bất do nhi chiếu chi vu thiên.

    [202] Quan niệm “nhị trí” trong kinh Phật: bày tỏ được chân lý là thực trí (tri thức tuyệt đối) , những hiện tượng bộc lộ ra và được dùng như phương tiện gọi là quyền trí (tri thức tương đối).

    [203] Sách Trang Tử Nam Hoa Kinh, thiên Tiêu Dao Du có câu: Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh”. Có ba điều kiện này tức là bậc chân nhân (con người lý tưởng).

    [204] Ma Kha Chỉ Quán (594) , sách Phật đời Tùy giảng giáo lý phái Thiên Thai có nói về thái độ người đi ở ẩn là “thu cái đức, để lộ tì vết, khoe cái khùng, dấu cái thực” (súc đức, lộ hà, dương cuồng, ẩn thực). Tuy nhiên, Kenkô cho rằng làm như thế cũng không đúng.

    [205] Thơ Đổ Phủ: Thán tức nhân gian vạn sự phi. ( Cú Giải dẫn). Vạn sự giai phi đăng hạ lệ. Nhất sinh bán mộ nguyệt tiền tình (Bàn Trai Sao dẫn).

    [206] Sách Hòa Luận Ngữ cho người đến hỏi đạo ngài Hônen là Sasaki Shirô Takatsuna, một vũ sĩ đã tham dự trận đánh nổi tiếng bên cầu Uji, sau lánh đời trên núi Kôyasan.

    [207] Ngài Hônen tức Pháp Nhiên thượng nhân (1133-1212) khai tổ phái Tịnh Độ. Ông chủ trương chỉ cần niệm Phật A Di Đà sẽ được vãng sinh cực lạc.

    [208] Kenkô kính trọng Hônen đến nỗi sau mỗi câu Hônen phát biểu chỉ biết tấm tắc “đáng kính thay”. Bao lần Tịnh Độ tông của Hônen bị đàn áp nhưng lúc nào nó cũng bền vững vì biết đi sâu vào lòng dân. Là một học giả vô song nhưng Hônen thấy cần bài trừ giáo điều phiền toái, giản dị hóa cách tu hành đến mức tối đa. Ông lại rộng lòng cưu mang mọi người, khuyến khích cả những tín đồ còn thiếu căn cơ.

    [209] Xứ Inaba nay thuộc phía đông tỉnh Tottori, miền Tây Nam đảo Honshuu.

    [210] Ông bố xuất gia này được mang danh xưng nyuudô (nhập đạo) thì không phải thường dân, ít nhất là người trong hoàng tộc hay quan từ tam phẩm trở lên. Có lẽ ông là một hào tộc có danh vọng trong vùng.

    [211] Thời trung cổ đã có nhiều chuyện “Ông bố xuất gia và cô con gái”. Các ông bố xuất gia như hai quyền thần Fujiwara no Michinaga (966-1027) và Taira no Kiyomori (1118-1181) rất tích cực trong việc gả chồng cho các con gái là Shôshi và Tokushi (lấy hai Thiên Hoàng) để thỏa mãn tham vọng nới rộng thế lực dòng họ và kết tinh tình thương của họ nơi các cô. (Đã xuất gia mà còn tham luyến như thế đấy). Chuyện ông bố xuất gia xứ Inaba này xảy ra hai ba trăm năm về sau (thế kỷ 14), lúc thời thế đã khác, có thể làm cho nhiều người liên tưởng đến chuyện xưa (thế kỷ 11, 12) mà cười nụ nhưng cùng lúc, thương cảm cho nỗi thất vọng của ông già.

    [212] Cuộc đua ngựa từng cặp ở đền thần đạo Kamo (Kyôto) vào dịp mồng năm tháng năm để tìm hiểu tính năng của ngựa chứ không hẳn lấy nhanh. Thật ra thường được tổ chức vào mồng 1 tháng năm và có tên là Umahase.

    [213] Đây là một trong một số đoạn ít oi (như đoạn 238 Tự khen mình) mà tác giả Kenkô xuất hiện như vai chánh.

    [214] Đọc đoạn này, cảm tưởng của người Nhật (như S.M.) là thấy hiện ra khung cảnh và không khí của một ngày sơ hạ, lúc người ta dễ buồn ngủ. Ngồi trên cao, nắng ấm, gió mát, chả trách!

    [215] Bạch Thị Văn Tập: Nhân phi mộc thạch giai hữu tình. Bất như bất ngộ khuynh thành sắc (Tân Nhạc Phủ bài Lý Phu Nhân). Truyện Genji chương Kagero (Chuồn chuồn) cũng lặp lại với ý tương tự.

    [216] Chuujô (Trung Tướng) là bậc thứ hai trong cập chỉ huy ngự lâm quân. Tướng Karahashi tên thật là Minamoto no Masakiyo (Nguyên, Nhã Thanh, 1182-1230). Còn là một nhà thơ waka, đã xuất gia ở ẩn trên ngọn núi Tônomine năm mới 43 tuổi.

    [217] Âm Hán là Nhã Hành tăng đô. Tăng đô (Sôzu) là hàng thứ tư trong giáo phẩm đạo Phật thời ấy (D. K.). Chuyện này không thấy đâu chép và việc ông là con của tướng Karahashi cũng chưa chắc chắn.

    [218] Nguyên văn kyôsô (giáo tướng). Phật giáo Mật Tông phân biệt giáo tướng (kyôsô, phần lý luận ) và sự tướng (jisô, phần áp dụng thực tiễn).

    [219] Nguyên văn “ki no agaru byô” , S.M. giải thích là bệnh xông máu, mặt mày đỏ ửng. C.G. dịch “xung huyết não (congestion). D.K. hiểu như bệnh xây xẩm, mất thăng bằng (dizzy spells).

    [220] Mặt nạ cho người đóng vai hề trong bugaku, điệu múa đền thần. Mặt nạ vai hề nữ già gọi là Hareomote (Thũng Diện) hay “mặt sưng phù”.

    [221] Đoạn 41 vừa nói cái chết có thể xảy ra lúc nào không biết, đoạn 42 này nói về một thứ bệnh quái ác, có chung dòng liên tưởng. Ông không phê phán gì Gyôga Sôzu hay người cha của ông ta (tướng Karahashi cùng họ với gia đình Horikawa, nơi mà Kenkô có thời giúp việc). Hình như ông chỉ muốn đưa ra một ví dụ thực cụ thể nhằm chứng minh một người đạo đức và dòng dõi cũng có thể vướng lấy cảnh khổ (nghiệp bệnh) như bất cứ ai?

    [222] Phòng phía nam thường dùng cho khách đến thăm.

    [223] Đây là một đoạn văn đặc biệt trong đó Kenkô đưa ra hình ảnh một người đàn ông đáng yêu. Tác giả tỏ ra đã đi xa hơn sự hiếu kỳ thường nhật.

    [224] Đoạn 43 vừa nói về một cậu công tử trước cảnh cuối xuân thì đoạn 44 này lại nói về một cậu công tử trong cảnh sáng mùa thu. Không phải là giũa hai đoạn không có sự liên tưởng. Và cả với đoạn 31 (Sáng tuyết rơi) và 32 (Ngày 20 tháng 9) về hai người con gái cũng có một gạch nối nào đó.

    [225] Trong văn chương thời trung cổ “phên trúc cửa tre” tượng trưng cho lối sống thoát tục của người ở ẩn. Trúc biên, thảo am, sài hộ, tùng môn… là những ước lệ. Thơ Fujiwara Kintô có câu: Thảo sáng chủ nhân vân ngoại hậu. Trúc biên khách xá vũ trụy thì. (Tân Soạn Lãng Vịnh Tập).

    [226] Nguyên tác Kariginu, áo thụng khoác ngoài của quí tộc mặc hằng ngày.

    [227] Có thể hiểu như cúng dường hoặc truy điệu vong linh.

    [228] Gió tỏa mùi hương áo xống các nàng?

    [229] Tên tắt của Fujiwara Kin.yo (Đằng Nguyên, Công Thế, ? – 1301). Quan tùng nhị phẩm và là nhà thơ waka. Giỏi đàn tranh. Ông là một người mà Kenkô rất kính trọng và quí mến.

    [230] Âm Hán là Lương Giác tăng chính. Chức sôjô (tăng chính) đứng đầu hàng giáo phẩm một tôn phái.

    [231] Nguyên văn là Enoki (Hackberry). D.K. dịch là Nettle-tree. C.G. dịch là Micocoulier. Dù sao, theo từ điển, Enoki là một loại đại thụ, cao từ 10 đến 20m và đường kính thân cây từ 1 đến 3m, vỏ dùng làm thuốc. Đó là một loại cây có tính thiêng liêng, và cũng là nguồn gốc của những câu chuyện ma quái.

    [232] Một khu vực trong thành phố Kyôto.

    [233] Nguyên văn Gôdô no Hôin, âm Hán là Cường Đạo Pháp Ấn, Pháp Ấn (Hôin) là cách gọi tắt của Pháp Ấn Đại Hòa Thượng Vị, ngang hàng với Pháp Chính (Sôjô), chức vị đứng đầu hàng giáo phẩm.

    [234] Đọc câu thứ hai mới hú hồn. Tuy trong thời đại loạn lạc ấy không thiếu gì tăng nhân đi theo giặc cướp nhưng nhà sư của chúng ta chỉ là nạn nhân của bọn trộm chứ không nhập bọn với chúng. Không biết ông có gì để chúng lấy mãi, chứ người đời sau như tăng Ryôkan (1758-1831) thì đã có câu thơ: Trộm chôm hết của ta. Chỉ chừa trăng cài cửa.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  8. #8
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    PHẦN II (Đoạn 47 đến 110)



    Đoạn 47: Chuyện người đi lễ chùa Kiyomizu.
    Đoạn 48: Ngài Mitsuchika giảng kinh cho thái thượng hoàng.
    Đoạn 49: Đợi già đến mới tìm học đạo.
    Đoạn 50: Chuyện từ xứ Ise hồi năm Ôchô.
    Đoạn 51: Đầm nước của điện Kameyama.
    Đoạn 52: Nhà sư chùa Ninna ấy.
    Đoạn 53: Lại chuyện nhà sư chùa Ninna.
    Đoạn 54: Chú tiểu xinh trai chùa Omuro.
    Đoạn 55: Cất nhà.
    Đoạn 56: Người lâu ngày gặp lại.
    Đoạn 57: Bình luận thơ hay thơ dở.
    Đoạn 58: Nếu có lòng cầu đạo.
    Đoạn 59: Những ai muốn được cứu.
    Đoạn 60: Vị pháp chủ Jôshin ở viện Shinjô.
    Đoạn 61: Túc lệ ném niêu đất khi sinh đẻ.
    Đoạn 62: Vẻ ngây thơ của công chúa Ensei.
    Đoạn 63: Chủ tế buổi lễ Goshichi-nichi.
    Đoạn 64: Xe bò có treo tấm trướng năm sợi dây da.
    Đoạn 65: Mũ mãng thời nay.
    Đoạn 66: Đại thần Okamoto, chức Kanpaku.
    Đoạn 67: Hai điện nhánh Iwamoto và Hashimoto của thần xã Kamo.
    Đoạn 68: Quan tuần kiểm họ Mỗ ở Tsukushi.
    Đoạn 69: Cao tăng Shosha.
    Đoạn 70: Cuộc đi chơi Seishôdô năm Gen.ô.
    Đoạn 71: Tên tuổi gợi hình ảnh.
    Đoạn 72: Những cảnh khó coi.
    Đoạn 73: Chuyện người đời truyền tụng.
    Đoạn 74: Tụ tập như đàn kiến.
    Đoạn 75: Những người khổ tâm vì ngồi không.
    Đoạn 76: Chung quanh cửa quyền.
    Đoạn 77: Hồi đó, có người thế này.
    Đoạn 78: Những câu chuyện hiếm có và mới lạ nhất.
    Đoạn 79: Đừng tỏ ra ta đây rành rẽ.
    Đoạn 80: Ai cũng thích những của lạ.
    Đoạn 81: Chữ viết và tranh vẽ trên bình phong cửa kéo.
    Đoạn 82: Bìa sách bằng vải mỏng.
    Đoạn 83: Ngài tả đại thần đã xuất gia Chikurin.in.
    Đoạn 84: Ngài Pháp Hiển Tam Tạng qua Thiên Trúc.
    Đoạn 85: Lòng không ngay thật.
    Đoạn 86: Quan tham nghị Koretsugu.
    Đoạn 87: Cho phép người làm uống rượu.
    Đoạn 88: Một người nói về nét bút của Ono no Tôfuu.
    Đoạn 89: Con quái thú Nekomata trong núi sâu.
    Đoạn 90: Người giúp việc cho quan Dainagon Hôin.
    Đoạn 91: Chuyện xảy ra vào Ngày Lưỡi Đỏ.
    Đoạn 92: Người tập bắn cung.
    Đoạn 93: Người đi bán bò.
    Đoạn 94: Lúc quan Tướng Quốc Tokiwai lên sảnh đường.
    Đoạn 95: Thắt nút giây nắp hộp.
    Đoạn 96: Giống cỏ tên gọi Menamomi.
    Đoạn 97: Vật sống bám theo.
    Đoạn 98: Những lời dạy bậc cao hiền để lại.
    Đoạn 99: Quan Tướng Quốc Horikawa.
    Đoạn 100: Quan Tướng Quốc Koga.
    Đoạn 101: Người chuẩn bị lễ nhậm chức cho đại thần.
    Đoạn 102: Ngài, Mitsutada, chức In no Dainagon đã xuất gia
    Đoạn 103: Ở điện Daikakuji.
    Đoạn 104: Ngôi nhà trọ hoang vu.
    Đoạn 105: Tuyết tàn còn đọng bên tường bắc.
    Đoạn 106: Truyện cao tăng Shôkuu núi Koya.
    Đoạn 107: Trả lời câu hỏi của đàn bà.
    Đoạn 108: Không ai biết nuối tiếc thời gian.
    Đoạn 109: Người rành nghề leo cây.
    Đoạn 110: Người giỏi chơi cờ Sugoroku



    Đoạn 47:  Chuyện người đi lễ chùa Kiyomizu[1].

    Một người kia, nhân khi đi hành hương chùa Kiyomizu, làm bạn đồng hành với một ni sư lớn tuổi. Suốt đoạn đường, vì thấy bà ta lẩm bẩm hoài mấy chữ “Kusame, kusame”[2], ông ta mới hỏi: “ Sư bà ạ, tại sao cứ lặp đi lặp lại mấy câu đó thế?” . Bà kia chẳng nói chẳng rằng, tiếp tục lẩm bẩm. Bị hỏi đi hỏi lại mấy lần, bà ấy mới bực mình giải thích: “Ông cứ lải nhải! Khi nào mình bị hắt hơi[3] phải đọc câu thần chú này thì mới khỏi chết. Công tử mà tôi là vú em đang tu học trên chùa Hieizan[4]. Tôi lo bây giờ trên ấy cậu ấy có đang nhảy mũi hay không nên mới khấn khứa như thế đấy!”

    Ở đời có lẽ cũng hiếm người biết bày tỏ tấm lòng tận tụy như bà này[5].



    Đoạn 48: Ngài Mitsuchika [6] đến giảng kinh cho thái thượng hoàng.

    Quan thượng khanh Mitsuchika[7], giữ nhiệm vụ chấp sự giảng kinh Tối Thắng Vương[8] trong cung, khi đến ngự sở của Thái Thượng Hoàng[9] để thuyết giảng, lắm lúc được vời tới trước mặt người và cùng ngự thiện. Lần nào, sau khi nhuếnh nhoáng đụng đũa vào tất cả các món xong, ông ta cũng đẩy quách cái mâm nhiều tầng chất những đồ ăn đã nếm vào sau rèm, rồi cứ thế cáo lui. Mấy nữ quan phục dịch không bằng lòng bảo: “Chao ôi, người sao mà bẩn thế. Muốn bắt ai dẹp vào mấy thứ này đây![10]”. Thái thượng hoàng, ngược lại, chỉ biết cảm thán: “Ấy, cách ăn uống của bậc thức giả khác phàm là như thế. Không ai sánh với ông ấy được đâu !”[11].



    Đoạn 49: Đợi già đến mới tìm học đạo.

    Không nên đợi đến lúc về già mới bắt đầu tu đạo Phật, vì sẽ không còn kịp nữa. Hãy xem những ngôi mộ cổ kia, toàn của người chết trẻ.

    Ngã bệnh lúc nào không biết, rồi phút giây sắp vĩnh biệt thế gian mới ý thức được những sai lầm của đời mình. Chuyện gọi là sai lầm có gì lạ đâu: chuyện đáng lẽ phải làm bây giờ lại để sau rồi tính, chuyện thủng thỉnh suy nghĩ được thì hấp tấp làm ngay, chuyện đã qua đứt rồi, cuối đời còn đứng đó mà tiếc. Lúc ấy có hối thì được gì nào?

    Chỉ nên ghi lòng tạc dạ là cái chết đeo sát bên ta, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, và không giây phút nào được quên điều đó. Nếu sống và hiểu được như thế, ta sẽ không có gì tiếc nuối với cuộc đời và ngày càng vững lòng chuyên tâm theo con đường của Đức Phật.

    Sách Ôjô Juuin của ngài Yôgan chùa Zenrin[12] kể là xưa kia có bậc cao hiền, khi khách đến nhà, muốn bàn luận với ông về những điều cần thiết thì bỗng nghe ông ta trả lời : « Bấy giờ tôi còn có việc gấp như lửa cháy, gấp lắm, trước mắt, phải làm tức khắc ! »[13] rồi bịt tai, cất tiếng niệm Phật. Rốt cục, ông được vãng sinh cực lạc như ý nguyện.

    Ngoài ra, còn có nhà tu hành tên Shinkai[14], vì thấy cõi tam giới lục đạo (tức cõi đời) quá đỗi vô thường, cả chuyện yên tâm ngồi xuống cho đàng hoàng thôi ông cũng không sao làm được, nên lúc nào cũng ở trong tư thế lom khom chồm hổm (cho dễ bề di động).



    Đoạn 50: Hồi năm Ôchô[15] từ xứ Ise.

    Khoảng niên hiệu Ôchô, có gã đàn ông từ vùng Ise lên kinh đô, dắt theo một người đàn bà hóa quỉ[16]. Suốt hai mươi ngày đêm, hôm nào cũng vậy, người ở vùng Shirakawa[17] và kinh đô lấy cớ đi xem quỉ, làm náo loạn khắp nơi. Họ đồn đại ầm ĩ nào là : « Hôm qua quỉ nó vừa lên chơi trên chùa Saionji[18], hôm nay thế nào nó cũng ghé qua cung của thái thượng hoàng. Giờ đây chắc nó phải đang ở chỗ này, chỗ nọ... » vv...Tuy chẳng hề thấy ai lên tiếng xác nhận : « Chính mắt tôi trông thấy nó », thế mà không lấy có một người cho lời đồn đại về quỉ là chuyện bịa. Bất luận sang hèn, ở đâu thiên hạ cũng chỉ bàn tán có chừng ấy.

    Thời gian đó, một hôm nhân ta trên đường đi từ Higashiyama về phía viện Ago-i, thấy từ đại lộ Shijô cho đến phía bắc, người người đang ùn ùn chạy về hướng đó. Họ xôn xao : « Quỉ đang ở khu giữa Muromachi với Ichijô ấy ! ». Đứng trên mạn sông Imadegawa mà dòm thử xem thế nào thì thấy chung quanh chỗ khán đài đặc biệt dựng lên cho thái thượng hoàng ngự (khi đi xem hội Kamo), thiên hạ đã đứng chật nghẹt, đi qua không lọt. Nghĩ rằng như thế thì cái tin đồn kia không phải là chuyện dựng đứng, bèn xin phép người ta cho đến nơi xem tận mắt. Mới hay ra chẳng có ai trông thấy quỉ bao giờ. Thế mà thiên hạ cứ huyên náo mãi đến chiều tối, trước khi tan đám còn sinh ra những chuyện gây gỗ đáng tiếc nữa.

    Sau đó, hình như nhiều người mắc bệnh cảm mạo mất hai ba hôm. Vì vậy có kẻ bàn : « Cái tiếng đồn vô căn cứ về ma quỉ kia không hiểu có phải là điềm gỡ báo trước trận dịch đó hay không ! ».



    Đoạn 51: Đầm nước của điện Kameyama.

    Muốn đem nước từ ngoài sông Ôi vào đầm nước của điện Kameyama[19], dân làng Ôi [20] được lệnh làm guồng dẫn nước. Người ta chu cấp cho họ tiền nong hậu hĩ để làm việc đó. Phải mất một thời gian mới làm xong, đem ra sử dụng. Thế nhưng, guồng nước chẳng chịu quay cho. Sửa tới sửa lui mà đâu vẫn hoàn đấy, guồng vẫn không mảy may nhúc nhích.

    Lúc đó mới gọi bọn người làng Uji[21] đến và ra lệnh cho họ làm guồng nước. Bọn người làng này thoăn thoắt dựng lên một cái xong ngay và lần này, guồng nước quay như mọi người mong muốn. Cảnh nước được dẫn vào chan hòa trong cung trông thật đẹp mắt.

    Mới hay muôn sự, kẻ mà thạo nghề[22] thì bao giờ cũng được việc.



    Đoạn 52: Có nhà sư chùa Ninna[23].

    Ở chùa Ninna[24], có một vị sư, già rồi mà chưa có lần nào đi tham bái đền Iwashimizu[25]. Đó là điều ông canh cánh bên lòng. Một hôm nhớ ra, mới đơn thân lội bộ[26] đến đó hành hương. Thế nhưng sau khi xem cảnh chùa Kyokuraku và đền Kora[27] xong, chắc mẫm là nguyện ước đã đạt thành, bèn ra về.

    Đến nhà, ông quay sang nói với tăng chúng : « Chuyện tôi bao năm ước nguyện, bây giờ mới thực hiện được. Quả là một ngôi đền tôn nghiêm, hơn cả tiếng đồn về nó. Có điều khó hiểu là thiện nam tín nữ hành hương xong rồi, ai nấy cũng nhắm núi mà trèo lên nữa. Mình cũng tự hỏi trên đó không biết trên đó có gì chăng ? Thế nhưng lại nghĩ mục đích của mình là đi thăm đền thần chứ phải leo núi đâu nên tôi chẳng lên tới đỉnh ngắm cảnh làm gì ».

    Dẫu là việc nhỏ nhưng có người hướng dẫn phải hay hơn không !



    Đoạn 53: Lại chuyện nhà sư khác ở chùa Ninna.

    Đây cũng là chuyện một nhà sư chùa Ninna. Có một chú tiểu đến tuổi thành sư, người ta mới tổ chức ăn mừng để chú ta khỏi còn luyến tiếc khi giã từ hình dáng thiếu niên[28]. Trong buổi lễ, cả bọn mới rủ nhau làm trò múa hát. Một nhà sư trong đám, đã say khướt, lấy một cái vạc con có ba chân kiếm ở đâu bên cạnh đem chụp ngược lên đầu mình. Vì cái vạc không trùm được vững vàng nên ông ta mới ấn mũi mình xuống để nhét cho được cả khuôn mặt vào trong đó, rồi bước ra múa. Cả bọn cùng mâm tiệc say sưa nhìn, tán thưởng[29].

    Múa được một hồi, nhà sư mới nghĩ đến chuyện gỡ cái vạc đang đội ra nhưng không tài nào làm được. Khi tiệc rượu tàn và tỉnh cơn say, mọi người mới tìm cách để tháo nó nhưng đành chịu phép. Trong khi đang xoay cách này thử cách khác, da chung quanh đầu nhà sư bị lột ra, máu me ròng ròng rồi sưng tấy lên làm cho cái vạc càng lúc càng khó tháo và ông bị nghẹt thở. Lúc đó, bọn họ định đập vỡ cái vạc ấy ra nhưng đâu có dễ dàng như vậy. Ông kia không chịu nỗi tiếng đập inh tai nên rốt cục họ phải ngưng. Hết còn biết phải làm sao, bọn họ đành trùm một tấm màn vải để dấu cái đầu nhà sư, lúc này giống như đang mọc ba cái sừng. Họ đưa ông ta cây gậy chống (để lần bước) rồi nắm tay kéo đến nhà một danh y ngoài phố Kyôto. Dọc đường, thiên hạ nhìn theo ngán ngẫm. Khi vào nhà ông lang, cảnh tượng ông lang và nhà sư đối diện với nhau, trông kỳ khôi hết sức. Ông lang bảo :

    - Chứng trạng như ông đây chưa có sách thuốc nào đề cập tới mà từ xưa, không thấy ai truyền lại phương pháp hay để chữa chạy!
    Hết nước, nhà sư ấy đành phải lui về chùa Ninna. Bà mẹ già và thân thuộc xúm xít đầu giường khóc thương thảm thiết [30]nhưng có lẽ tiếng khóc ấy chẳng lọt được vào lỗ tai của ông ta.

    Trong khi mọi sự diễn tiến như thế, có kẻ đề nghị :

    -Cho dù sứt tai sứt mũi, chắc gì đã chết. Thôi thì chúng mình hợp sức mà kéo bật ra hộ ông ấy !

    Họ bèn lấy lõi rơm mịn chèn chung quanh xen kẻ giữa cái vạc và lớp da đầu của nhà sư rồi hè nhau lấy hết sức kéo tưởng chừng giật đứt cả cái đầu. Mũi và tai bị bay mất chỉ còn sót lại mấy cái lỗ đánh dấu sự kiện khủng khiếp đó nhưng dù sao mọi người cũng đã kéo bật cái vạc ra được. Mạng ông ta tuy có thoát cảnh nguy ngập nhưng vết thương có lẽ chẳng bao giờ lành.



    Cả bọn cùng mâm tiệc say sưa nhìn, tán thưởng (Đoạn 53)



    Đoạn 54: Chú tiểu xinh trai ở điện Omuro.

    Ở điện Omuro[31] tức nơi cư ngụ của các vị hoàng tử ra tu ở chùa Ninna, có một chú tiểu lanh lợi xinh trai[32]. Bọn tăng nhân nghịch ngợm muốn lập kế hoạch rủ rê chú ta ra ngoài chơi. Họ mới hội ý với bọn du tăng (tức tăng sĩ chuyên diễn trò mùa hát)[33], ra công làm một vật đựng đồ ăn thức uống trông như cái hộp cơm trang trí thật hoa mỹ, mang ra một chỗ nên thơ ở vùng đồi Narabigaoka[34] và chôn dưới đất. Trên đó họ còn rải phủ lên một lớp lá hồng (tức lá phong mùa thu trở màu đỏ) để che dấu. Thế rồi, làm bộ tự nhiên như không có chuyện gì, họ lên điện Omuro nơi chú tiểu ấy ở để thăm và khéo léo mời được chú đi chơi.

    Bọn tăng nhân làm ra vẻ hết sức hớn hở, tung tăng dạo bước khắp nơi, rồi lần bước đến chỗ có thảm rêu xanh nơi dấu hộp thức ăn dưới lớp lá. Họ cùng nhau ngồi xuống :

    -Chao ơi, mệt quá ! À này, đây có lá hồng, phải chi được người nào hâm rượu[35] cho mình nữa thì hết ý nhỉ ! Sư huynh nào xưa nay cầu gì được nấy, thử khấn Trời Phật hộ cái nào!

    Nói với nhau xong, họ tiến tới gần gốc cây nơi chôn hộp thức ăn, làm bộ lần tràng hạt, bắt quyết,[36] đọc chú, giỡ đủ mọi thứ lăng nhăng. Cuối cùng, họ cào hết xác lá lên xem nhưng không tìm ra được vật gì cả. Tưởng là mình nhớ nhầm chỗ, cả bọn lại tiếp tục xông xáo đào bới tiếp khắp nơi trên đồi. Không vẫn hoàn không. Thực ra thừa lúc cả bọn rủ nhau lên Omuro, có người trông thấy họ dấu cái hộp đã cuỗm nó đi mất. Bọn tăng nhân không biết nói gì để chữa thẹn, buông lời chữi bới lẫn nhau, rồi giận dữ quay về.

    Mới thấy việc gì bày trò quá công phu thì kết quả dễ trở thành tẻ ngoét.



    Đoạn 55: Cất nhà.

    Về cách cất nhà, phải cất sao để sống cho thoải mái vào mùa hạ. Mùa đông, sống ở đâu cũng được nhưng vào mùa hạ, không có gì khó chịu hơn nếu nếu nhà mình ở không thích hợp với khí hậu oi bức.

    Dòng suối giả dẫn nước nếu sâu sẽ không mát. Nước cạn và luôn luôn chảy cho ta cảm giác mát mẻ hơn nhiều. Để có thể thấy (đọc) những vật (dòng chữ) nhỏ, phòng trang bị cửa kéo (ra kéo vào được) sáng hơn và tiện lợi hơn là phòng có liếp che. Nếu trần cao, khi mùa đông đến, sẽ lạnh và ánh đèn không đủ tỏa sáng hết cả gian. Người ta thường đồng ý với nhau rằng, trong việc xây cất nhà cửa, nếu có làm dôi ra vài chỗ trống không mục đích gì thì cũng rất hay, bởi vì ngắm thôi đã đủ thích mà có khi còn dùng được vào trăm thứ việc.



    Đoạn 56: Người lâu ngày gặp lại.

    Gặp lại người lâu ngày xa cách, thật là khó chịu khi chỉ nghe anh (cô) ta thao thao bất tuyệt đủ thứ chuyện đã xảy ra cho bản thân trong khoảng thời gian đó. Dù trong chỗ thân tình đến đâu[37], bẵng đi ít lâu mới gặp nhau, thường thường phải biết giữ ý một chút chứ nhỉ ? Người thiếu nhân cách thì dù mới bước chân đi đâu đó chút xíu thôi, khi trở về đã mê mãi nói gần hụt hơi về những điều gây ấn tượng cho anh (cô) ta như chuyện đó đang xảy ra trước mắt. Còn những người có phẩm hạnh thì thái độ nói chuyện của họ là cho dù ở chỗ đông người, họ chỉ hướng về một người mà nói, những người khác tự nhiên sẽ lắng tai chăm chú nghe theo. Kẻ thiếu nhân cách không thế đâu ! Anh (cô) ta chẳng cần biết có đối tượng nào đang ở trước mặt, cứ chen vào giữa đám đông, kể huyên thiên khoái trá những chuyện như mình đang thấy trước mắt, làm cho ai nấy đều phải phá lên cười. Ta còn có thể định được giá trị cao thấp của người nghe ở chỗ họ có tỏ ra điềm đạm khi được kể cho nghe những chuyện hay và ý nhị hoặc cười ầm lên trước những chuyện tưởng là thích thú nhưng thực ra ngốc nghếch.

    Ngoài ra, không gì khó chịu cho ta hơn là trong những dịp đánh giá về dáng dấp đẹp xấu hay trình độ văn hóa cao thấp của ai đó mà trong đám bình luận gia có học vấn, có kẻ cứ đem cái tôi ra làm tiêu chuẩn để so sánh.

    Đoạn 57: Bình luận thơ hay thơ dở.

    Trường hợp có sự tương phản giữa giai thoại thi ca người ta dẫn ra để tô vẽ những bài thơ waka trong khi chính bản thân các bài thơ ấy lại dở là cái dễ làm mình cụt hứng hơn cả[38].

    Nếu là người hiểu biết chút ít về việc sáng tác thơ thì không ai tha thiết đến cái thứ giai thoại ấy.

    Nói chung, gặp phải những ai không rành rẽ về một lãnh vực nào mà thích phát biểu[39], dù mình là kẻ bàng quang cũng cảm thấy bực bội, không muốn nghe.



    Đoạn 58: Nếu có lòng cầu đạo.

    « Nếu có lòng cầu đạo thì sống ở đâu lại chẳng được. Ở ngay trong nhà mình, tiếp xúc với người chung quanh như thường mà vẫn dốc lòng tu Phật để kiếp sau được siêu sinh thì có gì bất tiện đâu ! ». Nhưng những kẻ tuyên bố kiểu đó tỏ ra không hiểu tí gì về cách tu để vãng sinh cực lạc [40]. Nói trắng ra, nếu đã biết rằng cuộc đời là mong manh bèo bọt và phải tìm cho được sự giác ngộ thì vui thú gì mà họ còn sáng tối theo hầu chủ quân hay dồn hết tâm lực lo chuyện gia đình. Cái tâm vốn biến đổi dễ dàng theo sự lôi kéo của nhân duyên [41], nếu tâm ta không thanh tĩnh thì việc tu hành đạo Phật sẽ rất khó khăn.

    Người thời nay đâu có được cái bản lãnh của cổ nhân nên dù họ có muốn vào chốn núi rừng[42], nếu không chuẩn bị tinh thần để chịu đựng đói khát, chống cự mưa bão thì không tài nào sống nổi. Đôi khi, ta còn thấy họ bị những dục vọng thế gian lôi kéo mất. Nói thì nói vậy, luận điệu phê phán : « Nếu thế, việc lánh đời chẳng có ý nghĩa. Đã biết là không thực hiện được gì cả, cớ sao cứ phải lánh đời ! » thì ta cũng không thể chấp nhận. Bởi lẽ con người một khi đã vứt bỏ thế gian và chọn đường tu Phật thì trong lòng có dậy lên sự ham muốn chăng nữa, lòng tham dục[43] ấy cũng không thể sánh bằng lòng dục mãnh liệt của người đời. Đồ ngủ bằng giấy, áo xống sô gai, đồ ăn vỏn vẹn một bình bát, canh nấu bằng rau dại...những thứ họ cần chỉ có chừng đó thì dù phải ăn xin ai, họ cũng chả gây tốn kém cho thiên hạ bao nhiêu. Những thức đó có thể được người ta cho dễ dàng và khi đã có là lòng họ mãn nguyện ngay. Hiểu rằng mình là kẻ đã lánh đời nên họ cũng biết hỗ thẹn và cẩn thận lấy thân [44], dầu có tí ti ham muốn nhưng hầu như trong mọi trường hợp, đều biết lánh điều ác để hướng thiện.

    Đã được sinh ra làm người [45] và muốn xứng đáng với danh vị ấy, không gì tốt hơn là chấp nhận mọi khó khăn để có thể từ bỏ thế gian [46]. Nếu bị dục vọng che lấp hoàn toàn và không lập chí đi theo con đường giác ngộ [47] thì dù mang tiếng làm người, có khác gì muông thú [48] đâu !



    Đoạn 59: Những ai muốn được cứu.

    Những ai lập chí đi theo đường Đại Ngộ phải dẹp ngay tức khắc, không đoái hoài gì đến những điều lòng mình thiết tha, tưởng như không làm là không dược. « Hượm cho một chút để tôi làm nốt chuyện này đã ! ». « Bề gì tôi cũng bỏ đi tu mà, cho tôi tính xong vụ nầy đi ! ». « Nếu cứ giữ nguyên thế này, không khéo thiên hạ rủa tôi mất. Để họ khỏi phiền trách, cho tôi thanh toán gọn ghẽ việc này rồi tôi sẽ đi tu ! ». « Chuyện này chờ đợi đã quá lâu rồi, nán thêm một tí nữa đến khi mọi sự xong xuôi cũng chẳng mất thời giờ lắm đâu. Thủng thẳng rồi hãy quyết định !». Lý luận kiểu đó sẽ làm cho những việc coi như là bổn phận tất nhiên sẽ chồng chất lên nhau và chuyện phải làm nối tiếp không bao giờ cho dứt. Tóm lại, sẽ chẳng bao giờ có ngày phát nguyện đi tu. Thường thường chỉ cần biết suy xét một chút, ta sẽ thấy tâm tư và hành động của người sống ở trên đời đều như thế cả.

    Khi lửa đã cháy tới nhà hàng xóm rồi, người đáng lẽ phải tị nạn ngay không thể còn bảo : « Lửa ơi, chờ ta thêm chút xíu ! ». Nếu muốn cứu lấy mình thì mặc quách hổ thẹn, thây kệ dèm pha, vứt bỏ cả tài sản để mà lánh cho nhanh. Tính mệnh là cái vô tình, nó chẳng đợi lúc mình tiện hay không tiện. Sự chết tập kích ta còn nhanh hơn nước, lửa và rất khó thoát thân. Lúc đó không lẽ vì cho rằng cha mẹ già, con cái thơ dại, ơn của vua, tình với người là những cái khó lòng dứt được mà còn khăng khăng giữ lấy hay sao ? [49]



    Đoạn 60 : Vị pháp chủ Jôshin ở viện Shinjô.

    Ở viện Shinjô[50] chùa Ninna, có một pháp chủ đạo đức lại học rộng tên gọi Jôshin Sôzu[51]. Ông có món khoái khẩu, một loại khoai tên gọi imogashira[52], ăn mãi không biết chán[53]. Ngay cả khi ngồi ở bục giảng kinh, bên cạnh đầu gối phải có một bát lớn đầy ắp khoai để vừa nhấm nháp khoai vừa đọc sách. Gặp lúc mắc bệnh, mượn tiếng chữa trị, lui vào thiền phòng sống một mình có khi bảy ngày, có khi hằng mười bốn ngày liên tiếp, chọn những củ khoai thượng hảo hạng, ăn thực là nhiều. Bệnh nào cũng phải lành. Ngược lại, ông chẳng mời ai ăn khoai mà chỉ ăn một mình. Xưa kia ông hết sức nghèo, tôn sư của ông khi viên tịch có để lại cho hai trăm quan tiền[54] và một thiền phòng. Thế nhưng, ông đã bán thiền phòng với giá một trăm quan, quyết định dùng tất cả ba trăm quan để ăn khoai[55]. Ông bèn để nó cho một người quen biết ở kinh đô giữ hộ, mỗi bận cứ trích ra mười quan một, gửi cho ông. Ông chỉ dùng tiền vào việc mua khoai xơi chứ không chi dụng món gì khác. Thế mà chẳng bao lâu, món tiền đó đã sạch ráo. Thiên hạ mĩa mai : « Đã nghèo đến thế, được ba trăm quan tiền vào tay mà lại tiêu béng kiểu này thì quả là người đạo đức cao dày!»

    Có lần Jôshin gặp một nhà sư, ông đặt cho người đó cái tên diễu là Shiroururi[56]. Khi người ta hỏi shiroururi là vật như thế nào thì ông bảo : « Tôi cũng chẳng biết vật ấy là gì nhưng nếu có thì nó phải giống cái mặt ông sư nọ ».

    Tăng quan Jôshin mặt mũi sáng láng, lại có sức mạnh, ăn khỏe, chữ đẹp, học vấn cao, lại giỏi đối đáp. Ông là người tài mạo hơn người, trong chốn thiền lâm được kính trọng, được xem như một danh tăng đáng đại diện cho đồng đạo (phái Chân Ngôn). Thế nhưng ông lại là người khác đời, không coi trọng thường thức, làm gì cũng cứ làm theo ý mình chứ không hề cư xử rập khuôn đường lối của ai cả. Sau những buổi làm xong pháp sự ra đến chỗ thụ trai, không đợi cho người ta bày biện thức ăn xong xuôi, hễ thấy trước mặt mình đã đặt xong cỗ là cứ một mình xơi trước. Khi nào muốn về, tự tiện đứng lên rời khỏi chiếu tiệc. Dù là cơm trưa hay cơm tối, không bao giờ ăn cùng giờ với mọi người. Khi muốn ăn thì dù cho nửa đêm hay hừng sáng cũng ăn, còn lúc buồn ngủ, giữa ban ngày cứ việc đóng kín cửa phòng, cho dù có chuyện gì quan trọng, cũng không thèm lắng tai nghe người ta nói. Khi đã mở mắt ra rồi, mấy đêm cũng không cần ngủ, cứ đi lòng vòng ngâm thơ để thanh tâm thoát trần. Thật là một lối sống không giống ai.Thế nhưng, chẳng thấy ông ta bị ai ghét cả, mọi việc, người ta chỉ đưa mắt nhìn một cái rồi thôi. Như thế, ông này có phải là người có đạo đức cao hay không đây[57] ?



    Đoạn 61: Tục lệ ném niêu đất khi sinh đẻ.

    Tục ném niêu đất từ trên nóc điện xuống (cho vỡ) khi các bà mệnh phụ phu nhân sinh con[58] không phải là một tập quán thông thường. Chỉ được dùng như một thứ bùa phép giải nạn mỗi khi thời gian hậu sản[59] của họ kéo ra quá dài mà thôi. Trường hợp mẹ tròn con vuông không cần phải làm.

    Đây là một tục lệ xuất phát từ dân gian cho nên không hiểu nguồn gốc thế nào. Loại niêu đất dùng trong trường hợp này là niêu do làng Ôhara[60] sản xuất và mang lên. Trong những tranh xưa còn lưu truyền lại như bảo vật [61], có vẽ cảnh đập niêu khi người nào đẻ khó.



    Đoạn 62: Vẻ ngây thơ của công chúa Ensei.

    Bà Enseimon.in[62] lúc còn thơ, có nhờ người lên hầu thái thượng hoàng[63] chuyển giùm mấy vần thơ waka (bà gửi cho phụ vương như sau) :

    Futatsu moji
    Ushi no tsuno moji
    Sugu na moji
    Yugamu moji to zo
    Kimi wa oboyuru

    Một chữ có hai nét,
    Một chữ giống sừng bò.
    Chữ thẳng, chữ cong vòng,
    Xếp thành lòng nhớ bố.
    [64]



    Đoạn 63 : Chủ tế buổi lễ Goshichnichi

    Tập quán điều động các vũ sĩ để bảo vệ vị tăng chủ chùa Tôji chủ tế cuộc lễ Goshichinichi[65] bắt nguồn từ xưa khi có lần bọn đạo tặc gây rối loạn tấn công chủ tế trong cuộc lễ.Những người lính nầy được gọi là tonoibito (lính túc trực) và dần dần họ được chỉ định giữ trật tự cho buổi lễ. Vì sự hung kiết của một năm có thể nhìn thấy trước qua cuộc hành lễ cho nên việc sử dụng những vũ sĩ cảnh bị vào việc này là chuyện không thỏa đáng[66].



    Đoạn 64 : Xe bò có treo tấm trướng năm sợi giây da.

    Có một vị bảo ta hay là không phải chỉ có người thuộc giai cấp đặc biệt được đánh loại xe bò mà trước rèm có treo tấm trướng kết bằng năm sợi giây da[67]. Thật ra, loại xe dành cho bất cứ ai mà gia đình đã đạt được chức vị những nhà quan cực phẩm[68] triều đình.



    Đoạn 65 : Mũ mãng thời nay.

    Gần đây, chiều cao của những cái mão quan có vẻ cao lên hẳn so với trước kia. Những kẻ có hộp đựng mũ kiểu xưa phải gắn thêm vè hai bên hộp để hợp với loại mũ mới.[69]



    Đoạn 66 : Đại thần Okamoto, chức Kanpaku[70].

    Ngài Okamoto[71], chức Kanpaku, có lần đem một cành mơ hồng kèm theo đôi chim trĩ[72], ra lệnh cho người nuôi dạy chim ưng trong phủ là Shimotsukeno no Takekatsu[73] gắn đôi chim trĩ lên trên cành hoa cho mình. Lúc đó Takekatsu bèn thưa : « Thần không biết cách gắn chim với hoa. Hơn nữa, cũng không nghe nói đến việc gắn một cặp chim lên cùng một cành ». Nghe thế, ngài Okamoto bèn đem chuyện đó hỏi đầu bếp và những người chung quanh mà ông nghĩ là rành rẽ, nhưng rốt cục đành gọi Takekatsu trở lại : « Thôi thôi, cứ gắn cho ta theo ý nhà ngươi cũng được ! ». Lúc đó, Takekatsu mới gắn chim vào một cành mai không hoa, và chỉ gắn một con thôi, rồi dâng lên.

    Takekatsu trình bày[74] như thế này :

    -Nếu ghép chim lên cành cây, phải ghép lên cành gỗ tạp hay một cành mai lúc hoa vừa mới chớm nụ hoặc đã rụng hết. Cành tùng năm lá cũng dùng được. Chiều dài của cành phải cỡ độ sáu hay bảy shaku[75], lại dùng dao mà cắt xéo xuống ở đầu cành, phía đối diện thì tiện ngược chiều lên ngắn khoảng năm phân[76]. Đặt con chim trĩ vào khoảng giữa cành, gắn chân chim lên một nhánh và thân nó lên một nhánh khác[77]. Để nối hai chỗ với nhau, phải dùng loại dây tử đằng lá rủ chưa ra hoa. Phải cắt đầu sợi dây sao cho vừa vặn với độ dài của cái « cánh giả »[78] và uốn cong nó lại như sừng bò.

    Buổi sáng lúc tuyết đầu mùa rơi, (người dâng chim) vác cành cây lên vai, đỉnh đạc uy nghiêm từ cửa chính khu vườn đi vào chầu[79] trong hoàng cung. Thế rồi, (người đó) sẽ bước từ tốn trên lối nhỏ trải đá bên hiên, không để lại dấu vết trên màu trắng mới tinh khôi, vặt một ít nhẹ lông trên lưng chim rải trên mặt tuyết và dựng cành cây lên lan can cao nối hai tòa nhà của ngự sở. Nếu được (bề trên) ban lộc gì thì lại đặt nó lên vai[80], làm lễ tạ ơn rồi ra về. Trong trường hợp gọi là tuyết đầu mùa nhưng tuyết rơi ít quá không đủ che mũi giày thì không vào dâng chim. Tập tục vặt lông lưng chim để rải ra tượng trưng việc chim ưng săn hay tấn công con mồi bằng cách quặp phần yếu ở cuối lưng, là (nghi thức) để tỏ ra rằng chính chim ưng (thiên hoàng) nuôi đã thực sự bắt được con mồi này[81].

    (Takekatsu còn nói ):

    Việc người ta không gắn chim trĩ vào cành hoa, tất phải có cớ. Một đoạn trong Truyện Ise[82] nhắc đến việc người kia, vào khoảng tháng chín (đầu thu), đem gắn con chim trĩ lên một cành mơ giả để đi tặng kèm theo một vần thơ ý nói :

    Để dâng lên người,
    Bẻ một cành mơ.
    Hoa chẳng lựa mùa,
    Như lòng không đổi.

    Thế nhưng đâu có việc gì phải phân bua bởi vì hoa ở đây chỉ là hoa giả[83].



    Đoạn 67: Hai điện nhánh Iwamoto và Hashimoto của thần xã Kamo

    Hai điện nhánh[84] Iwamoto[85] và Hashimoto[86] của thần xã Kamo[87] thờ hai nhà thơ Narihira và Sanekata làm thần. Người đi lễ thường nhầm lẫn thần của hai điện (vốn cất kề bên) với nhau. Có một năm, trong lúc đi thăm đền, tình cờ ta gặp một ông từ già giữ điện, mới chận lại hỏi thăm về chuyện này thì ông cho biết :

    « Tương truyền người nào đi viếng ông Sanekata[88] thì khi đến con sông « rửa tội » Mitarashi[89] sẽ thấy bóng ma của ông ta in trên dòng nước. Đó là đền Hashimoto. Vì đền này gần dòng nước hơn là đền Iwamoto, cho nên tôi mới phân biệt được đó là nơi thờ ông ấy. Còn câu thơ mà Hòa thượng Yoshimizu[90] vịnh :

    Tsuki wo mede
    Hana wo nagameshi
    Inishie no
    Yasashiki hito wa
    Koko ni ariwara[91]

    Nơi đây người tao nhã,
    Của một thời đã qua.
    Ngắm trăng và trầm mặc
    Thương xót những mùa hoa.

    ngụ ý nói về đền Iwamoto, nơi vương tử Ariwara no Narihira[92] sau này đã trở thành thần. Thế nhưng những người (trí thức) như ngài chắc phải hiểu rõ vấn đề hơn chúng tôi nữa chứ! »

    Câu trả lời khiêm tốn[93] của ông làm ta cảm kích.

    Có bà tên gọi Konoe[94] hầu ở phủ hoàng thái hậu Imadegawa[95] vốn có nhiều bài thơ được chọn đăng vào các tuyển tập soạn theo sắc chiếu. Bà ấy hồi còn trẻ có làm các tập trăm bài thơ[96], rồi dùng nước sông trước hai cửa đền để pha mực chép lại và dâng lên cúng thần. Bà rất nổi tiếng, nhiều người thích ngâm thơ bà. Còn được ái mộ vì tài thơ chữ Hán và tài đề tựa các thi tập[97].



    Đoạn 68 : Quan tuần kiểm họ Mỗ ở Tsukushi.

    Ở vùng Tsukushi[98] có quan tuần kiểm[99] họ Mỗ chuyên lo tiễu trừ quân gian. Ông ta tin rằng củ cải là một thứ thuốc hay trị bá bệnh cho nên từ lâu năm sáng nào cũng nướng hai củ mà ăn.

    Một hôm trong đồn binh, nhân lúc vắng người, kẻ địch đến bao vây tiến đánh. Bỗng thấy hai tráng sĩ không biết ở đâu xuất hiện, chiến đấu không tiếc tính mạng, đẩy lùi quân địch đi mất. Ông lấy làm ngạc nhiên, mới hỏi : « Thường ngày có được bái kiến hai vị bao giờ đâu, sao lại ra sức chiến đấu dũng cảm như thế. Chẳng hay quí ngài là ai vậy ? ». Họ bèn trả lời : « Thường ngày vẫn được ông đoái hoài. Chúng tôi chính là hai củ cải mà ông vẫn xơi mỗi sáng đấy ạ ! ». Nói xong thì biến mất.

    Nhờ lòng tin sâu sắc[100] như thế nên công đức có ngày được báo đền vậy.



    Đoạn 69 : Cao tăng Shosha.

    Ngài Shosha[101], một vị cao tăng nhờ công đức nhiều năm tụng kinh Pháp Hoa, đã đạt đến chỗ lục căn đều thanh tĩnh (nhờ đó, có thể nghe mọi thứ âm thanh). Một hôm trên đường du lịch, nhà sư dừng chân lại ở một căn nhà trọ, nghe tiếng sùng sục của những hạt đậu ninh dưới ngọn lửa chụm bằng vỏ đậu. Tiếng ấy bảo : « Sao ruột thịt với nhau mà chúng bay lại nhẫn tâm thiêu đốt chúng tao thế này. Bọn tao hận chúng bay lắm đấy! ». Vừa xong, thấy vỏ đậu kêu lốp đốp khi bị lửa đốt và nhà sư nghe chúng nó trả lời : « Bộ chúng mày tưởng bọn tao thích như thế này lắm hay sao ! Bị đốt bỏng cả mình mẫy như có làm gì khác được đâu. Đừng giận chúng tao chi nhá ! »[102].



    Đoạn 70 : Cuộc đi chơi Seishôdô năm Gen.ô[103].
    Chuyện xảy ra vào dịp xa giá đi chơi Seishôdô[104] vào năm Gen.ô[105] nguyên niên nhân dịp lễ tạ ơn được mùa sau khi thiên hoàng đăng quang. Lúc ấy cây đàn tì bà Genjô[106], bảo vật trong cung, đã biến đâu mất tích, quan đại thần Kikutei [107]phải dùng cây Bokuba[108]. Sau khi yên vị, ông kiểm tra trục gắn dây đàn. Vừa lúc ấy, một trục bị sút ra. Tuy nhiên, đại thần đã lấy ngay hồ bằng cơm mà ông chuẩn bị sẳn trong áo trét lên gắn nó lại. Cho đến lúc tấu nhạc lên tế thần thì hồ vừa vặn khô, không gây trở ngại gì cho buổi lễ cả. Chẳng hiểu có thù hận điều gì mà nghe nói một người đàn bà[109] choàng cái áo lụa kazuki trong đám quan khách đã tiến gần đến chiếc đàn Bokuba, giật sút trục đàn ra và để hờ lại nó như cũ không cho ai biết.



    Đoạn 71 : Tên tuổi gợi ra hình ảnh.

    Nghe tên ai ta thường tưởng tượng ngay được hình ảnh người đó. Thế nhưng trên thực tế, khi gặp mặt mới biết khuôn mặt họ không giống những gì ta đã tưởng tượng. Nghe kể chuyện xưa cũng vậy, ta nghĩ ngay là chuyện ấy từng xảy ra ở chỗ này chỗ kia trong ngôi nhà cũ của người đó cũng như đang xảy ra trong ngôi nhà ta thấy trước mắt. Ngay đối với những nhân vật từng đóng vai trò nào đó trong câu chuyện, ta cũng hay ghép họ vào với người đang có mặt. Phải chăng đó là một hiện tượng khá phổ thông ?[110]

    Lại nữa, không hiểu vì sao, đối với lời nói của một người thời bây giờ đang đứng trước mặt ta, và chính tình cảm mà ta đang có, ta thấy như đã từng nghe, từng cảm thấy một lần đâu đó trong quá khứ rồi. Tuy không khẳng định được thời điểm nhưng nhất quyết điều đó đã xảy đến cho ta. Không lẽ đó là kinh nghiệm mỗi mình ta từng trải thôi sao ?[111]



    Đoạn 72 : Những cảnh khó coi.

    Khó coi là những cảnh thế này![112] Ngay chỗ mình ngồi mà chất dụng cụ bừa bãi. Cạnh nghiên mực lại bày bút tứ tung. Trong gian thờ Phật chưng tượng la liệt. Vườn thì để cây cỏ và đá quá nhiều. Trong nhà con cháu quá đông. Ngồi truớc mặt ai mà lắm lời. Làm sớ để thỉnh nguyện thần phật điều gì mà chỉ dài dòng kể tốt về mình.

    Cái tuy có nhiều nhưng nhìn vào không bực mắt họa chăng là sách vở đầy vun xe sách[113] và rác rưỡi chất đống ở chỗ đổ rác mà thôi.



    Đoạn 73 : Chuyện người đời truyền tụng.

    Chẳng hiểu có phải vì sự chân thực không có gì hấp dẫn hay sao mà những chuyện thế gian truyền tụng thường là láo khoét [114].

    Theo ngày tháng, mấy chuyện người ta đã thổi phồng rồi, nếu còn được mang đi kể tới kể lui ở những nơi xa xôi (người nghe không có phương tiện kiểm chứng), sẽ được vẽ vời thêm cho đặc sắc. Khi chúng được viết ra thì thiên hạ bèn chấp nhận như là chuyện thật. Những chuyện về tài nghệ phi thường của ai đó trong lãnh vực này lãnh vực nọ, nếu là người thô lậu, không phân biệt thực hư thì sẽ ca ngợi họ như thần thánh. Thế nhưng kẻ học thức không thể tin suông những chuyện đó. Giữa đồn đại và sự thực hãy còn một khoảng xa ngăn cách.

    Kẻ không để ý rằng mình đã đi xa sự thực, cứ để những điều dối trá tuôn ra ngoài cửa miệng thì thiên hạ sẽ biết ngay anh ta ăn nói không có căn cứ[115]. Hơn nữa, khi chính bản thân người kể cũng còn không tin mà thuật lại y như người khác kể cho mình, vênh váo[116] ra chiều mãn nguyện, thì lời nói dối ấy không phải là của anh ta.[117] Người đáng sợ là kẻ thuật lại một câu chuyện dối như là sự thật, đôi chỗ cố tình làm mù mờ một vài chi tiết, làm bộ như không nhớ chính xác những gì đã xảy ra, nhưng cẩn thận không để cho kết cấu câu chuyện thiếu ăn khớp[118].

    Thường người ta không tích cực phủ nhận những lời nói dối đem lại danh tiếng cho mình[119].

    Trong khi một số người nghe một cách thích thú một lời nói dối nào đó, nếu ta quyết định rằng mình không nên làm kẻ duy nhất lên tiếng phản đối : « Không, chuyện đó không xảy ra như thế đâu mà ! » vì xét rằng vô ích, thế rồi cứ im lặng ngồi nghe, vô tình ta sẽ thành một nhân chứng và do (sự mặc nhận)[120] đó, câu chuyện kia lại mang màu sắc đích thực hơn nữa.

    Dù sao, ở đời đầy dẫy chuyện dối trá. Có điều nếu ta cứ xem cho là những chuyện tầm phào và không để tâm nghe chúng là tránh được phiền phức. Chuyện do bọn thấp hèn kể ra, có nhiều cái làm ta dựng đứng lỗ tai. Còn chuyện của những người đàng hoàng thường không có gì lạ lùng khó tin cả[121].

    Nói thế thôi chứ còn những sự tích kỳ lạ chung quanh chư thần chư Phật, hay truyền kỳ về sự hóa thân của các Bồ Tát thì ta không cần phải nghi ngờ gì nữa. Ta chẳng điên rồ gì mà chấp nhận không suy xét về những hủ tục mê tín dân gian nhưng nếu bảo : « Ối chào, làm gì có chuyện đó ! » thì cũng không tốt. Nói chung, cứ để yên như chúng là chuyện có thực tuy không nhất thiết đặt sự tin tưởng của mình vào đó, không tỏ ra nghi ngờ một cách máy móc và cũng không cười cợt người tin.



    Đoạn 74 : Tụ tập như đàn kiến.

    Kiến tụ tập thành đàn[122], đi về mọi hướng đông tây nam bắc. Con người cũng thế. Đã sinh ra ở đời, có kẻ cao sang mà cũng có kẻ thấp hèn. Có người già, người trẻ. Mỗi một người đều có chốn ra đi, một mái nhà để trở về. Chiều tối đi ngủ, sáng mai thức dậy. Sống như thế để đeo đuổi mục đích gì đây? Thế mà người ta cứ muốn sống mãi sống hoài và thêm nhiều lợi lộc.

    Lo lắng bảo trọng thân xác mình để đợi điều chi vậy ? Đúng hẹn với ta thì chỉ có cái già và cái chết. Chúng nó đến mau tất tật và quá trình đó không hề ngừng lại dù một chớp mắt[123]. Trong khi chờ đợi nó đến, biết lấy gì để làm vui ? Những kẻ đang đắm đuối trong mê muội thì chẳng sợ già, cũng chẳng sợ chết, ví dụ như khi bị danh lợi làm cho lòa mắt thì đâu chịu quay lại để thấy rằng giây phút cuối của cuộc đời đã đến sát mình rồi. Hơn nữa, những kẻ ngu muội lại hay lo lắng khổ sở về cái chết. Buồn cười là họ mong muốn sao cho tấm thân mình không bao giờ thay đổi[124] mà không biết rằng sự chuyển hóa của vạn vật là đạo lý của cuộc đời.



    Đoạn 75: Những người khổ tâm vì ngồi không.

    Tâm trạng của những người thở than sầu khổ vì tháng ngày trống rỗng, không biết làm gì, nó ra sao nhỉ ? Trong hoàn cảnh đó, (như trường hợp của ta thì nhờ) cái tâm không bị ngoại vật chi phối nên ta sẽ bằng lòng với cảnh một thân một mình.

    Nếu sống mà chạy theo người đời, tâm ta dễ bị những kích thích của ngoại giới làm cho lầm lạc. Còn khi giao tiếp với người hay phải thổ lộ điều gì, cần phải xem chừng để nói những điều người ta muốn nghe thành thử đâm ra lừa dối chính mình. Đùa cợt hay tranh chấp với người đều dễ sinh ra vui buồn, hận thù, làm cho lòng mình không được bình yên. Còn như suy nghĩ về việc được mất[125], đâm ra có nhiều tính toán so bì [126] sẽ bị loạn tâm. Khi tâm trí đã loạn, ta (mất lý tính) giống như kẻ say, và tình trạng say sưa sẽ dẫn đến mộng mị. Con người ta ai cũng vậy, cứ sống ồ ạt mà không biết mình đang chúi mũi chạy theo cái gì thì sẽ đánh mất con người thật của mình.

    Người chưa hoàn toàn giác ngộ trên con đường tu Phật, nhưng biết lìa bỏ cám dỗ trần tục, đem thân ra gửi nơi nhàn tĩnh, không còn liên hệ đến việc đời, có được tấm lòng bình thản, thì cho dù chỉ là trong thời điểm hiện tại, có thể nói là đã được mãn nguyện.

    Trong sách Maka Shikan đã có lời dạy : « Mưu sinh, thù tạc, tài nghệ, học thức đều là đầu mối của sự mê lầm. Phải dứt bỏ ! »[127].



    Đoạn 76: Chung quanh cửa quyền.

    Nơi dinh cơ của kẻ được thời đắc thế, khi có dịp quan hôn tang tế, giữa đám đông ra vào tấp nập, lại có những nhà sư khất thực đã lánh đời trà trộn vào, chầu chực để xin được tham dự. Quang cảnh đó làm ta tự hỏi vì cớ nào họ phải lụy đến thế.

    Cho dù có lý do gì xứng đáng đi chăng nữa, đã là tăng nhân thì phải lánh xa thế tục.



    Đoạn 77 : Hồi đó có người thế này.

    Thật không thể nào chấp nhận được là ở đời, vào thời điểm nào đó, có những giai thoại được người ta mang đi nói hết chỗ này đến chỗ nọ như món quà thời thượng. Kẻ chẳng liên hệ nếp tẻ gì cũng tỏ ra hiểu biết hết ngọn ngành, không những đem nó ra đàm tiếu với mọi người, lại còn dọ hỏi chỗ khác cho giàu thêm chi tiết nữa. Đặc biệt có những tăng sĩ [128] đã lánh đời, đem thân gửi chốn thâm sơn cùng cốc, lại còn hăng hái đi tìm hiểu về hành vi của những người thế tục như thể nó dính líu đến mình. Họ phóng ra những tin tức mà ta phải ngạc nhiên tự hỏi làm sao họ lại có thể thông thạo đến thế.



    Đoạn 78 : Những câu chuyện hiếm có và mới lạ nhất.

    Cũng thế, ta không thể nào chịu được việc người ta tỏ ra gắn bó đặc biệt với những chuyện hiếm có và mới lạ nhất rồi làm ầm lên thái quá.Ta thích lối xử trí thanh tao của kẻ lẳng lặng làm ngơ cho đến khi chuyện mới lạ đó trở thành cũ mèm.

    Khi có một người bạn nào mới ở đâu đến nhập bọn với chúng ta, kẻ mất dạy và thô lỗ[129] sẽ nhắc đến những tên tuổi và bàn về những đề tài mà chỉ những ma cũ đang đứng chung quanh mới quen thuộc. Anh ta sẽ nói những câu hiểu ngầm, ném từng cái nhìn đồng lõa, cười đùa có hậu ý với những người này để cho ông bạn mới, vì chả hiểu ất giáp gì, sẽ cảm thấy mình quê kệch.



    Đoạn 79: Đừng tỏ ra ta đây rành rẽ[130].

    Trước một vấn đề, cứ giữ thái độ không hiểu biết thấu đáo là tốt hơn cả. Người lỗi lạc thì cho dù chuyện có nắm vững chăng nữa, cũng làm ra vẻ mình chỉ biết sơ sơ.

    Chính cái anh nhà quê mới bước chân ra từ hốc núi mới là kẻ khi bàn luận điều chi, đối đáp như thể ta đây cái gì cũng biết, cái gì cũng rành. Vì là người dám lấy thái độ như thế, chắc hẳn anh chàng cũng có tài cán về một phương diện nào đó đáng để đời nể phục. Dù vậy, cái cách thức anh ta trình bày hiu hiu tự đắc về mình trông thật khó coi.

    Gây ấn tượng tốt cho ta là loại người ăn nói thận trọng cho dù khi bàn về vấn đề mình nắm rõ và không mở miệng nếu người khác không đặt câu hỏi.



    Đoạn 80 : Ai cũng thích những của lạ.

    Con người ta đều thích những gì không dính dáng tới (cuộc sống thường nhật của) mình cho lắm. Cho nên nhà sư thì thích võ nghệ, trong khi vũ sĩ các tỉnh miền Đông[131] dường như chưa biết cách dương cung mà đã rành Phật pháp, thích họp nhau làm thơ renga[132], khổ sở để trau dồi âm nhạc. Bởi vì hai loại người này không tích cực đeo đuổi chuyên môn của mình mà lại đua đòi những ngón nghề thứ yếu cho nên càng ngày càng không tránh khỏi việc bị người đời khinh miệt.

    Không riêng gì các nhà sư, ngay cả tầng lớp thượng lưu như công khanh hay quan lại được quyền lên điện, đa số đều thích võ nghệ. Cho dầu đánh trăm trận thắng cả trăm, chẳng thấy ai khen ngợi họ là dũng cảm. Bởi vì lúc nhờ thời may vận tốt mà phá được giặc thì ai cũng được coi là can đảm anh hùng. Mất hết đao kiếm, bắn cạn cả tên, chiến đấu đến phút cuối mà chẳng chịu hàng địch[133], bình thản chấp nhận cái chết xong rồi, lần đầu tiên mới được vinh danh. Đó là định mệnh của họ. Còn sống thì chưa được kể là con người võ dõng. Lý do trên hết là võ nghệ giống như hành vi của cầm thú, đưa ta rời xa khỏi đạo làm người. Nếu không phải là kẻ sinh ra nhằm nhà vũ sĩ thì đừng có ham thích võ nghệ làm gì vô ích.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  9. #9
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Đoạn 81 : Chữ viết và tranh vẽ trên bình phong, cửa kéo [134]

    Những tấm bình phong hay cửa kéo phết giấy bồi mà lại trang trí chữ viết theo thư pháp hay tranh vẽ với nét bút vụng về, tự thể không đến nổi xấu xí. Chúng chỉ làm người ta nghĩ rằng chủ nhân ngôi nhà là người thiếu óc thẩm mỹ. Nói chung, đồ đạc trong nhà có thể làm lộ rõ cho ta biết cái yếu kém không ngờ của chủ nhân. Dù vậy ta không chủ trương rằng họ bắt buộc phải có những món đồ quí giá sang trọng. Ta chỉ đặt vấn đề đối với những trường hợp như với lý do giữ cho chúng khỏi bị suy suyển, người ta đem trưng bày những đồ đạc hạ cấp không chấp nhận được, hoặc trang trí thừa thải vô dụng vì muốn làm ra vẻ có của hiếm, hay tập trung vào những sở thích hiếu kỳ phiền toái. Cứ theo cung cách xưa, đồ đạc không trưng bày quá lố, không tốn tiền nhiều nhưng phẩm chất tốt là lối trang trí đáng được đánh giá cao hơn cả.



    Đoạn 82 :Bìa sách bằng vải mỏng.

    Nghe có người bảo « Dùng vải mỏng[135] làm bìa, sách dễ bị hỏng », Tonna[136] mới trả lời : « Sau khi lớp lụa là bọc sách bị sờn và sổ ra ở hai đầu trên và dưới cũng như khi vỏ ốc trên trục cẩn xa cừ của các quyển sách cuốn đã bong đi, nhìn quyển sách mới thấy cái thi vị của nó ». Ý kiến của ông thật đáng khâm phục.

    Ngoài ra, khi nói về những tác phẩm do nhiều cuốn tập hợp lại thành một bộ, nếu hình thức các cuốn không đồng loạt, thường làm bực mắt. Thế nhưng, pháp chủ Kôyuu[137] nhận xét: « Thu thập mọi vật cho nó được hoàn toàn đồng bộ là việc làm của kẻ tầm thường. Cái không đồng bộ mới hay ! ». Ta cũng nể lời nói của ông thay !

    Có người[138] nhắc rằng : « Ở đời mọi sự như thế cả. Những gì ngăn nắp, hoàn toàn, đều không tốt. Ngược lại, cái gì không trọn vẹn, để dở dang, mới đáng thích vì làm cho ta yên tâm[139]. Trong cung cấm cũng vậy, lúc nào cũng chừa một chỗ không được phép hoàn thành ». Thật vậy, cứ nhìn ví dụ những nội điển, ngoại điển[140] mà hiền nhân đời xưa trứ tác, chỉ toàn[141] các loại thiếu chương, thiếu đoạn.



    Đoạn 83 : Ngài Tả Đại Thần xuất gia Chikurin.in.

    Ngài Tả Đại Thần xuất gia Chikurin.in[142] có thể được thăng đến chức Thái Chính Đại Thần[143] một cách êm xuôi trót lọt nhưng lại bảo : « Đạt được địa vị đó khó khăn gì đâu, chuyện ấy nếu xảy ra (cho ta) cũng không đáng lấy làm lạ. Nhưng thôi, ta ngừng ở chức Tả Đại Thần và xin về vườn vậy ! ». Sau đó ngài bỏ đi tu mất.

    Ngài Tả Đại Thần Tôin[144] hết sức khâm phục điều đó, không đeo đuổi việc được cất nhắc lên chức Thái Chính Đại Thần nữa.

    (Kinh Dịch có chữ) Kháng Long Hữu Hối[145] cho thấy trăng tròn rồi khuyết, sự vật cực thịnh sẽ suy vi[146]. Khi đạt đến tuyệt đỉnh rồi sẽ tiến dần tới chỗ tiêu diệt[147]. Đó là đạo lý của muôn vật.



    Đoạn 84: Ngài Pháp Hiển Tam Tạng qua Thiên Trúc.

    Có giai thoại kể rằng khi cao tăng Pháp Hiển Tam Tạng[148] qua bên Thiên Trúc, thấy cái quạt làm ở chốn cố hương thì đâm ra buồn[149], lúc đau ốm, lại muốn nếm đồ ăn Trung Quốc[150]. Nghe thế, có người bảo : « Đã là nhân vật có tầm cỡ như vậy, sao khi ra nước ngoài lại để thiên hạ thấy chỗ quá yếu đuối của mình nhỉ ? ». Ngược lại, pháp chủ Kôyuu[151] cho rằng : « Ôi chao, ngài Pháp Hiển Tam Tạng thực đáng yêu, đầy tình người ! ». Tuy lời của pháp chủ không đứng trên lập trường của người đi tu nhưng hết sức thâm thúy, làm cho ta cảm động.



    Đoạn 85 : Lòng không ngay thật.

    Lòng dạ con người đâu thẳng băng cho nên ở đời không phải chỉ toàn chuyện thực và không có chuyện giả. Ngược lại, cũng đừng vì thế mà kết luận là chẳng có ai chính trực. Cho dù bản thân mình không ngay thật, mình cũng thèm có được cái ngay thật của những người hiền[152]. Thói đời là như vậy.

    Tuy nhiên kẻ cực kỳ ngu ngốc thì khi bất chợt bắt gặp một người hiền, lại đâm ra ghét bỏ, mở miệng nói xấu ngay : « Cái ngữ đó không chịu nhận chút lợi nhỏ, chắc hẳn chờ đợi món lợi lớn hơn. Y màu mè giả dối bề ngoài để nhắm tiếng tốt thôi ! ». Chẳng qua hành vi của người hiền đức ấy không giống với bụng dạ của anh chàng nên hắn mới có thái độ chê bai. Vì lý do đó, ta mới hiểu là người này lúc sinh ra đã vô cùng ngu độn, không bao giờ hướng thượng nỗi[153]. Ngay có muốn màu mè giả dối, bề ngoài tỏ ra không cầu lợi lộc, anh ta cũng không biết cách thực hiện. Dù chỉ là nhất thời, anh không thể nào bắt chước nổi hiền nhân.

    Nếu có ai bảo là mình đang bắt chước người điên rồi chạy rông trên đường phố kinh đô thì anh ta đúng là người điên không chữa nỗi[154]. Bảo bắt chước kẻ hung ác[155] rồi giết người thì chính là kẻ ác không sai. Nhưng muốn làm ngựa hay như ngựa Ký[156], tất là đồng loại của ngựa Ký, lấy vua Thuấn làm mẫu mực sẽ trở thành kẻ trị dân giỏi như vua Thuấn. Lúc đó thì mang tiếng là kẻ giả dối (bắt chước) nhưng khi bắt chước người hiền, chính họ đã là kẻ hiền rồi.



    Đoạn 86 : Quan tham nghị Koretsugu.

    Ngài Koretsugu[157], chức Gon-Chuu Daingon, quan tham nghị bậc trung, rất có tài văn chương. Chuyên tâm tu hành, đọc kinh từ hồi chưa xuất gia. Sau ở cùng một chùa (Miidera) và theo học chánh tăng En.i Sôjô[158] là vị sư trụ trì chùa ấy, người có danh hiệu Tera Hôshi[159]. Trong niên hiệu Bunpô (khoảng 1319), khi ngôi chùa Miidera bị hỏa tai thiêu rụi, ngài mới thưa với chánh tăng En.i : « Tôi thường gọi ngài là Tera Hôshi (sư nhà chùa) nhưng bây giờ chùa đã cháy mất rồi, tôi chỉ phải gọi ngài là Hôshi (sư) (không khống) mà thôi. Thật là một câu nói khôi hài ý nhị[160].



    Đoạn 87 : Cho phép người làm uống rượu.

    Khi cho phép người ăn kẻ ở uống rượu, thường phải hết sức lưu ý.

    Có một người kia sống ở vùng Uji[161]. Thường ngày vẫn đi lại thân thiết với người anh em cột chèo tên gọi Gugakubô, một vị sư tại gia nổi tiếng phong cách thanh nhã, có nhà ở kinh đô. Một hôm khi ông ta sai người mã phu đem ngựa đi đón Gugakubô xuống chơi thì Gugakubô mới bảo anh kia : « Đường khá xa đấy. Trước khi khởi hành, chú dắt ngựa ơi, uống ít chén rượu cái đã ! ». Thế rồi cho bày rượu ra, người mã phu tiếp nhận chén mời liền tù tì và nốc ừng ực. Anh ta đeo gươm lớn bên hông, ra dáng oai phong lẫm liệt. Ông Gugakubô cho đi tháp tùng và nghĩ thầm người này trông cậy được. Đến quãng Kohata[162] thì có bọn các nhà sư ở các chùa Nara[163] kéo tăng binh đi qua, gặp nhau ở giữa đường. Anh chàng mã phu mới hướng về đám người đó mà nói : « Trong chốn núi non, trời lại về chiều rồi, chúng bay đi đâu mà khả nghi quá! Đứng lại không nào ? » Nói xong chực tuốt gươm ra làm bọn tăng binh cũng hè nhau tuốt gươm, lắp tên vào cung chuẩn bị đối phó. Lúc đó ông Gugakubô mới chắp tay vái : « Cái chú em này say rồi nên không còn lý trí. Xin rộng lòng tha thứ ! » Cả bọn bèn cười ồ rồi bỏ đi.

    Lúc đó, anh kia mới quay lại ông Gugakubô, tức tối bảo: « Nhà thầy vừa làm một chuyện thật đáng tiếc. Tôi có say sưa gì đâu ! Đang lúc sắp sửa được cho chúng biết oai danh thì vì thầy, tôi tốn công đã tuốt gươm ra ». Rồi lia gươm chém bất kể về phía Gugakubô làm ông té lọt cả xuống ngựa. Anh ta lại hét to : « Có cướp núi !» làm cho dân làng vùng Kohata tụ họp đông đảo kéo đến. Lúc đó lại rao lên : « Cướp núi chính là ta đây ! », rồi xông vào giữa đám đông vừa múa gươm loạn xạ. Dân làng mới hùa nhau túm vào đánh anh ta bị thương, quật ngã và trói gô lại. Con ngựa bê bết máu người cưỡi nhắm con đường lớn vào thành phố Uji (quen đường cũ) đâm đầu chạy về hướng nhà chủ. Ông chủ kinh hãi đốc suất bọn người làm trong nhà chạy đi tìm thì mới khám phá ra ông Gugakubô đang nằm dài rên rĩ tức tưỡi giữa cánh đồng cây mọc toàn cây sơn chi[164]. Họ vác ông ta về nhà. Tuy Gakugabô bảo toàn được tính mệnh nhưng cũng bị nhiều vết thương trên lưng và từ đó ông mang thân tàn tật[165].



    Đoạn 88 : Một người kia nói về nét bút của Ono no Tôfuu.

    Có người giữ được tập thơ Wakan Rôei-shuu[166] do chính (nhà thư pháp) Ono no Tôfuu[167] chép ra. Nghe tin đó, một người khác mới bảo : « Những điều gì ông nói về quyển sách của ông, không phải không đáng tin. Thế nhưng, việc Ono no Tôfuu chép lại một quyển sách do ngài Shijô Dainagon soạn ra, nếu tính theo niên đại thì rất ư phi lý . Tôi xin nêu lên thắc mắc về điểm này! ». Lúc đó người kia mới đáp : « Bởi vì có chuyện lạ như thế nên quyển sách này mới được coi là quí báu chớ ! » rồi chăm bẳm cất giấu kỹ lưỡng.



    Đoạn 89 : Con quái thú Nekomata trong núi sâu.

    Khi nghe có người bảo : « Trong núi sâu có giống thú tên gọi Nekomata[168]. Hình như người ta cũng bị nó ăn thịt. » thì có kẻ khác phụ họa : « Đâu cần vào núi. Chung quanh đây cũng có. Mèo sống lâu năm thì biến thành Nekomata, xơi cả người ta! ». Ở gần chùa Gyôganji, nhà sư pháp danh Ani.amidabutsu[169], lao khổ tu luyện thơ renga[170], khi nghe người ta kể chuyện này, tự thấy mình sống đơn độc nên thường lo lắng để ý. Lúc đó, ông hay đi dự các hội thơ renga đến khuya mới về ngang qua vùng một mình. Một hôm, đến bên bờ sông Kogawa, ông có cảm tưởng như thấy tiếng chân con quái thú Nekomata mà người ta hay đồn đại đang tiến lại bên, rồi nó bay đu lên người và quặp vào cổ định ăn thịt ông.

    Mất hết thần hồn, hai chân ông không còn đứng vững, muốn thoát thân cũng không biết làm sao. Ông ngã lăn xuống sông, miệng la oai oải : « Cứu tôi với. Nekomata ! Nekomata tấn công tôi ! ». Từ các nhà chung quanh, thiên hạ ào ào thắp đuốc chạy tới gần. Họ nhìn lại hóa ra là cái ông sư quen mặt bên láng giềng. Họ hỏi : « Thầy gặp chuyện gì thế ? » rồi vực ông từ dưới sông lên. Mới thấy ông đang ôm cứng trong tay mấy món phần thưởng kiếm được ở hội renga và các thứ linh tinh khác như quạt, tráp con, tất cả đều đẫm nước. Ông trông chẳng khác nào người được cải tử hồi sinh. Cứ hình dáng như thế, ông lết về đến nhà.

    Thực ra chỉ là con chó ông nuôi giữa lúc đêm hôm thấy chủ về phóng lên mừng đó thôi[171].



    Đoạn 90 : Người giúp việc cho quan Dainagon Hôin.

    Cậu bé Otozuru-maru, người giúp việc cho quan Dainagon Hôin[172], có quen biết với một nhân vật tên là ngài Yasura và thường xuyên đến thăm viếng ông ta. Một hôm cậu ta vừa đi về, quan mới hỏi : « Ngươi vừa đi đâu về đấy ? ». Cậu bèn trả lời : « Thưa con đến thăm ngài Yasura ». Quan mới hỏi tiếp : « Chứ ông Yasura ấy là tăng hay tục ? ». Cậu mình bèn chắp hai tay lại cung kính trả lời : « Thưa con không biết. Vì con chưa bao giờ nhìn được cái đầu ông ta».

    Ta không hiểu tại sao chỉ có cái đầu của ông kia là cậu ta không thấy ?[173]



    Đoạn 91 : Chuyện xảy ra vào Ngày Lưỡi Đỏ.

    Đạo âm dương[174] không đề cập gì đặc biệt đến Ngày Lưỡi Đỏ[175]. Người xưa cũng không kiêng kỵ chi cái ngày này. Mới gần đây thôi, có kẻ tung tin ấy là một ngày cần phải kiêng, trong ngày này có những chuyện không thể hoàn tất một cách êm xuôi, có những việc làm hay lời nói không trót lọt, vật nhận được lại mất, việc chủ trương không xong. Thật là chuyện ngu si. Đã có bao nhiêu kế hoạch không thành dù đã chọn ngày lành tháng tốt để khởi công và con số những trường hợp thất bại đó cũng chỉ ngang ngang với những cái thất bại xảy ra trong các Ngày Lưỡi Đỏ mà thôi.

    Lý do là trong cuộc đời vô thường biến dịch[176] này, những gì in vào mắt ta chỉ là những cái không hề tồn tại, chúng không hề khởi đầu mà cũng chẳng cáo chung. Không có ước nguyện nào thành hiện thực mà cũng chẳng có dục vọng nào được thỏa mãn. Lòng người là cái không đáng đem ra thảo luận.Vạn vật chẳng khác gì tấn tuồng ảo hóa. Chúng không thể nào tiếp tục giữ nguyên hình thái cho dù chỉ trong phút giây. Kẻ kiêng cử cái Ngày Lưỡi Đỏ là kẻ không hiểu đạo lý. « Nếu làm việc ác trong ngày tốt thì chỉ đưa đến chuyện gỡ thôi . Còn làm điều thiện trong ngày xúi quẫy, thường vẫn tạo được cơ duyên tốt đẹp». Kết quả hung kiết hay không là do hành vi thiện ác quyết định, không có ngày nào quyết định cho nó.



    Đoạn 92 : Người tập bắn cung.

    Có người kia học bắn cung, mới cầm lấy hai mũi tên và ngắm đích. Khi vừa làm như thế thì thầy anh ta mới dạy : « Kẻ mới tập bắn, không cần đến hai mũi tên. Nếu ỷ y có mũi thứ hai thì khi bắn mũi thứ nhất sẽ sinh ra lơ đễnh. Mỗi lần bắn, phải nghĩ rằng mình không có quyền thất bại, làm sao để mũi tên độc nhất trúng đích cho bằng được ».

    Chỉ cầm mỗi hai mũi tên, lại đứng trước mặt thầy nữa, anh không có ý định phí phạm một mũi nào cả. Thế nhưng dù chính anh không ý thức, ông thầy đã nhìn thấy cả việc anh có yên tâm hơn khi hình ảnh của hai mũi tên hiện ra trong trí. Lời dạy bảo này của ông thày có thể áp dụng cho mọi tình huống.

    Người học Phật cũng thế. Mới chiều hôm nay đã nghĩ đến sáng hôm sau, giữa ban mai đã nghĩ về buổi chiều và trông đợi rằng đến lúc đó mình sẽ tập trung tinh thần trở lại và tu tập đàng hoàng. Người như vậy thì có thể nào ý thức rằng cái lơ đễnh chỉ nháy mắt đã đủ lọt vào nằm trong lòng mình hay không ? Cho nên một khi vừa quyết tâm làm một việc gì thì phải chuyển qua hành động ngay, được như thế là điều tuyệt vời.



    Đoạn 93 : Người đi bán bò.

    Có kẻ kể rằng : Giả dụ một người đem bò đi bán. Người mua bảo : « Ngày mai tôi sẽ đem tiền mua bò đến để đổi lấy bò ! ». Thế nhưng tối hôm đó, con bò lăn ra chết. Trong trường hợp này, người mua được lợi và người bán bị thiệt.

    Khi nghe chuyện đó, kẻ đứng bên cạnh lý sự: « Rõ ràng người chủ bò có thiệt thòi đấy nhưng một đằng, ông ta được mối lợi khác. Lý do là người và bò đều giống nhau ở một điểm : cả hai không biết hễ là có sinh mạng thì phải kề cận cái chết. Ở đây, không ngờ bò chết và cũng không ngờ chủ bò lại sống sót. Sự sống dù một ngày (của chủ bò) đáng giá hơn đống vàng. Giá trị của con bò còn nhẹ hơn chiếc lông ngỗng[177]. Người (chủ bò ý thức được bài học đó như) thu được đống vàng mà chỉ mất một xu teng thì thiệt thòi ở chỗ nào ? ». Nói đến đây, mọi người bèn cười nhạo : « Cứ theo lối lý sự của nhà anh thì phải mất con bò mới hiểu được giá trị của cuộc sống à ! ».

    Người hồi nãy lại lên tiếng : «Điều tôi muốn nói là con người nếu ghét sự chết thì phải biết coi trọng mạng sống. Mỗi ngày phải thực sự cảm thấy niềm vui được sống ở đời. Kẻ ngu ngốc quên mất niềm vui ấy, hoài công đi tìm những thú vui khác. Quên mất mình đã có cái quí báu nhất, chính là mạng sống, lại tham lam chạy theo những mối lợi mới nhưng thử hỏi biết đến bao giờ anh ta mới thỏa mãn. Khi đang sống anh ta không biết hưởng cuộc sống, thế nhưng khi đối diện với cái chết, lại sợ nó. Có gì mâu thuẫn hơn không ? Con người không biết hưởng cuộc sống bởi vì không biết sợ cái chết. Không, không phải họ không sợ cái chết đâu !Đúng ra, họ quên mất cái chết ở sát bên mình. Nếu có một ai bảo rằng tâm trí mình đã vượt lên khỏi hình tướng của sự sống chết thì anh là người đã mở được cánh cửa để vào cõi giác ngộ vậy ».

    Nghe thế, mọi người lại cười ồ lên nhạo anh ta nhiều hơn nữa[178].



    Đoạn 94 : Lúc quan Tướng Quốc Tokiwai lên sảnh đường.

    Lúc quan Tướng Quốc Tokiwai [179] đang trên đường tới sảnh đường, viên vũ sĩ cấm vệ (tức đội hộ vệ thái thượng hoàng) có nhiệm vụ mang chiếu chỉ, khi đến gặp ngài lại xuống ngựa (để chào). Sau đó quan Tướng Quốc mới tâu lên : « Viên vũ sĩ họ Mỗ trong đội cấm vệ là kẻ trong người có mang chiếu chỉ mà lại xuống ngựa. Không thông hiểu nghi thức như thế, làm sao hắn ta có thể phục vụ lệnh bề trên được ».Nghe chuyện, thái thượng hoàng bèn bãi chức viên Mỗ[180].

    Trong trường hợp này, sứ giả phải ngồi trên ngựa mà nâng chiếu chỉ lên cho người kia xem. Xuống ngựa là vi phạm lễ tiết.



    Đoạn 95 : Thắt nút giây nắp hộp.

    Khi hỏi một người rành rẽ về nghi thức :« Muốn cột giây chung quanh nắp hộp[181] phải bắt đầu từ phía mặt hay phía trái ? » thì được trả lời : « Có thuyết cho rằng phải bắt đầu từ « trục » (phía tả), có thuyết cho rằng phải bắt đầu từ « bìa ngoài » (phía hữu) cho nên muốn cột từ phía nào trở đi cũng không sao. Đối với những cái hộp đựng thư từ, người ta thường cột từ tay mặt qua. Còn đối với những cái hộp đựng đồ vặt vãnh thì hay thấy người ta cột từ tay trái tới».[182]



    Đoạn 96 : Giống cỏ tên gọi là Menamomi.

    Có giống cỏ tên gọi Menamomi.[183] Người ta bảo khi bị rắn hổ mang cắn , lấy cỏ đó vò nát mà đắp lên sẽ lành ngay. Nếu biết cách nhận ra được thứ cỏ này trước thì tốt quá[184].



    Đoạn 97 : Vật sống bám theo.

    Lúc nào cũng có một vật nào đó sống bám theo một vật khác, làm tiêu hao và nguy hại cho vật đó. Chúng nhiều không kể xiết : chấy rận trên thân người, chuột trong nhà, giặc trong nước. Đối với những kẻ tiểu nhân, đó là của cải, đối với người quân tử, đó là điều nhân nghĩa[185], đối với nhà tu, đó là đạo pháp[186].



    Đoạn 98 : Những lời dạy bậc cao hiền để lại.

    Ta có dịp đọc quyển sách nhan đề Ichigon Hôdan[187] thì phải, thấy ghi chép lời của các bậc thánh hiền đáng kính còn để lại cho đời.Trong đó có những điều ta xin phép biểu lộ sự đồng tình và thuật ra đây :

    1) Chuyện còn đang lưỡng lự giữa làm hay để đó không làm thì, nói gọn lại là chớ nên làm[188].
    2) Kẻ lo tụng niệm để vãng sinh cực lạc không nên sở hữu vật gì dù là một cái thạp đựng cám muối dưa. Từ việc trữ kinh sách cho đến cất tượng Phật để thờ, thảy thảy đều vô ích[189].
    3) Kẻ xa lánh trần tục nếu giữ được tấm lòng thảnh thơi dù không có một vật dụng nào là kẻ có lối sống cao cả nhất[190].
    4) Kẻ tu lâu năm phải sống như người mới đi tu, kẻ trí phải sống như kẻ ngu, kẻ giàu có phải sống như kẻ nghèo khó, người có tài năng phải sống như kẻ bất tài.
    5) Mong muốn theo được con đường của Phật thì không có gì khác hơn là coi việc làm sao cho thân mình được nhàn hạ, không để chuyện thế gian bận tâm, như là cứu cánh duy nhất.
    Sách đó còn viết nhiều chuyện khác nhưng ta không nhớ ra.



    Đoạn 99 : Quan Tướng Quốc Horikawa.

    Quan Tướng Quốc Horikawa[191] không những là người đẹp trai mà còn có cuộc sống sung túc, hay xa hoa phí phạm. Ngài đặt con mình là Mototoshi vào chức Tổng Chỉ Huy Lục Lượng Cảnh Bị và Hình Pháp nhưng trên thực tế (chỉ là danh hiệu), bao nhiêu công việc liên quan đến an ninh ngài quyết đoán hộ ông ta cả. Có một hôm, ngài nhận thấy cái tủ đồ sộ (đựng công văn) [192] dùng trong nha quá xấu xí nên bảo con trai hạ lệnh đóng cái mới đẹp hơn. Tuy nhiên, bọn nha lại, vốn hiểu rõ về nghi thức và truyền thống, mới thưa rằng : « Chiếc tủ lớn này có tự đời thuở nào rồi. Không ai rõ nguồn gốc nhưng ít nhất nó cũng lâu đến mấy trăm năm. Đã là đồ vật ở chốn cửa công, truyền từ đời nọ đến đời kia, nếu càng xưa lại càng quí. Không nên thay đổi chúng một cách dễ dàng như vậy ». Nhờ đó, lệnh nói trên mới bị bãi bỏ[193].



    Đoạn 100 : Quan Tướng Quốc Koga.

    Quan Tướng Quốc Koga[194] ngồi xơi nước trong một gian phòng trên điện Seiryô[195]. Lúc người thị nữ thuộc ty tạp dịch trong điện[196] dâng nước cho ngài trong một cái chén bằng sành, ngài bèn phán : « Đem cho ta gáo gỗ [197]! » và ngài uống nước bằng cái gáo.



    Đoạn 101 : Người chuẩn bị lễ nhậm chức cho đại thần.

    Có người (bậc công khanh) chuyên lo chuẩn bị nghi thức nhậm chức cho các đại thần, không nhận lấy sắc phong từ tay của viên quan thuộc trung thư tỉnh[198] mà lại bước lên điện Shishin[199], (nơi hành lễ). Đây là một lỗi lầm lớn nhưng vì ông ta không thể quay xuống để tiếp nhận sắc phong được nữa nên hết sức khổ tâm. Lúc đó, chức quan lục phẩm thuộc phủ tướng quốc tên là Yasutsuna[200] mới nhờ một nữ quan trùm áo choàng kazuki[201] lên và đem sắc phong ngầm trao cho ông ta. Đây thật là một cách xử trí khéo léo[202].



    Đoạn 102 : Ngài Mitsutada, chức In no Dainagon đã xuất gia.

    Hồi ngài Mitsutada, chức In no Dainagon[203], còn giữ trọng trách cử hành lễ Tsuina[204] để trừ tà, có lần đến xin Hữu Đại Thần Tôin [205] chỉ thị về nghi thức điều hành cuộc lễ. Ngài Tôin dạy : « Ông hãy hỏi thăm Matagorô [206]. Theo ta, không có ai rành rẽ về việc công hơn chú ấy ! ».

    Người tên gọi Matagorô là một bác cận vệ già, thành thạo mọi công vụ. Có lúc ngài Konoe[207] đến dự một cuộc lễ lại quên mất tấm nệm trải xuống để quì gối, (còn đang lúng túng) mà đã gọi chức Geki[208] tới. Nhân vì đôi khi già Matagorô hay châm đuốc ở ngoài vườn nên thoáng nghe được việc đó, mới thưa thầm: « Thay vì gọi chức Geki tới, sao ngài không cho đem tấm nệm để quì gối tới trước đã ? ».



    Đoạn 103 : Ở điện Daikakuji.

    Ở điện Daikakuji[209], những người hầu hạ thân cận bên cạnh thái thượng hoàng xuất gia hay đặt ra những câu đố rồi tìm lời giải đáp với nhau. Nhân lúc có viên ngự y tên Tadamori[210] đến chầu, chức tham nghị cấp cao kiêm chức thị tùng thái thượng hoàng là ông Kin.akira[211] mới đưa ra câu đố của mình : « Cái gì tên gọi Tadamori mà không phải là sản phẩm của nước ta ? ». Có người giải đáp : « Cái bình kiểu Tàu » (Karaheiji)[212]. Trong lúc cử tọa cười ầm lên, Tadamori nổi giận bỏ ra ngoài.



    Đoạn 104: Ngôi nhà trọ hoang vu.

    Có ngôi nhà bỏ hoang vu, không ai lui tới[213]. Một người đàn bà chẳng còn nơi nương tựa, và vì một lý do gì đặc biệt phải xa lánh cặp mắt người đời, đang náu mình nơi ấy. Lại có người đàn ông định đi thăm nàng, mới đợi lúc một tối trăng liềm, lén lút tìm đến.Khi nghe tiếng chó sủa râm ran, người thị nữ bước ra cất tiếng hỏi : « Vị nào ở đâu đến vậy ? » nhưng (có lẽ người ấy muốn dấu tên nên cô ta) cứ thế thông báo cho nàng rồi đưa vào. Sau khi nhìn không khí tịch mịch trong nhà, lòng chàng đau đớn vì không hiểu nàng đã sống những ngày qua như thế nào. Đứng chờ bên hàng hiên cũ nát một hồi lâu, chàng nghe một giọng nói trầm tĩnh nhưng trẻ trung bảo mình : « Xin vào bên trong này cho ! » nên mới hé tấm liếp cửa (vì ít đón tiếp ai) đóng mở hơi khó khăn mà bước vào[214].



    Có người đàn ông muốn đến thăm một người đàn bà đang sống một mình (Đoạn 104).

    Nhìn vào bên trong thì căn nhà không đến nỗi điêu tàn lắm. Lại còn có vẽ vô cùng thanh nhã. Tuy chỉ có ánh đèn chập chờn soi sâu trong góc phòng nhưng cũng thấy cách bày biện thật đẹp mắt. Một làn hương, không phải là loại hương mới được đốt lên vội vàng[215], làm cho gian nhà như ngập tràn kỷ niệm. Người đàn bà bảo : « Đóng cửa khóa nẽo hộ ! Biết đâu trời mưa đấy ! Đẩy xe của khách vào trú dưới cổng nghe ! Nhớ dọn chỗ cho những người tùy tùng nghỉ tối nay nữa!» [216] và tiếng người thị nữ thì thào : « Tối ngay coi bộ chúng mình yên tâm ngủ ngon giấc được rồi đấy nhé ! »[217]. Tuy tiếng nói nhẹ nhàng nhưng vì gian nhà quá nhỏ bé cho nên cũng đủ lọt vào tai chàng[218].

    Thế rồi, hai người âu yếm kể lễ cho nhau tình cảnh của họ những lúc gần đây, và tuy trời hãy còn tối, tiếng gà đầu tiên đã cất lên. Trong lúc hai bên giãi bày hết cả tấm lòng với nhau về quá khứ, bàn bạc những chuyện tương lai thì gà đã gáy rộ lên một lần nữa, như nhắc với họ là đêm đã tàn rồi[219]. Tuy vậy cảnh vật chung quanh hãy còn tờ mờ và vì không gì cấp thiết để phải rời nhau nên họ ráng nán thêm chút nữa. Chẳng bao lâu, vài tia ánh sáng trắng đã len vào khe cửa và đã đến lúc người đàn ông phải hứa rằng chàng không sẽ bao giờ quên tấm tình yêu với nàng[220], rồi ra đi. Qua màu xanh mướt mắt của những ngọn cây trong vườn lúc đó trải rộng bầu trời tháng tư với cảnh sắc một buổi bình minh.

    Mỗi khi nghĩ đến cái đẹp và niềm vui chàng tìm được qua kỷ niệm của buổi mai hôm ấy, người đàn ông kia, mỗi khi rong xe đi ngang con đường trước nhà nàng, đều nhìn dõi cho đến khi bóng cây quế [221]đánh dấu ngôi nhà mất hút. Bây giờ chàng hãy còn nhìn theo như vậy[222].



    Đoạn 105: Tuyết tàn còn đọng bên tường bắc.

    Ở phía bắc, khuất dưới bóng ngôi nhà, tuyết tàn[223] hãy còn đọng, đông cứng. Trên mấy cái càng của chiếc xe bò[224] dựng ở đấy, sương khuya đọng lấp lánh vì phản chiếu ánh sáng trong vắt của vầng trăng tàn về sáng cũng vương chút âm khí lạnh lẽo. Trước khung cảnh như thế, trên hành lang của gian phòng thờ Phật vắng lặng, có một người đàn ông nghi biểu khác vời đang cùng với một người đàn bà ngồi trên ngạch cửa nói chuyện với nhau. Không biết họ nói những gì nhưng câu chuyện tưởng chừng không biết bao giờ mới dứt.

    Đầu tóc dung mạo cả hai xem ra đều thật trang nhã[225]. Thoảng đâu đây một mùi hương thơm không tả nổi nương theo luồng gió tỏa ra nên càng thêm quyến rũ[226]. Những gì họ nói nghe chỉ câu dược câu mất nhưng dễ thương, lôi cuốn làm sao khiến mình cũng đâm ra muốn biết họ đang nói những gì[227].



    Đoạn 106: Truyện cao tăng Shôkuu núi Kôya.

    Đó là câu chuyện hôm ngài Shôkuu[228], cao tăng trên núi Kôya[229], có việc lên kinh đô. Trên con đường núi hẹp, tình cờ ngài chạm phải một người đàn bà cũng cưỡi ngựa như mình. Không biết người dắt ngựa cho bà ta điều khiển vụng về thế nào mà làm con ngựa nhà sư rơi lọt hố.

    Nhà sư vốn là người mau nổi nóng, mới lên tiếng trách móc : «Cái bà này sao hỗn thế. Nên biết nhà Phật có tứ bộ chúng tức bốn bậc đệ tử !Ưu bà di (nữ) phải ở dưới ưu bà tắc (nam) , ưu bà tắc ở dưới tì khưu ni (nữ), còn tì khưu ni phải ở dưới tì khưu (nam) kia mà. Bà chỉ là hạng ưu bà di thấp kém lại dám đá tì khưu lọt hố như thế là đã làm chuyện cực ác trước giờ chưa có đấy nghe ! ».

    Người đàn ông dắt ngựa cho bà ta lúc đó mói bảo : « Ông thầy này nói gì lạ hoắc. Nghe chẳng hiểu đâu vào đâu !». Ngài Shôkuu càng thêm hùng hổ, hung hăng : «Nói gì hở chú kia ? Người gì mà chưa đi tu bao giờ, một chữ bẻ đôi cũng không biết [230]! ». Nói xong, ngài mới thấy mình lỡ lời ăn nói vô lối, hốt hoảng rẽ ngựa ra hướng khác, phóng như chạy trốn.

    Nếu có ai hiểu được nghĩa lý của câu nói sẽ thấy những lời trách mắng của ngài thật đáng nễ [231].



    Đoạn 107: Trả lời câu hỏi của đàn bà.

    Khi được các bà dọ hỏi điều gì, thật ít thấy đấng nam nhi nào đủ thông minh để có thể trả lời một câu nghe được. Thời thái thượng hoàng Kameyama[232], bọn nữ quan tinh quái ma mãnh mỗi lần thấy mấy ông quan trẻ vào chầu trong nội, hay hỏi những câu kiểu như: « Thế năm nay, ông đã nghe tiếng cuốc (đầu mùa) chưa nhỉ ? »[233] để xem tài đối đáp của các vị ấy đến đâu. Có ông quan Dainagon (tham nghị cấp cao) họ Mỗ nọ đã trả lời : « Bẩm thân phận thấp hèn như tôi thì sao có thể nghe được ạ ! ». Còn quan nội đại thần Horikawa thì đáp : « Hình như tôi đã có lần nghe ở Iwakura.[234] ». Các nữ quan bình luận với nhau : « Câu trả lời của ông này còn nghe được chứ kiểu xưng hô « thân phận thấp hèn » của ông kia thật khó lọt tai!».

    Hầu như tất cả những người đàn ông đều được nuôi nấng dạy dỗ làm sao để tránh khỏi bị đàn bà chê cười. Có người kể rằng : « Ngài đại thần ở chùa Jôdo[235], nguyên giữ chức kanpaku (chuyên việc thưa bẩm với vua), lúc nhỏ đã được hoàng thái hậu Ankimon.in[236] dạy dỗ rèn cặp nên biết đối đáp lanh lợi ». Ngài tả đại thần Yamashina[237] thì nói : «Khi bọn thị nữ hầu hạ có mặt là mình đủ đã ngượng chín và bắt buộc phải giử ý ». Nếu cõi đời này không có mấy bà thì cách đội mũ hay mặc quần áo (của đàn ông chúng ta) thế nào cũng xong thôi, chẳng cần phải tề chỉnh làm gì.

    Ta cứ ngỡ hạng đàn bà hiếp đáp đàn ông được như thế là thứ giỏi giang lắm, thật ra họ chỉ là những kẻ tính tình lươn lẹo, coi mình bằng trời, đầy lòng tham và không biết một chút lý lẽ. Họ chỉ để mặc cho lòng mê lầm dẫn lối, ăn nói tuy có vẻ khéo léo tinh vi nhưng khốn thay, khi bị người ta đặt những câu hỏi tầm thường cũng không có lấy câu trả lời đáng lọt tai. Khi ta đang tưởng họ sẽ lễ phép ngồi im thì thoắt cái họ đã mở miệng nói lung tung, ngay cả những gì chẳng ai hỏi tới. Cái khéo léo thêu dệt bề ngoài của họ tưởng chừng đánh lừa được trí thông minh của đàn ông nhưng họ quên rằng không có gì che dấu nổi sự thật. Đàn bà thật là giống không thực thà và chẳng biết nghĩ đến nơi đến chốn. Thật là khó chịu khi phải uốn lưng để chìu theo ý các bà. Có bà nào xứng đáng được ta thần phục như thế không ? Cho dầu có một người đàn bà thông minh hiền đức xuất hiện trên đời thì người đó cũng chỉ là kẻ khó gần gũi và thân mật được. Chỉ có anh đàn ông khi mê mệt đàn bà và đánh mất lý tính thì mới thấy đàn bà là đáng yêu và thanh nhã[238].



    Đoạn 108: Không ai biết nuối tiếc thời gian.

    Không thấy ai tỏ ra nuối tiếc từng khoảnh khắc ngắn ngủi trôi qua[239]. Chẳng lẽ vì mọi người đều đã ý thức điều đó, hoặc giả họ ngu ngốc đến nỗi không biết tiếc thời khắc. Nếu cần nhắn nhủ một lời cho những ai ngu si chểnh mãng như thế, ta chỉ xin thưa rằng đúng là một đồng xu không có nghĩa lý gì nhưng khi tập hợp và chồng chất chúng lên nhau thì anh nhà nghèo cũng trở thành giàu có. Vì vậy người đi buôn mới cắc củm từng đồng bạc một.

    Sát na là một đơn vị thời gian quá nhỏ nhoi thế nhưng cứ để nó thi nhau kéo tới thì cái giờ chết cũng chẳng mấy chốc đã đến bên lưng ta. Do đó, người tu tập theo còn đường của Đức Phật không có quyền tiếc nuối ngày tháng xa xôi tận đâu đâu mà phải biết quí trọng cái giây phút đang oan uổng trôi qua trước mắt. Ví dụ như có ai đó đến với ta và cho biết ngày mai ta sẽ tới số, thử hỏi hôm nay cho đến khi nắng tắt, ta sẽ mong đợi những gì và sẽ hành động như thế nào ?

    Cái ngày chúng ta đang sống so với cái ngày ta hết số đó thực chất chẳng khác gì nhau. Hôm nào ta cũng ăn, cũng uống, cũng bài tiết, cũng ngủ nghỉ, cũng nói năng, cũng đi lại, nghĩa là ta mất nhiều thì giờ để làm những việc chẳng đặng đừng. Thời giờ gọi là nhàn hạ không có là bao mà ta lại đem phung phí để làm những chuyện không đáng làm, nói những câu không đáng nói, nghĩ những điều không đáng nghĩ. Trọn ngày trọn tháng rồi trọn đời phí phạm thời gian như thế thì hỏi thử còn có gì ngu ngốc hơn chăng ?

    Tạ Linh Vận[240] là người từng có công đức hiệu đính bản dịch bộ kinh Pháp Hoa[241] nhưng vì lòng còn nhiều dục vọng [242] nên bị ngài Huệ Viễn[243] không cho dự phần vào nhóm Bạch Liên Xã[244]. Nhất định những ai không biết giá trị của thời gian đều đáng bị xem là người đã đánh mất đi ý nghĩa của cuộc sống, là người coi như chết rồi. Tiếc thời gian (sử dụng thời gian một cách tích cực), hỏi để làm gì ? Xin thưa, đó là để lòng mình không vướng bận điều lo nghĩ vớ vẫn, chung quanh mình khỏi xảy ra chuyện thế sự lăng nhăng, khi muốn (tập trung tinh thần) thôi làm việc ác thì dứt được liền việc ác, còn muốn làm điều thiện thì làm được ngay điều thiện[245].



    Đoạn 109: Người rành nghề leo cây.

    Có người nổi tiếng là vua leo cây[246]. Ông ta thường làm công việc chỉ dẫn người khác leo lên những cây thật cao để chặt nhánh trên ngọn. Khi người leo đang ở đoạn tưởng chừng nguy hiểm, chẳng nghe ông ta nói gì. Đến khi anh ta tụt xuống đến chỗ cao cỡ ngang mái nhà, ông ấy mới bắt đầu lên tiếng : « Xuống cho khéo nhé. Đừng để ngã bị thương ! ». Ta bèn hỏi thăm : «Đã tụt xuống chỗ thấp như thế này thì chỉ cần nhảy phóc một cái là chạm đất. Vì cớ gì lúc ấy ông lại khuyên anh ta phải thế này thế nọ ? ». Ông mới giải thích : «Vâng, quan trọng là ở điểm đó. Ở độ cao thấy hoa cả mắt, lúc ngỡ là cành có thể gãy lúc nào không biết, người leo cây hết sức chú ý nên mình không cần phải khuyên lơn gì cả. Người ta hay bị thương lúc xuống chỗ thấp và nghĩ là an toàn rồi ».

    Ông giỏi nghề leo cây kia chỉ là kẻ địa vị thấp hèn nhưng lời nói sao chẳng khác điều các bậc thánh hiền dạy dỗ[247]. Đá cầu[248] nghe đâu cũng vậy. Người đá cầu khi đã tập trung tinh thần đá được quả cầu khỏi nơi khó khăn rồi thì lại yên trí và đâm ra lơ đễnh, thế nào cũng để cầu rơi xuống đất.



    Đoạn 110: Người giỏi chơi cờ song lục [249].

    Khi hỏi thăm một người nổi tiếng sành chơi cờ song lục (sugoroku) thế nào là bí quyết để đánh cho giỏi thì ông ta giảng : « Đánh mà nghĩ rằng mình đánh để thắng là không được. Phải đánh để đừng thua. Suy nghĩ đánh quân nào sẽ bị thua nhanh và tránh đi nước ấy. Cứ chọn cách đi quân nào làm mình chậm thua thêm một ô mà đánh là tốt [250]».

    Rõ ràng là người đạt đạo trong lãnh vực này. Lời nói của ông còn có thể áp dụng cả vào việc tu thân, trị quốc nữa.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

  10. #10
    ~ Mều V.I.P ~
    Kasumi's Avatar


    Thành Viên Thứ: 61
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 12,056
    Thanks
    3,030
    Thanked 21,120 Times in 5,744 Posts
    Chú thích:

    [1] Ngôi chùa cổ nổi tiếng linh thiêng xây khoảng năm 798 (có thuyết khác là vào năm 805) ở Kyôto thờ Thập Nhị Diện Thiên Thủ Quan Âm. Được mọi giới từ quí tộc đến bần dân tôn sùng.

    [2] Thần chú để giải hạn trừ tai, nguồn gốc không rõ. Theo S.M., có thuyết của nhà dân tộc học Yanagita Kunio cho rằng nguyên nó là Kusohame糞喰め, một tiếng chữi tục. Tuy nhiên, nó tương tự với những câu chúc “God bless you” hay “A vos souhaits” ở Tây Phương cho ai đang hắt xì hơi.

    [3] Kushami. Chữ này gần giống Kusame nên dễ gây liên tưởng cho bà ni sư vú già.

    [4] Để chỉ Enryakuji (Diên Lịch Tự), ngôi chùa chính trên ngọn Hieizan, núi thiêng của Phật giáo Nhật Bản. Nơi này dành để dạy dỗ, đào tạo con cái quí tộc. Chùa cấm đàn bà lai vãng.

    [5] Mới đọc thì thấy bà già ngớ ngẩn, làm chuyện buồn cười. Đọc kỹ mới thấm thía cái tình thương và sự tận tụy của một người nhũ mẫu dành cho cậu chủ trẻ, lẽ sống duy nhất của bà trong những ngày xế bóng, mà bà không còn được ở bên cạnh hầu hạ chăm nom (vì chùa cấm các bà). Kenkô đã khéo miêu tả tâm sự đó qua câu chuyện giản dị, ngắn gọn (theo S.M.).Trong lịch sử Nhật Bản có nhiều bà nhũ mẫu tận tụy như thế, có khi quên cả con ruột. Nổi tiếng nhất là bà Fuku (Kasuga no Tsubone, 1579-1643) nhũ mẫu của Tướng Quân Tokugawa Iemitsu.

    [6] Mitsuchika no Kyô, cách đọc tôn xưng tên của đại thần Fujiwara no Mitsuchika (Đằng Nguyên, Quang Thân, 1176-1221), một công khanh gương mẫu, sủng thần của Thiên Hoàng Go Toba. Ông chịu trách nhiệm lãnh đạo cuộc đảo chánh chống Mạc Phủ trung hưng vương thất năm Jôkyuu thứ 3 (1221) nên bị xử trảm dù trên thực tế ông đã thuyết phục thái thượng hoàng đừng mưu sự nhưng không được nghe theo (theo D.K.). Thọ 46 tuổi. Thái thượng hoàng thì bị đi đày ra đảo Oki (ngoài khơi tỉnh Shimane ngày nay).

    [7] Có thuyết cho rằng nhân vật liên quan đến câu chuyện này là một người khác (Fujiwara no Naganobu) chứ không phải Mitsuchika.

    [8] Xem chú đoạn 22.

    [9] Ý nói Kaya no in (Cao Dương Viện) nơi thiên hoàng Go Toba (trị vì 1183-1198) sau khi nhường ngôi, lui về để lo giật giây chính trị bên trong.

    [10] Có người, theo D.K. hiểu là “Ai mà ăn đồ ông ấy bỏ mứa!”.

    [11] Thái thượng hoàng Go-Toba có vẻ hiểu giá trị và kính trọng người bề tôi thân cận này. Ông Mitsuchika vượt khỏi nghi lễ thông thường nhưng có thể là, theo S.M., một người quá bận bịu công việc?

    [12] Tức sách “Mười nguyên nhân để được vãng sinh” (Vãng Sinh Thập Nhân), thánh điển phái Tịnh Độ, do tăng Yôgan (Vĩnh Quán, 1033-1111), tu ở Thiền Lâm Tự (chùa Zenrin) thuộc nội thành Kyôto, trứ tác. Giai thoại này cũng từng được thấy trong nhiều sách khác như Phát Tâm Tập, Bảo Vật Tập, Tư Tụ Bách Nhân Duyên Tập. Theo sách Vãng Sinh Thập Nhân Tư Ký, người trong truyện là một nhà tu đạo đức tên Ryôe (Liễu Huệ), sống gần chùa Ninna (S.M.)

    [13] Nguyên văn: “Kim hữu hỏa cấp sự. Ký bức như đán mộ”.

    [14] Tức tăng Tâm Giới, tục danh Munechika (Tông Thân) con nuôi của tướng Taira no Munemori (Bình, Tông Thịnh), không rõ năm sinh năm mất. Trước là quan trấn thủ vùng Awa trên đảo Shikoku. Sau khi họ Taira thua trận Yashima, ông bỏ mọi người lên núi Kôya tu, sau vân du khắp nơi.

    [15] Niên hiệu Ứng Trường đời Thiên Hoàng Hanazono. Lúc ấy Kenkô trên dưới ba mươi tuổi.

    [16] Có chuyện một người đàn bà hóa quỉ được thu thập lại trong một quyển truyện răn đời Phật giáo nhan đề “Bạn nhàn cư” Kankyo no Tomo (Nhàn Cư Hữu, 1221). Tuy nhiên, theo Kenkô, liên quan đến đoạn này, tất cả lời đồn đại về nữ quỉ đều dựng ra từ trí tưởng tượng của người ta.

    [17] Khu vực ngày xưa thuộc ngoại thành Kyôto.

    [18] Ngôi chùa của một chi nhánh họ Fujiwara.

    [19] Cung điện dưới chân ngọn núi Kameyama do Thiên Hoàng Go-Saga (1220-72) ra lệnh kiến tạo hồi năm Kenchô (1249-56). Thiên hoàng Kameyama (1249-1305) cũng ngự ở đây. Khuôn viên rất rộng lớn, giáp sông Ôi, cảnh trí đẹp đẽ. Sau trở thành hoang phế. Vị thiên hoàng được nói đến trong điện này không rõ là thiên hoàng Go-Saga hay Kameyama (D.K.).

    [20] Thuộc khu vực phía tây Kyôto, bên cạnh vùng Arashiyama.

    [21] Làng phía nam Kyôto bên cạnh hồ Biwa, nổi tiếng về nghề làm guồng nước.

    [22] Trong Tsurezure-gusa, Kenkô hay ca tụng những kẻ thạo nghề. Đây là đoạn đầu tiên. Chú ý là ông có bảo “chu cấp tiền nong hậu hĩ” chứng tỏ, theo ý ông, kẻ thạo việc mới đáng đồng tiền bát gạo. S.M. tự hỏi không lẽ Kenkô đã hiểu nguyên lý kinh tế thị trường?

    [23] Có một thời Ken kô sống gần chùa Ninna nên ông có cả một mớ chuyện về các nhà sư ở đó, kể cả chuyện nhà sư thành tâm nhưng khờ khạo này.

    [24] Một ngôi chùa lớn, có ý nghĩa lịch sử, của phái Chân Ngôn, được hoàn thành ở tây bắc Kyôto vào niên hiệu Ninna (888) dưới đời Thiên Hoàng Uda.Thiên Hoàng từng ra đấy tu, sau bổ nhiệm các hoàng tử nối tiếp trụ trì.

    [25] Đền trấn sơn trên ngọn Otokoyama ở phia nam Kyôto. Tên đầy đủ là Iwashimizu Yawata hay Iwashimizu Yahata. Đền này thờ thần chiến tranh (thần cung tên) Hachiman có liên quan đến dòng họ Minamoto (Genji) và là một đền thần đạo có tầm cỡ quan trọng toàn quốc chẳng kém đền Ise và Kamo.

    [26] Thời đó, viếng đền Iwashimizu người ta thường đi thuyền cho đỡ mệt. Lội bộ khổ nhọc hơn, chứng tỏ nhà sư này có lòng thành.

    [27] Hai đền chùa phụ thuộc dưới chân núi nhưng không phải là đền chính mà nhà sư muốn thăm vốn ở trên núi.

    [28] Để thành sư (ở lứa tuổi từ 17 đến 19), chú tiểu này phải gọt tóc hoàn toàn.

    [29] Trong câu chuyện này, Kenkô đặc biệt ta thán sự suy đồi trong kỹ cương của một ngôi chùa lớn và có truyền thống như Ninnaji khi các nhà sư say sưa và hát hỏng. Các tranh mộc bản liên quan tới đoạn này thường khắc thêm bên cạnh những bài thơ dâm tình.

    [30] Mới vừa vui nhộn, hoạt kê đó mà thoắt cái đã trở thành thảm cảnh cười ra nước mắt. Kenkô muốn chứng minh là “cực lạc sinh bi”? “Xúm xít đầu giường” muốn nhấn mạnh là tình trạng đã đến chỗ tuyệt vọng.

    [31] Tuy thuộc khu vực chùa Ninna nhưng đây gọi là Omuro hay ngự thất để tỏ lòng tôn kính việc Thiên Hoàng Uda từng ra đó tu.

    [32] Chắc đây là một cậu công tử con nhà nào đó. Sự mến mộ của các tăng nhân này, theo S.M., không được ngay thực hồn nhiên cho lắm. Các chùa chiền thời trung cổ Nhật Bản chứng kiến nhiều cảnh phong hóa suy đồi, đặc biệt là chuyện đồng tính luyến ái giữa nam giới (danshoku).

    [33] Cần chú ý là những người gọi là asobi-hôshi có thể là những tăng lữ chuyên múa hát, nhưng ở đây, ám chỉ những người chỉ mượn áo tăng chứ không phải là tăng sĩ thật.

    [34] Vùng có ba quả đồi bên cạnh chùa Ninna. Cuối đời Kenkô về sống ẩn dật ở đấy. Dưới chân núi hãy còn bia mộ của chính ông.

    [35] Theo ý thơ Bạch Cư Dị trong Bạch Thị Văn Tập được dẫn ra trong thi tuyển Wakan Ryôei-shuu: Lâm gian noãn tửu thiêu hồng diệp. Thạch thượng đề thi tảo lục đài. (Đốt lá giữa rừng hâm nậm rượu. Quét rêu trên đá thảo vần thơ).

    [36] Phương pháp bí truyền với thần chú và ấn quyết của phái Shingon (Chân Ngôn) chùa Ninna. Khai tổ của phái ấy là tăng Kuukai (Không Hải, 774-835) đã tu học ở Trung Quốc.

    [37] Cũng có thể là người (phụ nữ) ngày đêm khắng khít không rời thấy trong đoạn 37.

    [38] Theo C.G., Kenkô muốn châm biếm thói quen của một số nhà thơ thường vẽ vời hoa hòe hoa sói chung quanh hoàn cảnh sáng tác của nó trong khi chính bài thơ tự thể chẳng có giá trị văn chương gì. Những người đó chắc đã bắt chước kiểu trình bày của Truyện Ise, trong đó, trước mỗi bài thơ đều có lời giải thích về nguyên lai của nó.

    [39] Xin xem thêm đoạn 79 : Đừng tỏ ra ta đây rành rẽ.

    [40] Dường như Kenkô phản đối việc chỉ dựa vào cái tâm cầu đạo để tu Phật. Ông chống lại mọi hình thức thỏa hiệp. Có lẽ ông cho rằng phải cắt mọi liên lạc với cõi tục thì mới tiến lại gần với đạo được. Sống ở cõi tục mà cầu đạo như Duy Ma Cật, Bạch Lạc Thiên hay Vương Khang Cư (Đại ẩn tại triều thị, Tiểu ẩn nhập sơn khâu, Văn Tuyển) là một chuyện không dễ dàng tí nào.

    [41] Duyên là cái nguyên nhân đã tạo ra kết quả. Nếu nhân trực tiếp thì duyên gián tiếp gây ra cái quả. Xin xem thêm đoạn 75, trong đó sinh hoạt, nhân sự, kỹ năng, học vấn…là những cái duyên được nhắc đến.

    [42] Thơ Trương Hoa: Ẩn sĩ thác sơn lâm. Độn thế dĩ bảo chân. (Người ở ẩn gữi thân nơi rừng núi. Lánh đời giữ được lòng chân thật)

    [43] Kinh Pháp Hoa, Tỉ Dụ Phẩm: Chư khổ sở nhân. Tham dục vi bản.(Mọi cái khổ đều có nguồn gốc. Tham lam là nguyên nhân lớn nhất)

    [44] Xem Cảm Nghĩ Trong Am, đoạn 11: “Cũng có lần ta lên kinh đô, hỗ thẹn về hình dáng ông sư khất thực của mình” (Kamo no Chômei).

    [45] Tuy cho rằng phải xa lánh thế tục để cầu đạo nhưng Kenkô cho rằng muốn sống ẩn dật cũng phải tích cực và cố gắng vì người ở ẩn cũng là con người với những đòi hỏi vật chất của nó. Do đó, ta thấy ông từ chối cả hai quan điểm cực đoan (S.M.).

    [46] Làm người là được một cơ hội qui hiếm để tiến về cõi vãng sanh cực lạc nên phải tận dụng.

    [47] Nguyên văn: đạo bồ đề.

    [48] Kinh Niết Bàn, chương 16: Thân tuy đại phu. Hành đồng súc sinh (Thân tuy là người. Hành động thú vật).

    [49] Đoạn này cũng như đoạn 49, phủ nhận thái độ lần khân của con người trước sự cấp bách của việc tu hành.

    [50] Chân Thừa Viện chùa Nhân Hòa, có nhiều quí tộc đến tu.

    [51] Thịnh Thân tăng đô, tiểu truyện không rõ. Tăng đô (Sôzu), chỉ đứng sau tăng chính (Sôjô), là cấp bậc cao nhất của một tông phái.

    [52] Còn gọi là oya-imo (một loại khoai môn, khoai sọ), không có vị ngọt, người Nhật hay ăn vào dịp Tết.

    [53] Làm liên tưởng đến cô tiểu thư chỉ thích ăn hạt dẻ trong đoạn 40.

    [54] Đơn vị tiền đồng (zeni). Cứ 1.000 mon (văn) thì thành một kan (quan). Thời đó, giá chính thức một thạch gạo (hộc gạo, 180 lít) chỉ có một kan. Tăng Jôshin dùng cả món tiền 200 quan thầy cho và 100 quan tiền bán thiền phòng để ăn khoai thì biết ông ăn nhiều như thế nào. (S.M.)

    [55] Về chuyện tiêu lớn cho một món nào đó thì Tống Thư Ẩn Dật Truyện có chép việc Đào Uyên Minh được Nhan Diên Chi cho hai mươi vạn tiền, dùng cả vào việc uống rượu (dẫn từ Bansaishô tức Bàn Trai Sao, của nhà quốc học Katô Bansai, 1661).

    [56] Một cái tên không rõ nghĩa, có thể được tạo ra bằng cách ghép hai âm shiro và ruri, trắng hếu và trơn láng như vỏ dưa.

    [57] Nhất định Jôshin là mẫu người có cá tính (kusemono) nhưng không hiểu Kenkô có định đem so sánh nhà sư bất cần đời này với mẩu người lý tưởng “vượt được khỏi điều hiền, ngu, được, mất” mà ông đã nói đến trong đoạn 38 chăng?”

    [58] Trong Truyện Heike (chương 3), nhân bàn về cảnh Hoàng Hậu Tokushi sinh Thiên Hoàng Antoku, có cho biết nếu sinh hoàng tử thì ném niêu đất về hướng nam, nếu sinh công chúa thì ném niêu đất về hướng bắc. Tục đó gọi là koshiki-otoshi. Phải chăng vì chữ koshiki (niêu đất dùng để thổi cơm hay hấp thức ăn) có âm koshi (phần hông và mông của cơ thể) nên được dùng làm bùa giải nạn?.

    [59] Atozan (hậu sản): thời gian nhau rớt (ena) được đẩy ra khỏi thân thể người mẹ.

    [60] Có thể là Ôharano nay thuộc về khu Sakyô trong thành phố Kyôto. Ôhara có thể viết bằng hai chữ Hán khác nhau: Đại Nguyên (Cánh Đồng Lớn) hay Đại Phúc (Bụng Chửa).

    [61] Tranh dân gian có những mảnh niêu đất vỡ đã được thái thượng hoàng Go-Shirakawa thu thập và giữ ở một nơi tên gọi Rengeô.in Hôzô (Liên Hoa Vương Viện Bảo Tàng). Go-Shirakawa là một người yêu chuộng nghệ thuật dân gian, đã sưu tập dân ca đầu đường xó chợ trong tập Ryôjin Hishô (xem chú thích ở đoạn 14).

    [62] Diên Chính Môn Viện, tên cúng cơm là công chúa Esshi (Duyệt Tử, 1229-1332). Đi tu năm 1284. Một nữ quan theo hầu bà, tên là Enseimon.in Ichijô, có một mối tình với Kenkô.

    [63] Tức Thiên Hoàng Go-Saga, cha bà Enseimon.in, lúc này đã thoái vị nhưng vẫn bận bịu đa đoan, ít gặp con cái. Bà phải viết bài thơ này truớc năm bà 14 tuổi tức năm Go-Saga băng. Thiên Hoàng sinh bà lúc ông đã 40.

    [64] Chữ có hai nét こchữ giống sừng bòい chữ thẳngし chữ cong vòng く hợp lại thành chữ (こいしく ko-i-shi-ku) có nghĩa là nhớ thương. Tuy nhiên, chữ kimi ở đây có nghĩa tôn kính như “quân vương”, “thiên hoàng”, “ngài” chứ không phải “cha”, “bố”.

    [65] Cuộc lễ cử hành ở viện Shingon trong cung từ ngày thứ tám trong tháng giêng và kéo dài một tuần lễ. Chữ Hán viết là Hậu Thất Nhật, một nghi thức mật giáo của phái Shingon (Chân Ngôn), có lập đàn, đọc kinh, bắt quyết. Mục đích đa dạng (trừ tai, tăng ích, kính ái, hàng phục). Người chủ tế (Ajari) phải là tăng sĩ có địa vị cao nhất của chùa Tôji.

    [66] Không thỏa đáng vì trong những nghi thức thiêng liêng đã có cái trần tục dính vào.

    [67] Loại xe bò của giới thượng lưu ở trước rèm thường kết ở tả, hữu, trung ương… những sợi giây da nhuộm màu, hoặc bảy, hoặc năm hoặc bốn sợi.

    [68] Đó là các gia đình quan chức lớn cỡ nhiếp chính, quan bạch, thái chính đại thần như họ Fujiwara, Konoe, Kujô, Ichijô, Takatsukasa, Koga, Saionji. Thời của Kenkô, những qui luật này còn được theo dõi kỹ lưỡng. Tuy nhiên khi có sự không rõ ràng về cách dùng xe như ở đây, ta thấy trật tự của thời đại đã có phần nào biến đổi.

    [69] Đoạn 65 này (mũ mãng) và đoạn 64 (xe cộ) có liên quan với nhau. Tác giả xúc động vì mũ mãng xe cộ là những cái không cần chạy theo thời thượng mà đã thay đổi. Làm ta nhớ thơ Đổ Phủ (Thu Hứng bát thủ) từng có câu: Văn vũ y quan dị tích thì (Áo mão các quan văn võ nay đã khác thời xưa). Tuy nhiên ông không giải thích tại sao các ông quan không sắm hộp mũ (kaburi-oke) mới mà chỉ nới vè hai bên hộp cũ.

    [70] Chức quan dành cho quyền thần, mọi chính vụ phải bẩm báo qua người đó mới đến tai vua. Bắt đầu có ở Nhật từ đời Heian, khoảng năm 884. Xuất xứ từ Hán Thư, Hoắc Quang Truyện: Chư sự giai tiên quan bạch Quang, nhiên hậu tấu ngự thiên tử. Quan bạch có nghĩa “thưa gữi”.

    [71] Ông tên thật là Fujiwara Iehira (Đằng Nguyên, Gia Bình, 1282-1324), làm chức Kanpaku năm 1313, mất năm 1324, lúc 43 tuổi. Okamoto là vùng đất đông bắc Kyoto, nơi ông có dinh.

    [72] Nguyên văn là tori (chim). Tuy nhiên qui ước trong cổ văn Nhật là khi chỉ nói chim không thôi, phải hiểu là chim trĩ, một món ăn thông dụng thời đó cũng như gà bây giờ.

    [73] Một cận vệ (zuijin) trong phủ Konoe (quân cấm binh) đã làm việc từ đời cha của Kanpaku Okamoto. Thời đó, trong đám cận vệ có nhiều người có sở trường về một môn đặc biệt.

    [74] Takekatsu trả lời đại thần Okamoto là ông không biết gì hết nhưng qua đoạn văn sau đây, ta thấy ông biết rất nhiều tập tục nghi lễ trong cung liên quan đến việc săn mồi bằng chim ưng. Thành thạo như vậy nên ông không chịu nghe lệnh chủ sai gắn chim lên một cành hoa, một chuyện mà ông xem là trái với thường thức.

    [75] Shaku ( xích) khoảng 30cm. Như vậy cành cây hơi dài.

    [76] 1,5cm.

    [77] D.K. dịch là “Có khi gắn bằng thân chim lên cành, có khi lại gắn bằng chân chim” nhưng như thế e không ổn.

    [78] Nguyên văn hiuchi-ba (D.K.: false wind), một từ kỹ thuật khó hiểu. Có thể là cái mấu để gắn “cánh thật” (real wind). C.G. cho rằng đó là những cái lông dài nhất trên lưng chim (les plus longues plumes dorsales).

    [79] “Sơ tuyết tham bái” là một nghi lễ mà quần thần phải làm hằng năm.

    [80] Thường vật vua ban vào dịp này là áo xống.

    [81] Văn từ đoạn này tuy không được dễ hiểu cho lắm nhưng đã cho ta thấy hình ảnh rất đẹp của văn hóa quí tộc Nhật Bản thời trung cổ.

    [82] Tập truyện thơ đời Heian, không rõ ai viết. Gồm 125 đoạn, tập trung vào chủ đề tình yêu nam nữ. Đoạn 98: Wa ga tanomu / kimi ga tame ni to / oru hana wa / tokishimo wakanu / mono nizo arikeri (Ý nói: Tôi bẻ một cành hoa cho người tôi tôn quí, trông cậy, nhưng hoa kia không biết đến thời tiết, lúc nào cũng nở ) (S.M.).

    [83] Takekatsu chỉ đưa ra câu chuyện nhưng không thấy giải thích.

    [84] Đền thượng Kamo có tất cả 16 phân nhánh,

    [85] Iwamoto ở tả ngạn sông Nara no Ogawa trên một kè đá (iwa).

    [86] Chánh điện của đền Hashimoto ở bên một chiềc cầu (hashi) cạnh sông Mitarashi.

    [87] Nguyên Kamo có hai đền: thượng và hạ. Đây là truyện về đền thượng.

    [88] Fujiwara no Satekata, cũng là một thi nhân, từng làm chức trấn thủ vùng Mutsu. Không rõ liên quan thế nào đến đền Hashimoto. Chết năm 994 trên đường đi đày trên miền bắc vì bị Thiên Hoàng Ichijô bắt tội sau một cuộc cải vã với Fujiwara no Yukinari, nhà thư pháp nổi tiếng.

    [89] Con sông nhỏ chảy gần thần xã Kamo. Mitarashi có nghĩa là “nước để tẫy sạch”, ở gần mỗi đền thần đều có chỗ để khách thập phương tẫy uế trước khi vào đền.

    [90] Được biết với tên khác là Jien (Từ Viên, 1155-1225). Đứng đầu phái Thiên Thai. Yoshimizu là nơi ông ở ẩn. Cũng là một nhà thơ, có 91 bài tuyển đăng trong tập thơ Shin Kokin.

    [91] Để ý koko ni ariwara (hiện ra nơi đây) là một hình thức chơi chữ vì nó cũng là tên của vương tử Ariwara no Narihira.

    [92] Vương tử đa tình, một trong 6 nhà thơ lớn (ca tiên) thời Heian. Không rõ liên quan như thế nào với đền Iwamoto.

    [93] Truyện Ise gợi ra trong đoạn 66 được nối tiếp ở đây với nhân vật trung tâm của nó, vương tử Narihira. Thái độ nhũn nhặn của ông từ giữ đền trong đoạn 67 này tương phản với cách nói chuyện đầy tự tin của Takekatsu trong đoạn 66. Có lẽ trọng tâm của đoạn này là ông từ giữ đền chứ không phải là hai cái đền.

    [94] Con gái quan Dainagon Fujiwara no Korehira, có xuất hiện trong tuyển tập thơ Shoku-Kokin và nhiều tập khác.

    [95] Bà tên là Fujiwara Kishi (Đằng Nguyên, Hỷ Tử), hoàng hậu của Thiên Hoàng Kameyama.

    [96] Hình thức thi tập với số bài nhất định thường để cúng đền chùa.

    [97] Kenkô hình như muốn mượn hai ông thần thơ để ca tụng bà Konoe này. Thi tăng Tonna cũng kính trọng và tán dương bà.

    [98] Tên cũ của vùng đất phía bắc đảo Kyuushuu.

    [99] Nguyên văn Ôryôshi, một chức quan địa phương lo việc trị an đời xưa. Có lẽ chuyện đã xảy ra trước thế kỷ 12 vì vào thời Kamakura, danh xưng này đã trở thành hữu danh vô thực.

    [100] Kenkô là người chú ý đến việc dưỡng sinh. Nếu cấu chuyện được bình giảng theo chiều hướng đó thì nghe được nhưng nếu định gán cho nó ý nghĩa siêu hình thì hơi trẻ con, buồn cười. Phải chăng nó chỉ là một tiểu phẩm thuộc loại truyện báo ân báo oán đầy dẫy trong thời trung cổ.

    [101] Thư Tả Thượng Nhân (928-1007), pháp danh Tính Không, dòng dõi quí tộc Tachibana, tu trên núi Shosha vùng Harima.

    [102] Chuyện này mô phỏng “Củi đậu nấu đậu” liên quan đến giai thoại Tào Thực đời Tam Quốc, bị anh là Ngụy Văn Đế Tào Phi bức bách, bảy bước thành thơ. Có lẽ đây là một truyện có mục đích dùng uy tín của nhà sư Tính Không để giảng đạo.

    [103] C.G. đọc là Gennô.

    [104] Thanh Thự Đường, một trong 9 nhạc viện trong cung.

    [105] Niên hiệu Nguyên Ứng (1319-21) đời Thiên Hoàng Go Daigo, lúc Kenkô khoảng 37-38 tuổi.

    [106] Một cây đàn quí trong cung, tên được viết theo âm Hán là Huyền Thượng hay Huyền Tượng. Đã được đem về từ Trung Quốc.

    [107] Tức đại thần Fujiwara (Saionji) Kanesue (1284-1339), một người giỏi đàn Biwa. Hiệu Kikutei (Trúc Đình) vì ông nổi tiếng yêu hoa cúc.

    [108] Mục mã, cây đàn quí thứ hai trong cung, cũng được đem từ Trung Quốc về.

    [109] Có thuyết cho là một người đàn ông trá hình. Âm mưu phá hoại của ai đó chăng? Dù sao Kanesue đã bình tĩnh cứu vãn tình thế.

    [110] Nhà thơ haikai Matsunaga Teitoku (1571-1653), một người đi trước Bashô, trong tác phẩm Nagusami-gusa của ông cũng tỏ ra đồng cảm với Ken kô khi đọc đến đoạn này (S.M.).

    [111] Không đợi khoa tâm lý học hiện đại ra đời, vào thế kỷ 14 mà Ken kô đã nói về những hiện tượng tâm lý như “déjà vu” (đã thấy ở đâu rồi) chẳng hạn.

    [112] Bút pháp theo kiểu liệt kê hết chuyện này tới chuyện nọ như ở đây có vẻ học được từ Makura no Sôshi của bà Sei no Shônagon.

    [113] Fuguruma, một chiếc xe nhỏ có tay nắm để thồ sách. Hiền nhân Trung Quốc xưa có câu nói: “Bình sinh nhất hồ tửu. Thân hậu ngũ xa thư” (Sống đời một be rượu. Chết để sách năm xe) cũng cùng chung một ước nguyện như thế chăng?

    [114] Trong đoạn này, Kenkô tìm hiểu quá trình biến chuyển thế nào để điều dối trá lại trở thành sự thực dưới mắt mọi người.

    [115] Cách nói dối thứ nhất (vô căn cứ, bị khám phá tức khắc) theo phân tích của S.M. về 5 cách nói dối chủ động hay nói dối thụ động mà Kenkô quan sát.

    [116] Việc Kenkô viết là okomeku hay ogomeku ở đây gây nhiều tranh cãi. Theo D.K. có nhà chú giải đã viết cả ba trang giấy để bàn về nó. Theo DK, đó là “vênh váo mãn nguyện”, trong khi C.G. dịch là “làm lộ cái nói láo ra mặt”. S.M. cho rằng dịch kiểu trước hợp với văn mạch hơn.

    [117] Cách nói dối thứ hai (tiếp vận thông tin nói dối).

    [118] Cách nói dối thứ ba (có chủ tâm, nói dối lão luyện).

    [119] Cách nói dối thứ tư (vì tiếng khen, cam chịu sự dối trá).

    [120] Cách nói dối thứ năm (buông thả, mặc nhận một điều nói dối).

    [121] Sách Luận Ngữ có câu: Tử bất ngữ quái lực loạn thần (Khổng Tử không nói tới những chuyện sức mạnh quái dị hay tranh chấp của các thần).

    [122] Văn Tuyển, quyển 9, trong bài Trường Địch Phú có câu: Phong tụ, nghị đồng (Họp lại như ong và kiến) . Tùy Thư, truyện Vu Trọng Văn có chép: Hà Nam nghị tụ chi đồ (Bọn đồ đảng họp như kiến ở Hà Nam). Con người khi họp thành đàn thường được ví với ong hay kiến.

    [123] Kinh Duy Ma đưa ra ví dụ về kiếp người: Thị thân như điện. Niệm niệm bất trú.

    [124] Thường trú, hằng thường. Trái lại với vô thường.”Không bao giờ thay đổi” là dịch theo ý của biến (lão, bệnh) và hóa (sinh, tử). Hữu hóa ra vô. Trong đoạn này, tư tưởng của Kenkô có nhiều chỗ giống với Kamo no Chômei (xem Hôjôki).

    [125] Sách Maka Shikan (Ma Kha Chỉ Quán): Sinh hoạt duyên vụ giả kinh kỷ sinh phương. Xúc đồ phân củ đắc nhất thất nhất, táng đạo loạn tâm. Ý nói người sống ở đời vì việc được mất là lòng bị rối loạn. Maka Shikan là tác phẩm đời Tùy của Thiên Thai Đại Sư Trí Khải (Chigi, 538-97) , vị tăng khai tổ phái Thiên Thai sáng tác và đệ tử là Chương An (Shôan, 561-632) chép lại (594). Đây là quyển sách ảnh hưởng rất lớn đến Phật Giáo Nhật Bản.

    [126] Sách Vãng Sinh Yếu Tập (Ôjô Yôshuu) có viết: Ức tưởng vọng phân biệt, tức thị ngũ dục bản. Trí giả bất phân biệt. Ngũ dục tắc đoạn diệt. Ý nói sự tính toán so bì là đầu mối của lòng dục.

    [127] Sách Maka Shikan (Ma Kha Chỉ Quán): Duyên vụ hữu tứ. Nhất sinh hoạt. Nhị Nhân sự. Tam kỷ năng. Tứ học vấn. Sách dạy phải thoát khỏi bốn cái trần duyên thì mới diệt được khổ.

    [128] Cả hai đoạn 76 và 77 đều nói về tình trạng xã hội đương thời, lúc một số tăng sĩ đã xuống cấp, đồi bại về mặt phong hóa.

    [129] Đời nào cũng có và chỉ phục vụ lòng tự tôn của mình thôi.

    [130] Đoạn 79 này thừa hứng và bổ túc cho đoạn 78 ở trên.

    [131] Nguyên văn Ebizu tức man di, ám chỉ những vũ sĩ thô bạo miền Đông Nhật Bản.

    [132] Thơ khổ 5/7/5/7/7 do nhiều người họp nhau lại tiếp nối nhau mà làm, có thể dài đến 10.000 câu. Rất được giới vũ sĩ yêu thích.

    [133] Cảnh ngộ của Lý Lăng, tướng nhà Hán thua Hung Nô bị bắt cầm tù. Văn Tuyển, Đáp Tô Vũ Thư: Binh tận, thỉ cùng, nhân vô xích thiết, do phục đồ thủ phấn hồ, tranh vi tiên đăng. (Lính chết, hết tên, tay không tấc sắt).

    [134] Đoạn 81 này lại nói về gia cư, có thể kết hợp với các đoạn 10, 72 có liên quan ít nhiều với nó.

    [135] Vải mỏng (usumono) dùng để chỉ chung lụa, là, sa…là loại vải quí dùng để trang trí bìa sách đời xưa. Trong “Truyện Genji, chương Sakaki (Cây Thiêng) có chép: “trục bằng ngọc, bìa bằng là”.

    [136] Tức danh tăng phái Thì Tông tên Đốn A (có thể đọc là Ton.a hay Tonna, 1289-1372),. Ông là nhà thơ waka, môn đệ của Nijô Tameyo, cùng với Kenkô, Jôben và Keiun là bốn đại thụ trong làng thơ thời ấy. Có nhiều thi tập và thơ đăng trong các tập soạn theo chiếu chỉ.

    [137] Tức Hoằng Dung Tăng Đô, nhà sư trụ trì chùa Ninna, một người bạn của Kenkô, nhỏ hơn ông khoảng bốn tuổi.

    [138] Có thể là chính bản thân Kenkô. Ông dùng chữ “có người” trong nhiều trường hợp.

    [139] Ý nói hoàn hảo hay trật tự quá đều làm cho người ta hoảng sợ.

    [140] Trong ngôn ngữ nhà Phật, nội điển là kinh Phật, ngoại điển là các sách Nho hay thuộc các luồng tư tưởng khác.

    [141] Tác giả thậm xưng. Tuy nhiên các sách vở nổi tiếng như Truyện Genji, Ma Kha Chỉ Quán, Mao Thi, Đại Học… đều thiếu mất một số chương hay đoạn.

    [142] Chỉ Fujiwara (chi nhánh Saionji) no Kinhira (Đằng Nguyên, Công Hành) làm Tả đại Thần năm 1309 có 3 tháng, sau bỏ đi tu. Ông mất năm 1315 thọ 52 tuổi. Chikurin.in (Trúc Lâm Viện) là tên phủ đệ.

    [143] Nếu Tả Đại Thần là một trong hai chức Tổng Trưởng Đặc Nhiệm (Tả/Hữu) thì Thái Chính Đại Thần ngang hàng với Thủ Tướng trong quan chế đời xưa. Chi Saionji của dòng họ quyền thần Fujiwara đã 4 đời làm Thái Chính Đại Thần nên khả năng Chukurin.in, con giòng đích trong nhà, lên đến chức này rất lớn.

    [144] Chỉ Fujiwara no Saneyasu (Đằng Nguyên, Thực Thái) hiệu Tôin (Động Viện) hai lần làm Tả Đại Thần từ năm 1318 đến 1322. Mất năm 1327, thọ 59 tuổi. Cha và con ông đều làm Thái Chính Đại Thần.

    [145] Lời bàn về quẻ Càn trong Kinh Dịch: Thượng cửu, kháng long hữu hối. Ý nói “Con rồng lỡ leo lên đến chỗ cao hết nấc thì chỉ còn có nước đi xuống, nên nó đâm ra ăn năn”. Kháng có nghĩa là nơi cao.

    [146] Điển trong Sử Ký Tư Mã Thiên, truyện Phạm Chuy (còn đọc là Tuy) Sái Trạch: Ngữ viết: Nhật trung tắc di, nguyệt mãn tắc (khuyết), vật thịnh tắc suy, thiên địa chi thường số dã”.

    [147] Chỉ còn một nấc nữa là đạt đến tột đỉnh trên nấc thang danh vọng mà Chikurin.in lại bỏ ra đi khiến cho cả Tôin và Kenkô đều thương cảm. Xin xem thêm đoạn 155 (Người chạy theo thời) để thấm thía hơn.

    [148] Cao tăng Trung Quốc thời Đông Tấn (337? – 422?), vì cảm thấy phần Luật của mình chưa đầy đủ nên sang Thiên Trúc (Ấn Độ) học hỏi. Mười lăm năm sau mới về tới nước. Ra công dịch nhiều tạng kinh và viết sách nói về chuyến đi tu học bên đó. Được gọi là Tam Tạng (cũng như Huyền Trang và các vị khác) vì thông hiểu ba tạng Kinh, Luật, Luận. Người Nhật gọi ông là Hokken Sanzô.

    [149] Sách Cao Tăng Pháp Hiển Truyện có kể là khi một thương nhân cúng dường một chiếc quạt lụa trắng làm ở Trung Quốc thì tăng Pháp Hiển nhỏ lệ vì nhớ nước, cảm cảnh cuộc đời vô thường và thương những đồng đạo cùng ra đi với mình nay không còn nữa.

    [150] Ký sự ghi trong Pháp Uyển Châu Lâm, truyện thứ 91 có nói về một vị tăng Trung Quốc “vị khách tăng mịch bản hương trai thực” (vì nhà sư nước ngoài (tức Pháp Hiển), kiếm cơm chay nấu kiểu quê ông ấy) nhưng không hề nói đó là ước mong của chính Pháp Hiển.

    [151] Xem chú của đoạn 82.

    [152] Sách Luận Ngữ, thiên Lý Nhân: Kiến hiền, tư tề yên. Kiến bất hiền nhi nội tự tỉnh dã. (Thấy người hiền, muốn được giống như họ. Thấy người không hiền, lấy đó mà phản tỉnh)

    [153] Sách Luận Ngữ, thiên Dương Hóa: Tử viết: Duy thượng tri dữ hạ ngu bất di (Chỉ có người cực kỳ sáng láng và kẻ cực kỳ ngu si mới không thay đổi).

    [154] Câu này mượn ý từ Shasekishuu (Sa Thạch Tập), đoạn 10 : “Nếu kẻ điên chạy, người không điên cũng bắt chước chạy theo. Các vị tổ sư là người không chạy vậy”.

    [155] Sách Dương Tử Phương Ngôn, chương Tu Thân: Nhân chi tính dã, thiện ác hỗn. Tu kỳ thiện tắc vi thiện nhân. Tu kỳ ác tắc vi ác nhân (Tính con người lẫn cả thiện ác vào nhau. Dốc lòng vào việc thiện thì thành người thiện, ngược lại, bắt chước kẻ ác thì thành kẻ ác). Dương Tử Phương Ngôn do Dương Hùng (53 TCN-18) đời Hán soạn.

    [156] Ngựa hay ngày chạy ngàn dặm, ý nói người hiền đức, giỏi giang.

    Dương Tử Phương Ngôn cũng có câu: Hy Ký chi mã, diệc Ký thì thừa dã. Hy Nhan chi nhân, diệc Nhan chi đồ dã (Mong được như ngựa Ký, ắt cũng là vật để cưỡi giống ngựa Ký. Mong được là người như Nhan Hồi, ắt phải là đồng đạo của thầy Nhan). Có lẽ Kenkô nhìn tự dạng Nhan sai thành Thuấn. Lý do là sách xưa có câu: Phụ Ký vĩ nhi hành ích hiển (Theo đuôi ngựa Ký để hành vi càng phong phú và tỏa sáng) nói việc Nhan Hồi theo học Khổng Tử (theo Thiều Chữu).

    [157] Chỉ Taira no Koretsugu (Bình, Duy Kế), năm 1330, có thời làm chức Gon-Chuunagon, một chức quan cố vấn về chính vụ. Ông học giỏi, được phong Monjô Hakase (Văn Chương Bác Sĩ), có nhiều thơ đăng trong tuyển tập soạn theo chiếu chỉ. Xuất gia năm 1342 và mất năm sau đó, thọ 78 tuổi.

    [158] Viên Y Tăng Chính. Giỏi văn chương, có thơ trong các tuyển tập soạn theo sắc chiếu. Ngoài ra còn nổi tiếng về vẽ tranh cuốn.

    [159] Miidera (còn gọi là Onjôji, Viên Thành Tự) và Enryaku (Diên Lịch Tự) là hai chùa lớn. Cảnh chùa Miidera, bản sơn của phái Thiên Thai được gọi gọn là Jimon (Tự môn) trong khi cảnh chùa Enryakuji trên núi Hieizan được gọi là Sanmon (Sơn môn).

    [160] Ít ai hiểu câu nói này ý nhị ở chỗ nào. Có thể là một câu nói “khôi hài đen”. Chữ Hôshi (sư) ở đây còn có thể hiểu là (lo lửa cháy = hi+ushi) ám chỉ hỏa hoạn do tăng nhân chùa địch thủ (Enryaku) tạo ra vì có cuộc tranh chấp giữa hai tôn phái. Theo thiển ý (N.N.T.) ý nhị ở chỗ khi nhà sư mất chùa đi rồi ngài mới thong dong, thật sự gần đạo được.

    [161] Thành phố nhỏ gần Kyôto, có nhiều phủ đệ.

    [162] Vùng rừng núi giữa Kyôto và Uji.

    [163] Dưới thời phong kiến, để giử lãnh địa và gây áp lực với chính quyền, các chùa như Kyôfukushi (Hưng Phúc Tự) và Tôdaiji (Đông Đại Tự) ở Nara đều có lực lượng quân sự riêng.

    [164] Kuchinashi (gardenia = cây dành, cây sơn chi), cũng có thể là tên riêng của cánh rừng.

    [165] Bàn về cái hại của rượu, xin xem thêm các đoạn 117 và 175.

    [166] Tuyển tập thơ nửa Nhật nửa Hán do Fujiwara no Kintô (Đằng Nguyên, Công Nhiệm, 966-1041) soạn khoảng năm 1012, gồm 588 bài thơ chữ Hán và 216 bài thơ Nhật nổi tiếng.Kintô thường được gọi là Shijô Dainagon (quan tham nghị cấp cao nhà ở phường số 4).

    [167] Tức Tiểu Dã Đạo Phong (894-966), cùng với Fujiwara Sukemasa và Fujiwara Kôzei là một trong ba cây bút thư đạo lỗi lạc (sanseki) thời Heian. Ông mất năm 966 là năm Kintô sinh ra đời nên không thể nào chép một tập thơ mà 46 năm sau Kintô mới soạn xong.

    [168] Một loại “mèo gìa hóa cáo” tương truyền có hai đuôi và biến hóa được. Các sách cổ của Nhật chẳng hạn Meigetsuki (Minh Nguyệt Ký), nhật ký của thi hào Fujiwara no Teika (1180-1235) có nhắc đến sự xuất hiện của con thú này vào năm 1233.

    [169] Tên các sư Tịnh Độ Tông và Thì Tông thường có chữ A Di Đà Phật. Ken kô viết Ani. Amidabutsu co nghĩa là Gì gì đó. A Di Đà Phật, có vẽ chế diễu.

    [170] Theo ý trong bài, ông sinh nhai bằng nghề này.

    [171] Phê phán những lời đồn đại như đã thấy ở đoạn 50 nói về quỉ cái.

    [172] S.M. cho là một Hôin (tăng lữ chức vị cao nhất trong hàng giáo phẩm và con của một quan tham nghị cập cao (Dainagon). Có thể là En.i (Viên Y, xem đoạn 86), Dôga (Đạo Ngã, đoạn 160) hay Ryuuben (Long Biện, đoạn 216). Thuyết về Ryuuben có vẽ dễ được chấp nhận hơn cả vì ông ta là người đồng thời và là bạn thân của tác giả.

    [173] Dựa vào việc đầu có tóc hay không để phân biệt tăng và tục. Quan hệ đi lại thân thiết giữa một tiểu đồng ngây thơ và một ông quan lớn mà cậu ta vì một cớ gì không thấy mặt, có thể suy diễn như S.M. là giữa hai người có một liên hệ đồng tính ái. D.K. chỉ bảo đây là một truyện đùa không thanh nhã trong khi C.G. dịch nguyên văn không thêm không bớt. Tuy nhiên, xin xem thêm các đoạn 53, 54 về chùa Ninna để có một ý niệm rõ hơn về cách giải thích của S.M..

    [174] Đọc là Onmyôdô hay Onnyôdô, hình thức học vấn của Trung Quốc dựa trên tư tưởng âm dương ngũ hành, sử dụng thiên văn, lịch số, bói toán để đoán biết sự hên xui, may rũi. Truyền vào Nhật Bản qua ngã Triều Tiên, có thời trở thành một thứ quan học, ảnh hưởng lớn đến triều chính.

    [175] Nguyên văn Shakusetsunichi (Xích Thiệt Nhật). Ngày đó, một trong sáu bộ hạ quỉ sứ của Thần Lưỡi Đỏ (Xích Thiệt Thần) giữ nhiệm vụ canh gác cửa Tây Môn của Thần Thái Tuế (Mộc Tinh) đổi phiên gác. Ngày thứ sáu nhằm phiên của quỉ La Sát. Có 60 ngày Lưỡi Đỏ trong năm (360:6=60). Tục kiêng Ngày Lưỡi Đỏ xuất hiện từ cuối đời Kamakura (thế kỷ 14).

    [176] Kinh Niết Bàn, đoạn 27: Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tính. Như Lai thường trú, vô hữu dịch biến. “Cái có cái không thay đổi biến chuyển”

    [177] Nguyên văn gamô (nga mao). Có thể hiểu theo nghĩa bóng là nhẹ như như lông hồng.

    [178] Lão Tử , chương 41viết: Thượng sĩ văn đạo, cẩn nhi hành chi. Trung sĩ văn đạo, nhược tồn nhược vong. Hạ sĩ văn đạo, đại tiếu chi. Bất tiếu, bất túc dĩ vi đạo. Tạm hiểu: Người cao hiền nghe đạo thì nghiêm cẩn chấp hành. Người kha khá nghe đạo, lúc giữ lúc quên. Kẻ thấp kém nghe đạo thì cười ồ. Thế nhưng hễ lời nói không bị người cười thì chưa xứng đáng gọi là đạo.

    [179] Ông tên là Fujiwara (chi Saionji) Saneuji (Đằng Nguyên, Thực Thị, 1194-1269) làm chức Thái Chính Đại Thần tùng nhất phẩm. Tướng Quốc là cách gọi theo Trung Quốc. Ông là ông ngoại của hai thiên hoàng và tằng tổ phụ của Kinhira (Tả Đại Thần Chikurin.in trong đoạn 83). Học trò của thi hào Teika, ông có nhiều thơ (236 bài) được tuyển vào các tập thơ soạn theo chiếu chỉ. Tokiwai là tên phủ đệ.

    [180] Cho thấy cái quyền thế của Tướng Quốc Tokiwai, người mà phán đoán cá nhân không khác gì chính lệnh triều đình.

    [181] Có thể dây phải được xỏ qua một vòng khoen (kan) hình chiếc nhẫn trên nắp hộp. Dây cột quanh nắp hộp có mục đích giữ cho nó cố định và kín. Câu chuyện cho ta thấy nghi thức đời xưa rất chi li nhưng cách trình bày ở đây hơi khó hiểu ngay đối với các nhà chú giải. Các dịch giả như D.K. và C.G. cũng tránh né. Có lẽ phải thấy cái hộp trước mặt (N.N.T.).

    [182] Lãnh vực nghi thức dầu là chuyện nhỏ nhặt đều là mối quan tâm của Kenkô.

    [183] Một loại cỏ thân thảo họ cúc, mọc quanh năm. Còn gọi là yabutabako hay “thuốc lá dại”, cao khoảng 80 cm, nhiều lông, hơi giống lá thuốc lá. Từ hạ sang thu có hoa vàng. Tên Hán là Thiên Danh Tinh. Sách Bản Thảo Cương Mục cho biết tính chất của nó là trừ được chất độc của các loại trùng và rắn.

    [184] Theo S.M., bản Shôtetsu chép: “hái cất sẳn đâu đó”.

    Đây cũng là một lãnh vực mà Kenkô quan tâm nghĩa là chú ý đến vấn đề sức khỏe để sống lâu. Xem thêm 3 đoạn 147, 148 và 149 cũng như đoạn 224.

    [185] Ý trong sách Trang Tử, thiên Biền Mẫu: Thiên hạ tận tuẫn dã. Bĩ kỳ sở tuẫn nhân nghĩa. Dã, tắc tục vị chi quân tử. Kỳ sở tuẫn tài hóa. Dã, tắc tục vị chi tiểu nhân. Bởi vì nhân nghĩa đi ngược lại bản tính tự nhiên của con người nên nhân nghĩa hại phẩm chất , ràng buộc hành động của bậc quân tử.

    [186] Đạo pháp, giới luật… là cái có giá trị nhưng có thể ngăn cách, làm cho người tu hành không thông cảm được với người thường. Các sách Phật như Dã Chùy, Duy Ma Kinh và Ma Kha Chỉ Quán đều nhắc tới. Ma Kha Chỉ Quán chép: Quán pháp tuy chính, trước tâm đồng tà. Ý nói giữ phép tắc là điều phải nhưng để nó ám ảnh tâm hồn thì cũng là xằng bậy.

    [187] Tên quyển sách dạy giáo lý Nhất Ngôn Phương Đàm chép lại hơn 150 lời dạy của 34 cao tăng phái Tịnh Độ và viết bằng chữ katakana nghĩa là văn tự biểu âm Nhật Bản. Tác phẩm vào giai đoạn sau của Mạc Phủ Kamakura nhưng không biết đích xác ai viết và vào thời điểm nào. Có thuyết cho tác giả là Tonna (Đốn A, xem thêm đoạn 82 có nói về ông) .

    [188] Câu nói của Minh Thiền Pháp Ấn (1167-1242), học trò Hônen.

    [189] Câu nói của Shunjôbô (Tuấn Thùa Phòng, túc Chuugen (Trọng Nguyên), 1121-1206), một đệ tử khác của Hônen.

    [190] Câu nói của Kyôbutsubô (Kính Phật Phòng, không rõ năm sinh năm mất) cũng là đệ tử Hônen.

    [191] Tức Thái Chính Đại Thần Koga (Cửu Ngã, Cơ Cụ), con trai Tomomori (Cụ Thủ), người mà Kenkô giúp việc lúc chưa xuất gia.

    [192] Tủ rất lớn có từ 4 đến 6 chân, màu đỏ, gọi là karahitsu, dùng để quần áo hay đồ vật.

    [193] Tuy là một truyện tiêu cực nhưng dụng tâm Kenkô không nhằm nói xấu gia đình chủ cũ mà chỉ muốn bày tỏ tinh thần kiệm ước và phục cổ của mình.

    [194] Xưa nay vẫn tin rằng đó là Minamoto no Masazane (Nguyên, Nhã Thực,1059-1127). Thuyết mới cho rằng chính là Minamoto no Michimitsu (Nguyên, Thông Quang, 1187-1248) cũng làm Tướng Quốc nhưng về sau. Để phân biệt với Masazane (Koga trước), Michimitsu được gọi là Nochi no Koga (Koga sau). Thơ Michimitsu có 49 bài được đưa vào các tuyển tập.

    [195] Thanh Lương Điện, nơi thiên hoàng đọc công văn, nghe tấu sớ.

    [196] Nguyên văn Tonomozukasa, một trong 12 ty quản lý hậu cung, lo việc đèn đóm, củi lửa, nước nôi.

    [197] Nguyên tác Magari. Các nhà chú giải đều bối rối trước cái chữ khó này. Họ phỏng đoán là bát bằng gỗ hay một loại chén bát thích hợp với hoàn cảnh lúc đó hơn. C.G. còn đi xa hơn, ông cho rằng đây là một cái bát sắt (écuelle de fer) hay gáo, môi (louche) để giữ nước cho mát. Nhân là ở Nhật, nơi các đền thần, người ta hay dùng gáo gỗ uống nước và cũng vì Kenkô có thể viết đoạn này để so sánh sự khiêm cung, thanh đạm của Tướng Quốc Koga so với cái xa xỉ của Tướng Quốc Horikawa trong đoạn trước nên kiểu dịch “gáo gỗ” này xem ra không vô lý lắm.

    [198] Nguyên văn Nakatsukasa-shô, cơ quan bên cạnh thiên hoàng phụ trách sắc chiếu, tuyên chỉ, nhận tấu sơ và giám tu quốc sử. Trung Quốc gọi là Trung Thư Tỉnh, Phượng Các.

    [199] Tử Thìn (Thần) Điện nơi triều hạ, nghi lễ.

    [200] Nakahara Yasutsuna (Trung Nguyên, Khang Cương, 1289 -1339)

    [201] Xem chú về áo chàng kazuki ở đọan 70. Tuy nhiên trong trường hợp này, mọi sự tự nhiên hơn.

    [202] Đoạn này có mục đích ca tụng tài ứng phó của các viên chức hành chánh, ra tay cứu nguy một đồng liêu đang gặp khó khăn mà không làm mất danh dự gia đình vị đại thần nhậm chức.

    [203] Tức Minamoto no Mitsutada (Nguyên, Quang Trung), sẽ còn xuất hiện ở đoạn 136. Có làm chức In no Dainagon, chuyên đàn hặc những lỗi lầm các quan lại, và mất khoảng năm1332, thọ 48 tuổi. Không nghe nói đến việc xuất gia của ông.

    [204] Xem chú đoạn 19.

    [205] Xem chú đoạn 83.

    [206] Matsugorô Onoko. Gọi một người Onoko là xem họ như phận dưới nhưng cũng tỏ tình thân ái.

    [207] Một nhân vật thuộc dòng họ Konoe, một đại thần cấp bậc cao nhưng không nói rõ là ai: Iehira (Gia Bình, đoạn 66), Tsunetada (Kinh Trung, 1302-1352) hay Tsunehira (Kinh Bình, 1287-1318).

    [208] Geki (ngoại ký), chức quan trông coi (kiểm soát, điều hành) nghi thức và ký lục.

    [209] Cung điện nằm trong khuôn viên ngôi chùa cùng tên, là nơi thái thượng hoàng Go-Uda về ẩn tu nhưng vẫn giật dây chính trị cho nên nơi đây quần thần vẫn hay tụ họp để hoặc bàn bạc hoặc làm thơ tiêu khiển.

    [210] Đã xuất hiện ở đoạn 12. Tên là Tanba Tadamori (Đan Ba, Trung Thủ), trưởng quan phụ trách y dược trong cung, nhà thơ có thơ được tuyển vào các tập sắc chiếu, cũng là nhà nghiên cứu cổ văn. Ông gốc người di dân đến từ Trung Quốc.

    [211] Đã xuất hiện ở đoạn 24. Tên là Nijô Kin.akira (Nhị Điều, Công Minh, 1282-1336), cũng là một nhà thơ nhưng trong đoạn này, chứng tỏ mình kỳ thị người di trú và không có hồn thơ cho lắm.

    [212] Xưa kia, quyền thần Taira no Tadamori (Bình, Trung Thịnh) xuất thân ở Ise nên đã bị gọi Ise-heiji (bình đất Ise) rồi. Ngoài lý do Heiji là cách đọc chữ Hán của Bình thị (họ Taira), còn vì tướng mạo ông không đẹp, giống như lọ đựng giấm. Kara có nghĩa là Trung Quốc, nước ngoài, hay rỗng, cạn. Chữ Kara-heiji còn nghe na ná như Kara-ishi (y sĩ người Tàu) nữa. Ngoài việc hai người giống nhau vì có cùng một cái tên (Tadamori), có thuyết cho rằng hình dáng ông y sĩ Tadamori ở đây cũng thô kệch giống bình rượu.

    [213] Hơi văn và chữ dùng gần với câu mở đầu trong chương Hanachiru sato (Làng hoa rụng) trong Truyện Genji.



    [214] Kể từ đoạn 44 mới thấy lại một đoạn có cái không khí của cuộc sống cung đình. Người đàn ông đến thăm có phải chính Kenkô hay sao mà ta có cảm tưởng đang theo bước chân ông vào căn nhà ấy. Đoạn 104 này có thể kết hợp đọc với các đoạn 26 và 105.

    [215] Trùng hợp với phong cách của người đàn bà trong đoạn 32.

    [216] Có hương vị và chi tiết trong chương 50 nhan đề Azumaya (Mái đông) của Truyện Genji.

    [217] Có nhiều thuyết nói về ai là người sẽ ngủ ngon. Bọn thị nữ? Bọn tùy tùng? Cô chủ và chàng trai?

    [218] Không khí nồng nàn và ướt át đã hội đủ cho cuộc tái ngộ.

    [219] Cách tả cảnh gà gáy sáng chịu ảnh hưởng chương 2 Hahakigi (Cây kim tước chi) trong Truyện Genji.

    [220] Tình yêu vĩnh cửu với nàng, kỷ niệm một đêm hay cả hai?

    [221] Quế là loại cây to, cao đến 20 hay 30 mét, chứng tỏ chàng nhìn theo rất lâu. Cành quế cũng thấy trong chương 11 Hanachiru sato (Làng hoa rụng) của Truyện Genji.

    [222] Giống như thơ Sugawara no Michizane (845-903) lúc bị đi đày: Kimi ga sumu / yado no kozue wo / yuku yuku to / kakururu made mo / kaeri mishi haya. Ngọn cây nhà em ở đâu. Bước đi một bước ngoái đầu ta trông. Kimi có hai nghĩa (vua hay người yêu). Chương 31 Makibashira (Cây trụ xinh) cũng có lời thơ với ý tương tự.

    [223] Bạch Thị Văn Tập, bài Dữu Lâu Vọng Hiểu (Trên lầu của Dữu Tín ngắm trời sáng) có câu: Tử thành ẩn xứ do tàn tuyết. Bởi vì “tử thành” có nghĩa là “phía bắc” nên đúng với ý đoạn này. Phía bắc không có mặt trời nên có cái đẹp tịch mịch thê lương. Trong Truyện Genji, chương Wakana Jô (Rau Non, phần thượng) cũng có tả lại cảnh vợ chồng Genji -Murasaki no Ue nói chuyện với nhau và câu thơ trên được nhắc đến để nói lên tâm trạng của Genji lúc ấy. Có lẽ thời điểm vào giữa hoặc cuối tháng hai.

    [224] Xe của quí tộc sử dụng, đi chậm chạp cho trang trọng.

    [225] D.K. cho rằng từ kabushi katachi dùng ở đây còn là đề tài của nhiều tranh cãi. D.K. và C.G. đều dịch theo cái nghĩa “Người đàn bà đầu nghiêng nghiêng về phía người đàn ông trông thật khả ái” và “hương thơm toát ra từ áo xống của nàng” chứ không nói về cả hai người. Chúng tôi dịch theo ý của S.M.

    [226] Quí tộc ngày xưa bất luận nam nữ hay xông hương áo xống.

    [227] Đoạn này như một khung cảnh được miêu tả trong văn học vương triều, trình bày cái đẹp cao nhã trong cảnh lạnh lẽo thê lương, theo chủ trương thẩm mỹ của Kenkô.

    [228] Nhân vật chưa rõ là ai.

    [229] Cao Dã Sơn, gần Kyôto, ngọn núi danh tiếng của Phật giáo Nhật Bản, có chùa Kongôbuji (Kim Cương Phong Tự) của phái Shingon do đại sư Kuukai (Không Hải) thiết lập.

    [230] Nguyên tác: phi tu phi học.

    [231] Hy vọng Kenkô chỉ có ý châm biếm chứ không thái độ thành thực kính trọng ông Shôkuu lỗ mãng này như đối với cao tăng Hônen trong đoạn 39. Tuy nhiên S.M. bảo ngược rằng không thiếu gì thuyết cho là Kenkô thực bụng khen ông Shôkuu (có lẽ thế, nếu dựa vào quan điểm thiên trọng nam giới của ông trong đoạn 107, N.N.T.).

    [232] Thiên hoàng đời thứ 90 (trị vì 1259-1274) tức là trước khi Kenkô ra đời. Sau khi thoái vị làm thái thượng hoàng cho đến lúc mất (1305).

    [233] Tiếng cuốc kêu báo mùa hè. Thời vương triều, khi nói mình nghe tiếng cuốc kêu đầu tiên (hatsune) trước cả mọi người là để tỏ ra tự đắc về mình.

    [234] Ông Minamoto no (chi Horikawa) Tomomori này (1249-1316) cũng hóm hĩnh trả lời. Vì Iwa, hai âm đầu địa danh Iwakura còn có nghĩa là “không nói” (C.G.). Dù sao, Iwakura còn là tên một vùng núi non thanh u, nơi ông có sơn trang, địa điểm thích hợp để nghe cuốc kêu (S.M.).

    [235] Có lẽ muốn nói về Kujô Moronori (Cữu Điều, Sư Giáo), làm nhiếp chính, quan bạch, mất năm 1320, thọ khoảng 45 tuổi. Có thuyết cho là Tadanori (Trung Giáo), cha ông ta.

    [236] Hay An Hỉ Môn Viện, con gái nhà Fujiwara, tên là Yuushi (Hữu Tử), hoàng hậu của Thiên Hoàng Go-Horikawa. Mất năm 1286 lúc 80 tuổi. Bà vai chị của bà nội Moronori.

    [237] Tôin (Saionji) Saneo (Động Viện (Tây Viên Tự) Thực Hùng) làm Tả Đại Thần năm 1261, mất năm 12173). Yamanashi là tên phủ đệ.

    [238] Tuy trong sách vở Nho, Phật, giá trị người đàn bà thường bị phủ nhận nhưng ôi chao, những dòng “buộc tội đanh thép” này của Kenkô thật vượt quá sức tưởng tượng nên thấy hơi buồn cười. Tương phản rõ ràng với những đoạn khác mà ông đã rất tinh tế khi nói đến đàn bà và tình yêu. Ý kiến về phụ nữ trong đoạn này của ông sẽ được bổ túc với đoạn 190.

    [239] Nguyên tác: nhất thốn quang âm. Sách Shôhô genzô zuimonki (Chính pháp nhãn tàng tùy văn ký) có viết: “Người học đạo, phải biết tiếc quang âm”. Hiền nhân Trung Quốc cũng từng nói:”Nhất thốn quang âm, nhất thốn kim.”

    [240] Tạ Linh Vận là văn nhân (sinh 385- mất 433) Trung Quốc đời Lục Triều, nổi tiếng về thơ sơn thủy. Sinh trong gia đình quí tộc họ Tạ triều Đông Tấn, tước Khang Lạc Công. Đông Tấn mất, làm thái thú Vĩnh Gia nhà Tống nhưng sau bất mãn, bỏ đi chu du. Môn hạ rất đông. Vì triều đình nghi ông có chí mưu phản nên bắt giết.

    [241] Tạ Linh Vận có liên quan đến việc hiệu đính kinh Niết Bàn nhưng không nghe nói gì về kinh Pháp Hoa.

    [242] Nguyên tác “tư phong vân” có thể vừa hiểu là có tham vọng chính trị vừa hiểu là thích rong chơi giữa thiên nhiên.

    [243] Huệ Viễn (334-416), cao tăng thời Đông Tấn.Thủy tổ Tịnh Độ Tông Trung Quốc.

    [244] Nhóm đồng đạo vài trăm người của tăng Huệ Viễn ở chùa Đông Lâm núi Lô Sơn, chuyên tu tập theo lối niệm Phật để được vãng sinh. Hai bên đông tây Phật đường có hồ sen trắng nên tên của nhóm là Bạch Liên Xã.

    [245] Có lối dịch “bỏ việc đời để chuyên lo tu niệm”. Chúng tôi theo S.M., người đã dịch từ “chỉ” (ngừng lại) , tu” (dốc lòng) trong nguyên văn của Kenkô theo lối bình giảng của tăng Mujuu (Vô Trú): “chỉ ác tu thiện…thoát vòng sinh tử, gần với đạo của Bồ Tát”.

    [246] Kenkô lại ca tụng những người lành nghề. Đây có lẽ là một “đình sư” chuyên môn trông coi việc làm vườn.

    [247] Ví dụ câu nói trong Kinh Dịch, thiên Hệ Từ: Quân tử, an nhi bất vong nguy, tồn nhi bất vong vong, trị nhi bất vong loạn, thị dĩ thân an nhi quốc gia khả bảo dã” (Người quân tử lúc yên ổn không quên sự nguy hiểm (có thể xảy ra)”vv...

    [248] Cầu làm bằng da hươu. Trò chơi của quí tộc. Do tám người đá trên một sân hình vuông có trồng bốn loại cây anh đào, liễu, phong, tùng.

    [249] Sugoroku hay suguroku, trò chơi truyền từ Trung Quốc vào Nhật đã lâu, có lẽ vào thời Nara (710-784). Chữ Hán viết là song lục nhưng không giống hẳn trò mang tên đó ngày nay. Trò này có hai người chơi, mỗi bên có 12 quân (6 x 2) bằng gỗ hay tre, bên đen bên trắng, sử dụng còn thò lò sáu mặt để tiến quân, chiếm được nhiều ô thì thắng.

    [250] Nếu đoạn 109 nói về việc leo cây, Ken kô chủ trương không nên lơi là vì thất bại thường đến lúc lơ đểnh, đoạn 110 này, ông đánh giá tính nhẫn nại như chìa khóa của thành công.
    Chữ ký của Kasumi
    JaPaNest _______

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 30-07-2012, 12:20 PM
  2. Ý nghĩa tên các nhân vật trong Naruto
    By Tomo Kudou in forum Manga
    Trả lời: 13
    Bài mới gởi: 12-07-2012, 05:02 PM
  3. Trả lời: 6
    Bài mới gởi: 12-05-2012, 07:10 PM
  4. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 08-02-2012, 04:29 PM
  5. Ý nghĩa chiếc áo màu trắng trong ngày cưới
    By Alex in forum Chat Chit - Làm quen
    Trả lời: 8
    Bài mới gởi: 05-09-2008, 06:44 AM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •