PHẦN I ( ĐOẠN 1 ĐẾN 46 )
Lời mở đầu
Đoạn 1: Sinh ra ở đời.
Đoạn 2: Các bậc vua hiền xưa.
Đoạn 3: Dù cho được đủ mọi điều.
Đoạn 4: Chuyện kiếp sau
Đoạn 5: Kẻ chìm đắm trong nỗi buồn bất hạnh.
Đoạn 6: Nếu thân danh ta cao quí.
Đoạn 7: Không khô như sương trên cánh đồng Adashi.
Đoạn 8: Cái làm rối loạn lòng người.
Đoạn 9: Mái tóc đẹp.
Đoạn 10: Sự hài hòa của nơi cư trú.
Đoạn 11: Nhân “tháng không thần”.
Đoạn 12: Bạn đồng tâm.
Đoạn 13: Đối bóng ngọn đèn.
Đoạn 14: Về thơ Waka.
Đoạn 15: Cho dù cất bước đi đâu.
Đoạn 16: Nhạc tế thần.
Đoạn 17: Náu mình trong chùa trên núi.
Đoạn 18: Cam cảnh thanh bần.
Đoạn 19: Bốn mùa thay đổi.
Đoạn 20: Người ấy tên gọi là chi nhỉ?.
Đoạn 21: Vui là khi ngắm vầng trăng.
Đoạn 22: Mến mộ đời xưa.
Đoạn 23: Thời buổi suy vi.
Đoạn 24: Truyện công chúa đi tu thế ra ở
cung ngoài đồng.
Đoạn 25: Đất lở đất bồi trên sông Asuka và đời vô thường.
Đoạn 26: Gió dầu không cuốn, lòng cũng đổi thay.
Đoạn 27: Lễ nhường ngôi.
Đoạn 28: Trong năm Thiên Hoàng cư tang.
Đoạn 29: Lặng lẽ suy tư.
Đoạn 30: Nỗi buồn khi một người qua đời.
Đoạn 31: Buổi sáng tuyết rơi.
Đoạn 32: Khoảng ngày 20 tháng 9.
Đoạn 33: Hoàn thành cung mới.
Đoạn 34: Kaikô, một loại ốc loa.
Đoạn 35: Người viết chữ xấu.
Đoạn 36: Lâu ngày không đến thăm nàng.
Đoạn 37: Người hết sức thân quen.
Đoạn 38: Chạy theo danh lợi.
Đoạn 39: Có người hỏi đạo ngài Hônen.
Đoạn 40: Truyện ở xứ Inaba.
Đoạn 41: Hội đua ngựa đền Kamo mồng
năm tháng năm.
Đoạn 42: Truyện con ông tướng Karahashi.
Đoạn 43: Tiết cuối xuân.
Đoạn 44: Từ bên trong phên trúc.
Đoạn 45: Người anh quan nhị phẩm Kin.yo.
Đoạn 46: Ven vùng Yanagihara
Lời Nói Đầu:
Những lúc rỗi rảnh đến nhàm chán[1], từ sáng đến chiều, ta đối mặt với nghiên mực, đang nghĩ chuyện này bắt sang chuyện khác, mặc cho ý tưởng trào ra đầu ngọn bút. Thấy mình thật vớ vẫn!
Đoạn 1: Sinh ra ở đời.
Chao ôi, con người[2] từ khi sinh ra ở đời, đương nhiên ai mà chẳng ước mong được thế này thế nọ. (Thế nhưng) trước hết, nói về địa vị, riêng cái ngôi thiên hoàng thì không ai dám. Các hoàng tử cho đến hoàng tôn cũng được kể vào hàng cành vàng lá ngọc[3], khác với dòng giống phàm tục, cần phải kính trọng. Người xuất thân nhà các quan đệ nhất đương triều[4] là dòng dõi cao sang thì đành rồi, nhưng ngay cả con cái cỡ bậc quí tộc được cấp kẻ để sai bảo đều vượt người thường. Đến đời con cháu các vị ấy, dù có sa sút[5], vẫn còn phong vận. Riêng những người cấp thấp hơn ở trong triều, ví dụ vì nhờ gia thế, tài năng hoặc thời buổi mà được mở mày mở mặt thì đó là hạng không đáng kể cho dầu họ nghĩ mình tài giỏi.
Như địa vị tăng lữ thì chẳng mấy ai thèm ước mơ. Thầy tu là loại người mà bà Sei Shônagon[6] từng viết: “trơ như khúc gỗ”[7]! Quả đúng thế! Việc đạt danh vọng cao hay được người đời tán tụng, các nhà tu không biết đó là vinh dự. Cao tăng Sôga[8] có lần cho rằng đối với kẻ xuất gia, tiếng tăm chỉ đem đến ràng buộc vô ích, làm họ đi ngược lại điều Đức Phật dạy. Còn như nếu vượt khỏi thế gian, sống đời ẩn dật, dốc lòng tu niệm, thì tuy có bị người đời khinh thường nhưng điều mong ước của mình đã đạt được rồi.
Người thường coi chuyện hình thù, vóc dáng tuyệt vời mới chính là điều đáng mong mỏi. Gặp kẻ có cách ăn nói êm tai, gãy gọn, dáng dấp dễ yêu một chút là ta sẽ ngồi tiếp họ không biết chán. Nhưng nếu con người nom thanh lịch kia bỗng nhiên một ngày lộ bản tính đê tiện thì đáng thất vọng.
Gia thế hay cái dáng bên ngoài là những gì thừa hưởng từ lúc sinh ra, ta đành chịu. Nhưng tâm hồn thì nếu cố gắng trau giồi, càng ngày nó sẽ trở nên cao đẹp. Ngược lại, những ai dù hình thù dễ coi và tốt bụng chăng nữa, nếu thiếu tài nghệ, học vấn, khi phải bon chen giữa đám thân phận thấp hèn, nhân cách tồi tệ, chắc chắn sẽ bị khuất thân dưới tay người. Đó cũng là điều đáng tiếc cho họ.
Nên học cái gì đây? Theo ta đó là cái vốn văn hóa gồm các kinh điển, thơ chữ Hán, thơ quốc âm waka, âm nhạc…Thêm nữa, về mặt kiến thức lễ nghi, chế độ, tổ chức hành chánh trong triều[9] nếu mình trở thành mẫu mực cho mọi người thì không còn gì hơn. Chữ đẹp mà văn lưu loát, giọng tốt và bắt trúng nhịp[10], khi được người mời nâng chén thì tuy ngoài mặt tỏ vẻ muốn từ chối nhưng thật ra không phải rượu không hào. Thế mới đáng mặt nam nhi.
Đoạn 2: Các bậc vua hiền xưa.
Những ai[11] kênh kiệu, chỉ giỏi tiêu xài hoang phí xa xỉ, không chút để ý đến tiếng dân ta thán và cảnh đất nước suy vong, quên hết đường lối cai trị lý tưởng của vị vua hiền đức thời xưa[12], là kẻ không còn biết phải trái.
Ngài Kujô[13] từng răn con cháu: “Từ áo mũ đến xe cộ[14], có thế nào thì cứ thế mà dùng. Đừng đi tìm cái hoa mỹ”. Cựu hoàng Juntoku[15] khi viết về chuyện trong cung cũng có câu: “Về vật dụng áo xống của thiên hoàng, giản dị đơn sơ là hợp nhất”.
Đoạn 3: Dù cho được đủ mọi điều[16].
Dù cho được đủ mọi điều, đàn ông mà chưa có kinh nghiệm luyến ái thì coi như vẫn còn thiếu sót[17]. Nhìn người đó, thấy anh ta không khác gì cái chén rượu thật đẹp nhưng lại thủng đáy[18].
Tức cười cho cái anh chàng cứ để quần áo ẩm ướt sương khuya, quanh quẩn đi tìm mà không ra bóng người con gái, tâm hồn rối như tơ vò, không lúc nào được bình tâm vì cha mẹ can ngăn, thiên hạ đàm tiếu. Tính hết kế này tới kế khác mà không xong, nhiều lúc cứ phải ngủ một mình và không ngon giấc[19].
Có ham muốn tình yêu[20] đi nữa nhưng không nên hoàn toàn chìm đắm trong đó, phải để cho đàn bà biết mình không phải dễ bị họ chinh phục.
Đoạn 4: Chuyện kiếp sau[21]
Người đáng ca ngợi[22] là kẻ biết nghĩ tới kiếp sau, luôn luôn quan tâm sâu sắc với con đường tu Phật.
Đoạn 5: Kẻ chìm đắm trong nỗi buồn bất hạnh.
Kẻ chìm đắm trong nỗi buồn vì chuyện bất hạnh[23] không nên vội vàng làm những chuyện như cắt tóc đi tu mà phải về nhà ngày đêm đóng cửa sống một mình, không cho ai biết mình còn đó hay không. Phải có cái tâm tình giống như là trong cuộc sinh hoạt này, mình không còn mong đợi điều gì nữa.
Quan tham nghị bậc trung Akimoto[24] có lần nói: Ta muốn nhìn vầng trăng sáng nơi bước lưu đày mà không cảm thấy có gì tội lỗi[25]”. Ta nghĩ có thể thấu hiểu được lời ông.
Đoạn 6: Nếu thân danh ta cao quí.
Trường hợp thân danh ta cao quí, chứ không nói đến kẻ thân danh tầm thường, thì cứ ở như vậy, đừng có con cái.
Các ngài Tiền Trung Thư Vương[26], thái chính đại thần Kujô[27] , tả đại thần Hanazono[28] tất cả đều mong cho họ mình tuyệt tự. Đại thần Sômedono[29] cũng nói: “Không có con chả sao đâu. Có đứa con chẳng ra gì là chuyện bực không chịu được!”. Giai thoại này là đề tài cho một truyện trong tập “Ông già Yotsugi”[30]. Thái tử Shôtoku[31] khi cho xây sinh phần của mình có bảo: “Phải xén chỗ này. Phải chặt chỗ kia!” . Ta hiểu hình như ngài muốn đoạn tuyệt đường con cái[32].
Đoạn 7: Không khô như sương trên cánh đồng Adashi
Sương trên cánh đồng Adashi[33] khô ngay, khói núi Toribe[34] mới nhìn đã không thấy nữa thế mà con người không muốn mình biến mất như giọt sương, ngọn khói. Tuy nhiên, nếu cuộc đời cứ kéo dài vĩnh viễn thì còn gì đáng để xúc động[35] nữa. Chính vì đời vô thường nên nó mới tuyệt vời.
Thử nhìn sinh vật muôn loài xem, có giống nào sống lâu hơn loài người. Phù du sáng sinh ra chiều đã chết đi[36], ve sầu sống chỉ nội mùa hè, nào có biết xuân thu[37], chúng là những con vật mà cuộc đời thật ngắn ngũi. Sống mà biết sống vui thỏa thì cho dù một năm thôi cũng đã thấy cuộc đời dài lắm rồi. Còn như cứ muốn mình sống mãi sống hoài, không sao thấy đủ thì nghìn năm chỉ thoáng qua như giấc mộng một đêm. Cuộc đời này sẽ phải biến mất đi lúc nào đó thôi, bám víu làm chi khi để thấy cảnh già nua xấu xí. Sống càng thọ càng mang nhục[38]. Cùng lắm thì nên chết lúc chưa tới bốn mươi là vừa đẹp[39].
Sau đi qua cái tuổi đó rồi, con người không còn biết mắc cỡ vì hình dung xấu xí nữa, lại thích nhập bọn với người khác. Lúc đời xế bóng, họ muốn kéo dài tính mệnh để gần gũi con cháu[40], cầu mong sống thêm để chứng kiến tương lai của chúng lúc thành nhân. Họ chỉ đeo đẳng mỗi cái lòng dục mà quên phải sống cho ra hồn người. Những cảnh tượng như vậy thật không sao coi cho được.
Đoạn 8: Cái làm rối loạn lòng người.
Ở đời, cái làm cho cái tâm của người đàn ông rối loạn là dục vọng của họ đối với phụ nữ. Lòng người ta quả là ngu muội vậy. Cái hấp dẫn gây ra bởi giác quan nào có thực, ví dụ hương thơm [41]xông quần áo[42] chỉ là cái nhất thời, thế mà khi ngữi mùi lan xạ là không thể nào con tim không bấn loạn. Nhà ẩn tu[43] ở chùa Kume[44] đất Yamato thấy bắp chân trần trắng muốt của người con gái đang giặt đồ mà mất phép thần thông (nên đang bay bỗng) rơi xuống đất. Thật vậy, khác với hương phấn (không thực và không lâu dài), tay chân và làn da người con gái có cái đẹp màu mỡ của da thịt thiên nhiên, chả trách nhà tu hành kia đâm ra mê loạn.
Đoạn 9: Mái tóc đẹp.
Nơi người đàn bà, mái tóc đẹp[45] là cái thu hút tia nhìn của đàn ông hơn cả. Còn tính tình và phẩm cách của nàng, thì qua lời ăn tiếng nói, cho dầu mặt khuất sau bức mành[46], cũng có thể đoán biết được.
Nhân một dịp nào đó, nếu dáng vẻ tự nhiên của họ chiếm được trái tim đàn ông, hầu như cô nào bà nào cũng sẽ thao thức mất ngủ, chẳng nề hà trước khổ cực, nhiều khi chịu đựng được cả những điều thường ngày không kham nổi, cũng chỉ vì họ đang tràn trề tình yêu.
Thật vậy, dục vọng yêu đương của trai gái vốn có nguồn cội rất sâu xa. Con người ta nhận nhiều kích thích do lục trần [47] thành ra sinh nhiều điều ham muốn.Tất cả ham muốn đều có thể vứt được tất chỉ trừ tình cảm đối với người khác phái thì khó mà bỏ.Về điểm này dù cho già, trẻ, hiền, ngu, không ai khác ai cả.
Cũng vì lý do đó nên mới có truyền thuyết là sợi dây thừng xe bằng lọn tóc của người đàn bà có thể cột được con voi khổng lồ[48], mà ống tiêu đẽo từ gỗ đôi guốc của người đàn bà có thể làm cho con nai mùa thu động tình đi tìm nai cái lần đến gần[49]. Cho nên phải tự răn mình, cẩn thận không nên lầm lạc mắc vào dục vọng đáng sợ đó.
Đoạn 10: Sự hài hòa của nơi cư trú.
Nơi cư trú của còn người thường hài hòa và thích hợp với người sống trong đó. Vì thế, dù ngôi nhà chỉ là nơi ở tạm trong cuộc đời biến ảo, ta thấy nó cũng có khi đem lại cho ta nhiều nguồn vui và cảm tưởng thích thú.
Chỗ một con người thanh cao sống trong cảnh an nhiên tự tại thì ngay ánh trăng chiếu vào trong nhà cũng có cái gì nên thơ hơn một bậc. Nhà không cần loại trang trí bóng lộn thời thượng mà là nơi có những lùm cây hoang dại, cỏ trong sân mọc theo thiên nhiên, với những tấm mành tre và rào dậu để lơi là đầy phong vị cổ kính, làm cho mình cảm thấy thoải mái và lắng dịu khi nhìn.
Nhiều người cho thợ mộc tận lực tu bổ nhà cửa, đặt những đồ chưng bày quí hiếm thu thập trong nước hoặc đến từ Trung Quốc, sửa sang nhân tạo cả những cây cỏ đã có, làm khung cảnh thành ra nhức mắt và không khỏi gây bực mình. Ai mà có thể sống mãi trong căn nhà đó, và ý tưởng đầu tiên đến với ta là nó có thể bị thiêu rụi một cách dễ dàng trong phút chốc. Tóm lại, chỉ cần nhìn một ngôi nhà, ắt biết chủ nhân của nó là người thế nào.
Nơi phủ đệ của quan Tả Đại Thần Gôtokudaiji[50], vì không muốn cho diều hâu đến đậu, ngài đã cho giăng giây thừng trên mái tẩm điện. Tăng Saigyô[51] thấy thế mới bảo: “Diều hâu đến đậu thì đã có gì bất tiện! Ông quan này quả thật hẹp lượng”. Thế rồi từ đó nghe nói người không đến thăm đại thần nữa. Còn Hoàng tử Ayanokôji[52] thì trên nóc điện Kosaka[53] là nơi ngài ngự, một hôm cũng có giăng giây thừng. Nhân đó, khi ta nhắc đến chuyện xưa thì người ta có giải thích lý do như thế này: “Bởi vì lũ quạ tụ tập thành bầy trên đó có thể sà xuống ao giết hết ếch nhái. Hoàng tử thấy thế nên đem lòng tội nghiệp chúng”. Nếu như vậy thì hoàng tử thật là người đáng quí.
Trường hợp của quan Tả Đại Thần Gotokuji thì không hiểu ông có duyên cớ gì đặc biệt chăng?
Đoạn 11: Về “tháng không thần” [54].
Tháng không thần (tháng mười âm lịch), nhân có việc đến thăm người ta, phải đi ngang qua cánh đồng Kurusu[55], vào tận một thôn làng ven núi. Khi đang vẹt lối bước đi trên con đường mòn xanh rêu và trải về xa tắp, ta thấy một cái am nhỏ quạnh hiu. Chỉ nghe tiếng nước giọt tí tách từ máng tre bị lá mục che phủ, ngoài ra chung quanh hoàn toàn tịch mịch.Vì có một cái giá bày biện sơ sài mấy nhánh hoa cúc và lá phong đỏ để cúng Phật, mới đoán chừng chắc có ai sống đâu đây.
Ta lặng người nhìn không khỏi cảm kích. nghĩ thầm sao lại có người sống được nơi thanh vắng như thế này. Bên kia khu vườn, có một cây cam cành trĩu những quả to. Chung quanh thân cây được rào giậu kỹ lưỡng. Điều đó bất giác làm ta mất đi hứng thú. Phải chi không có cây cam này thì hay biết chừng nào[56].
Đoạn 12: Bạn đồng tâm.
Với những người có tâm hồn đồng điệu với mình, nếu ta có dịp được ngồi nói chuyện với nhau một cách thân mật, chia sẻ về điều gây hứng thú hay chuyện dâu bể cuộc đời, thực lòng tâm sự an ủi nhau thì không có gì vui sướng hơn. Tuy nhiên, trên thực tế thật khó tìm được kẻ như thế, thường là ta cứ phải giữ ý giữ tứ với người nói chuyện trước mặt mình.Những giây phút đó, ta cảm thấy buồn và cô đơn.
Đối với những việc thế nào cũng phải làm cho ra lẽ, ta mong được có những người chịu khó lắng tai rồi nói “Không lẽ thế sao!” và cho những ý kiến tinh tế. Với họ, ta có thể tranh cãi: “Vì thế này nên nó phải thế kia!” hay ra sức thuyết phục họ và nhờ đó, đỡ ấm ức. Nhưng trên thực tế có rất nhiều người trước một việc gì không đồng ý, họ tỏ ra thuận thảo với ta đấy nhưng lòng vẫn mang nặng hiềm nghi. Đối với những kẻ ấy, trong lúc có mặt nhau, có thể nói chuyện cho xuôi tai, nhưng họ không phải là bạn thật của ta đâu. Thế mới đáng buồn làm sao!
Đoạn 13: Đối bóng ngọn đèn.
Mở trang sách dưới ngọn đèn, như được làm bạn với người muôn năm cũ, không có gì cảm thấy được an ủi cho bằng.
Về các tác phẩm tuyệt vời đó hay phải kể đến những trang gây xúc động của Văn Tuyển [57], lời lẽ trong Bạch Thị Văn Tập [58], sách Lão Tử [59], thiên Nam Hoa [60]. Về trứ tác của các quan bác sĩ [61]nước ta, trong số sách các bậc tiền bối, nhiều cuốn đọc cảm khái vô hạn.
Một nình đối bóng ngọn đèn (Đoạn 13)
Đoạn 14: Về thơ waka[62].
Dù ai bảo thế nào đi nữa, thơ quốc âm waka là cái gây được xúc động trong lòng. Ngay khi lấy kẻ bần dân hay người kiếm củi làm đề tài thì qua lối diễn đạt bằng thơ, cũng thành đậm đà thi vị. Nói về con heo rừng hung hãn mà viết với từ ngữ thơ như “Ổ cỏ khô nơi heo rừng ngủ” [63] thì bỗng thấy hiền lành tao nhã.
Gần đây, đôi khi ta được đọc một số bài khá thú vị nhưng đều không có cái phong vị của thơ xưa nghĩa là nói lên được điều khó nói, những tình cảm thấm thía đọng lại được cả bên ngoài câu chữ. Ví dụ như câu thơ [64] của Tsurayuki[65] “ Dù chúng ta nào có phải như tơ quấn lại” đã bị bao đời xem chỉ là một bài thơ tạp nhạp trong cuốn Kokinshuu[66], nhưng thử hỏi thời nay có ai làm nổi một câu thơ như vậy! Thời xưa, loại thơ có âm điệu hay chữ dùng như bài nói trên thực ra hết sức nhiều. Riêng bài thơ này, ta không hiểu lý do gì người ta xem nó là xoàng xĩnh. Hơn nữa, câu thứ hai [67] “Dù đâu có phải” của bài mà Tsurayuki làm đó sau cũng đã được trích dẫn trong Truyện Genji[68].
Trong Shin-Kokinshuu[69], cái câu “Duy còn lại thông buồn trên đỉnh núi” [70] cũng bị đời coi là thơ không ra gì. Nếu thế thì nó đã không được độc giả cảm nhận một cách đầy đủ, bởi vì bài đó khi được đem ra để đánh giá trong buổi bình thơ, mới đầu các người bình đã xem là thơ thuộc loại khá rồi, sau đó đến khi thượng hoàng[71] duyệt, lại dạy rằng nó có ý nghĩa thâm sâu. Đó là điều mà (chức quan trong Viện Thi Ca) Minamoto no Ienaga[72] đã chép lại trong nhật ký của ông.
Người ta bảo nguyên lý làm thơ xưa giờ vẫn không khác, thế nhưng rốt cuộc thử hỏi nguyên lý đó là gì? Cũng cùng một ngôn ngữ thơ, cũng cùng một gối thơ[73], thế mà thơ người xưa hoàn toàn khác. Thơ người xưa trung thực, không làm cho ra vẻ, mà hình thức lại đẹp và tình ý nồng đượm.
Ta nghĩ lời thơ của tập dân dao Ryôjin Hishô[74] có nhiều câu làm rúng động lòng người. Tác giả của nó là những người đời xưa đấy, thế nhưng những lời nói không kiểu cách, không văn hoa thốt ra từ miệng của họ, tất cả đều trở thành tuyệt vời.
Đoạn 15: Cho dù cất bước đi đâu.
Dù lên đường đi chơi những đâu, nội chuyện được ra khỏi nhà ít lâu là trong người tỉnh táo hẳn.
Được đi dạo chỗ này chỗ nọ chung quanh nhà mình đến tạm trú ví dụ nơi đồng ruộng thanh u hay xóm làng trong núi, chắc chắn mình sẽ khám phá những điều mới lạ.Từ nơi lữ thứ, có dịp gửi thiệp chào thăm về kinh đô và nhắn: “Chuyện kia chuyện nọ, cứ tùy tiện mà làm đi! Chớ có quên nghe !”[75] thì đó thật là những câu nhắn nhủ đáng yêu.
Khi bước chân đi xa như thế, người ta thường nhạy cảm[76] hơn về bất cứ chuyện gì. Cho đến cả những vật mang theo bên mình, đều thấy đáng quí hơn ngày thường, đối với những người tài năng hay có dung mạo đường đường, ta nhận ra dễ dàng hơn.
Nếu được cơ hội viếng các đền chùa[77], đóng cửa ở đó ít lâu để khấn nguyện thì cũng là một điều thích thú.
Đoạn 16: Nhạc tế thần[78]
Nhạc kagura[79] để tế thần vừa vui tai lại vừa tao nhã.
Nói chung, trong đó các loại nhạc khí tiếng nghe hay là sáo ngang và khèn. Riêng ta thích đàn tì bà và đàn Nhật wagon[80].
Đoạn 17: Náu mình trong chùa trên núi.
Lui vào làm Phật sự ở chùa trong núi[81], mình sẽ hết buồn chán, tâm hồn được xóa sạch mọi phiền não.
Đoạn 18: Cam cảnh thanh bần.
Sống một cuộc đời giản dị, kiệm ước, không đua đòi xa xỉ, chẳng màng của cải, không bắt chước người đời là điều tốt hơn cả. Xưa nay, cứ xem hiền nhân có ai giàu đâu[82].
Bên Trung Quốc[83], ông Hứa Do[84], trên người chẳng có lấy một thứ vật dụng, đến nỗi lúc khát phải lấy tay bụm nước mà uống. Có kẻ thấy thế mới tặng ông ta một quả bầu khô. Một hôm ông treo nó trên cành cây, quả bầu bị gió đánh lanh canh rầy rà, ông ta bực mình vứt quách. Rồi cứ tiếp tục vốc nước trong lòng bàn tay mà uống, thế nhưng ông cảm thấy mát rượi tận đáy lòng.
Người tên là Tôn Thần[85] thì mùa đông không chiếu đắp cho ấm, chỉ có mỗi bó rơm, tối trải mà ngủ, sáng ra cuốn lại.
Người Trung Quốc xem những chuyện này là bài học có ý nghĩa nên ghi chép gìn giữ, truyền cho đời sau[86]. Còn ở (Nhật Bản) ta, chẳng thấy ai kể lại những sự việc như thế này cả.
Đoạn 19: Bốn mùa thay đổi.
Bốn mùa tiếp theo nhau thay đổi, tùy theo phong vật, mỗi mùa đều đem lại những cái thú đặc biệt.
Hình như mọi người đều đồng ý: “Mùa thu, ta dễ cảm thông với đất trời”. Có thế thật, nhưng ta nghĩ mùa xuân mới làm cho tâm hồn dễ dao động hơn cả[87].Trước tiên, trong tiếng chim kêu[88] cảm thấy sự đổi mới, dưới ánh nắng hiền hòa của ngày xuân, cỏ mọc dưới chân bờ giậu cũng nẩy xanh. Thế rồi mùa xuân dần dần lộ rõ ra, sương mờ giăng mắc, hoa anh đào bắt đầu hé nụ.Tiếc là lúc đó lúc đó, thường thì hết mưa rồi gió dập vùi chúng tan tác. Cho đến khi anh đào xanh lá, đời hoa kia đã gây cho người biết bao nhiêu cái não lòng[89].
Chuyện hoa quít đánh thức lòng hoài cựu thì ai cũng biết nhưng, ngoài ra, hương thơm của hoa mơ cũng gợi lại bao nhiêu kỹ niệm, thương nhớ xa xưa. Hoa chùm vàng[90] nở tươi tắn, hoa tử đằng[91] buông rũ mơ huyền, vẻ đẹp nào cũng làm ta khó quên [92].
Có người bảo: “Vào dịp lễ Tắm Phật[93] hay lễ thần đền Kamo thì trên ngọn cây, lá non xum xuê khoe sắc, thế nhưng lúc này là lúc mình thường nghĩ về sự đổi thay của cuộc đời và về những người thân thương một cách thấm thía và sâu sắc nhất”. Quả thật như vậy. Tháng năm, khi hoa xương bồ[94] tô điểm bên hiên nhà, cũng là lúc phải đi nhổ mạ, ai mà chẳng chạnh lòng buồn khi nghe một tiếng gà nước[95] kêu lên bất chợt [96]. Đến tháng sáu, bên mái tranh nghèo, nhìn màu hoa bìm[97] buổi tối nở trắng nhờ nhờ dưới làn khói của lửa đốt đuổi muỗi tan loãng dần, thấy thật thú vị. Lễ tẩy uế cuối tháng sáu trông cũng hay hay [98].
Lễ Thất Tịch (với ả Chức chàng Ngâu) hết sức dễ thương[99]. Sau đó, khi trời đã trọng thu thì ban đêm cảm thấy lạnh dần, ngỗng trời từ đâu đến vừa bay vừa kêu quang quác, những ngọn lá nấp dưới bụi cây hagi[100] đỏ dần. Lúc đó người ta đi gặt lúa đầu mùa về phơi. Mùa thu thực là lúc bao nhiêu là cảnh tượng thú vị muôn màu muôn vẻ như hiện ra cùng một lượt. Ngoài ra, sáng hôm sau ngày cơn bão quét qua cũng là một cách đáng yêu[101]. Nếu cứ nói thêm về những quang cảnh này nữa e lại trùng với những gì đã thấy chép trong Truyện Genji[102] và Ghi Nhanh Bên Gối[103] rồi nhưng ta nghĩ có nói lại cũng không sao.Bởi vì không nói ra thì bụng còn ấm ức cho nên cứ để mặc ngọn bút đưa đẩy.Thế nhưng những gì ta viết nguyên chỉ là để giúp mình giải buồn, có xé đi vứt đi cũng được, không phải phiền đến ai phải để mắt.
Ta nghĩ cảnh vật tiêu sơ của mùa đông chẳng có chỗ nào làm nó thua kém mùa thu đâu. Vào một buổi sáng, thấy bên bờ ao nước trong vườn, lá đỏ rụng đầy lên cỏ được phủ bên trên bằng một lớp sương trắng tinh, có hơi nước bốc lên từ dòng suối giả, thật thích. Trong những ngày cuối năm, nhìn thiên hạ bận bịu tất bật thì không có gì cảm khái cho bằng. Thế nhưng trên bầu trời đêm, vầng trăng tàn đã qua ngày hai mươi không người buồn ngắm, với quầng ánh sáng lạnh lẽo, leo dần lên không, đủ đánh thức trong lòng nỗi u hoài lặng lẽ. Nghi thức niệm Phật[104] và cảnh các sứ giả lên đường về địa phương để cúng tế lăng mộ[105] gợi trong ta một niềm tôn kính. Thời điểm này, trong cung có rất nhiều lễ lạc, thêm vào đó còn các nghi thức để chuẩn bị đón chào năm mới nên cảnh tượng trông thật bận rộn. Từ Lễ Đuổi Quỉ[106] đến Lễ Bái Vọng Tứ Phương[107] đều thấy hay hay. Tối ba mươi, từ nửa đêm trở đi, giữa khi trời tối mịt, người ta đốt đuốc gỗ thông lên, vòng quanh gõ cửa các nhà hàng xóm, không biết hò hét cái gì nhưng không khí hết sức nhộn nhịp, chân họ chạy thật nhanh thiếu điều không chạm đất.Khi trời hừng sáng thì hàng phố bỗng yên ắng một cách lạ lùng. Lúc đó mình mới tiếc nuối, thấy năm cũ sao mà qua quá nhanh.
Đêm giao thừa cũng là lúc những người đã khuất trở về nhà[108]. Chính ra phải làm lễ để đón rước linh hồn họ nhưng lúc sau này, ở kinh đô người ta cũng bỏ mất tập tục đó. Ngược lại, thấy ở vùng Kantô[109] thiên hạ hãy còn gìn giữ tục lệ ấy. Thật cảm động.
Như thế, khi ngày nguyên đán bắt đầu, bầu trời tân xuân trông nào khác chi so với ngày hôm qua nhưng mọi người đều cảm thấy thay đổi hoàn toàn.Ngoài các đường phố chính, người ta trang hoàng những bụi tùng đón xuân trước cửa nhà, nơi nơi tràn ngập niềm vui và sức sống. Cảnh tượng đó cũng thật thích.
Đoạn 20: Người ấy tên gọi là chi nhỉ?
Con người lánh đời đó[110], tên gọi là chi nhỉ? Người ấy từng nói: “Tấm thân mà cuộc đời này không có mảy may điều gì đủ lôi cuốn nữa”. Chỉ bảo: “Hãy còn tiếc mỗi khung cảnh bầu trời[111]”. Ta cảm thấy đồng tình với câu nói đó.
Đoạn 21: Vui là khi ngắm vầng trăng.
Dầu sao, khi ngắm vầng trăng, ta bao giờ cũng tìm thấy nguồn an ủi. Có người bảo: “Không có gì dễ thương bằng vầng trăng”. Người khác lại bảo: “Nhìn sương thấy xúc động hơn”.[112] Ta thích thú nghe họ tranh luận với nhau. Nhận xét thích hợp nhất có lẽ là mọi vật đều có vẻ đẹp riêng của nó.
Hoa và nguyệt thì khỏi phải bàn đến. Làn gió thực là cái làm ta dễ rung động hơn cả[113]. Cảnh dòng suối trong bắn nước vào bờ đá, bất luận mùa nào, đều đáng yêu.
(Về sông) ta có đọc bài thơ với nội dung:
Nguyên, Tương sao cuộn về Đông mãi,
Chẳng nể lòng sầu, chậm chút cho![114]
Lấy làm vô cùng cảm khái. Kê Khang[115] cũng nói: “Lúc đi chơi chỗ núi non, hồ đầm, thấy chim thấy cá, trong lòng vui thích”. Không có gì an ủi tâm hồn bằng khi có dịp lửng thửng dạo một vòng quanh nơi nước biếc cỏ xanh không lấy bóng người.
Đoạn 22: Mến mộ đời xưa.
Bất cứ việc gì, người ta hay hâm mộ cung cách đời xưa. Thời mới bây giờ, mọi sự hầu như xuống dốc quá đáng. Cứ lấy đồ gỗ của chuyên gia dụng cụ văn phòng trong cung khắc biết: kiểu càng xưa thì nom càng khéo.
Nghệ thuật viết thư cũng vậy. Văn từ theo lối cũ, nhìn mấy bản nháp, thấy nhiều cái hay. Lời ăn tiếng nói hằng ngày sau này đổ đốn ra.
Ngày xưa phải nói: “Nâng càng xe lên!”, “Khơi ngọn bấc lên!” thì bây giờ gặp trường hợp như thế chỉ nghe họ hô (cộc lốc) : “Nhấc!” “Khơi!”. Ở cơ quan bảo vệ trong cung, thay vì ra lệnh: “Chuẩn bị dàn chào!” họ lại nói (nôm na): “Đuốc đâu, thắp mang tới đi!”. Chỗ mà thiên hoàng nghe giảng kinh Tối Thắng Vương[116] ngày xưa có danh hiệu là Ngự Thính Văn Sở thì ngày nay họ chỉ tóm lược lại thành Phòng Giảng. Bậc cố lão nhiều người cho những việc đó là “Không tha thứ được!”
Đoạn 23: Thời buổi suy vi.
Trong thời buổi tàn mạt[117] của thế gian như ngày nay mà nơi cung cấm vẫn còn giữ được không khí trang trọng thiêng liêng, không bị ố nhiễm thế tục, thật là một điều đáng nể.
Nghe cách đặt tên như “Đài Sương” (Rodai) [118], “Gian Ngự Thiện Ban Mai” (Asagarei no Ma) [119] và tên gọi những điện này, môn nọ [120] trong cung làm cho ai cũng thích. Thật là êm tai khi thấy người ta gọi Kojitomi, Koitashiki, Takayarido, (những cái tên thanh bai) đặt cho mấy bộ phận tầm thường như cánh cửa sổ nửa vời, hành lang lát gỗ hay cánh cửa lách, một khi chúng là vật ở trong cung.
“Hãy chuẩn bị cho “trận” tối!”, hiệu lệnh đó gây ấn tượng khi nghe nó ở gian phòng hội nghị[121]. Còn khi sửa soạn đèn đóm cho tẩm điện của thiên hoàng thì họ hô “Mau điểm hỏa lên!”, nghe cũng thấy hay. Dáng điệu các bậc công khanh cấp cao điều hành hội nghị trong phòng họp, ra chỉ thị như thế nào thì đã đành rồi, nhưng ngay cả tiểu lại thuộc các ty sở khi làm việc ai nấy đều cũng mặt mũi vênh váo và đều tỏ ra mình thành thạo. Cảnh tượng này thật vui mắt. Vào những đêm đông lạnh giá, lác đác đó đây cái dáng họ ngủ gà ngủ gật[122] thấy mà tức cười.
Nghe nói có lần quan Thái Chính Đại Thần Tokudaiji[123] nhận xét: “Những tiếng chuông trong Naishi-dokoro[124] nghe thanh nhã êm tai!”
Đoạn 24: Truyện công chúa đi tu thế ra ở cung ngoài đồng .
Ta nghĩ thật không có gì tao nhã, gây bồi hồi trong lòng hơn cảnh tượng cô công chúa chưa chồng đi tu thế ở đền thần (người gọi là Saiô)[125], phải ra tạm trú cung ngoài đồng[126] (chỗ gọi là No no Miya). Để kiêng những chữ (nhà Phật) như “Phật” như “kinh”, người ta dùng các từ đặc biệt (Thần Đạo) thành ra “Vị thần đặt giữa khám thờ” (nakago), “giấy nhuộm màu” (somegami)[127], nghe qua cũng hay hay.
Hầu hết các đền thần đều có những phong vị khó quên. Dù rằng cảnh núi rừng tự nó cũng đã đem lại dáng dấp cổ kính thanh u rồi, thế nhưng những vòng rào gọi là tamagaki[128] và những tấm yufu[129] sợi tơi ra treo rủ trên cành cây thiêng sakaki[130] đã tạo cho nó thêm một thi vị đặc biệt.
Những ngôi đền đáng chú ý hơn cả là đền Ise, Kamo, Kasuga, Hirano, Sumiyoshi, Miwa, Kifune, Yoshida, Ôharano, Matsu no O, Umenomiya[131].
Đoạn 25: Đất lở đất bồi trên sông Asuka [132] và cuộc đời vô thường
Cuộc đời này thảy đều vô thường cũng như vực sâu hóa ra con lạch[133] trên dòng sông Asuka mà những bài thơ xưa bao lần nhắc tới.Thời cuộc thay đổi, bao nhiêu điều may mắn và nỗi bất hạnh đến với chúng ta cũng trôi đi theo dòng đời biến dịch[134]. Trong khoảng thời gian ấy, những cuộc đất đẹp đẽ đã biến thành cánh đồng hoang, dù nhà hãy còn đó nhưng đã thay chủ khác, đào lý trong sân vẫn y như cũ nhưng là vật vô tri, chúng nào biết thổ lộ điều gì[135]. Vậy thì, ai có thể kể cho ta nghe chuyện xưa tích cũ? Huống chi, đứng trước những nơi mà các vị tôn quí ngày xưa ta chưa hề biết mặt đã từng sinh sống thì lòng cảm khái thương cho cuộc thế đổi dời lẽ nào không có.
Khi ta nhìn điện Kyôgoku[136] và chùa Hôjô[137] chẳng hạn, chỉ thấy dấu vết của ý chí[138] con người còn sót lại chứ nào thấy hình bóng sự nghiệp hưng thịnh của những năm tháng trôi qua nên lòng không khỏi chạnh niềm thương cảm. Ngài Midô[139] ra lệnh kiến tạo chúng đẹp đẽ, cúng tiến vào đó lợi tức của một số trang viên, cũng vì ngài nghĩ chỉ có dòng họ nhà mình đời đời làm kẻ phò tá vương thất và nắm quyền bính vinh hiển mãi mãi. Lúc đó làm gì ngài có thể dự đoán trong tương lai gần hay xa, chúng có thể trở thành hoang phế như thế này đâu. Đại môn và tòa kim đường[140] của chùa Hôjô hãy còn tồn tại cho đến gần đây thế nhưng nam môn đã cháy tiêu hồi năm Shôwa[141]. Rồi lúc sau này, tòa kim đường cũng sập nát trơ ra đó, không nghe ai nói đến chuyện trùng tu. Vỏn vẹn có Vô Lượng Thọ Viện là còn sót lại[142] như để nhắc nhở đến một thời xưa. Tượng Phật[143] cao một trượng sáu gồm có chín vị, uy nghiêm ngồi xếp hàng cạnh nhau. Thật vô cùng cảm khái khi ta nhìn thấy nét bút của quan Dainagon Kôzei[144] trên hoành phi hay chữ viết của ngài Kaneyuki[145] bên cửa vẫn chưa mờ. Những nơi như Pháp Hoa Đường[146] hình như cũng còn đó. Thế nhưng kéo dài được đến lúc nào đây! Những di tích còn được như ngôi chùa này chẳng có là bao. Có khi chỉ còn trơ mỗi viên đá xưa đặt làm móng, mà người ta cũng không biết chính xác di tích ấy tên gì.
Do đó, bất cứ việc gì mà để tâm lo liệu cho cả đến lúc sau khi mình nhắm mắt đi rồi thì thật là vô nghĩa.
Đoạn 26: Gió dầu không cuốn, lòng cũng đổi thay.
Người ta bảo lòng của con người còn mong manh hơn cả hoa anh đào tan tác khi gặp làn gió cuốn.Khi nghĩ về những tháng ngày vì quá tin ai nên đã đem tình yêu trao gửi, ta không thể nào quên được những điều nàng nói mà một lần mình đã cảm động lắng nghe. Việc người bạn của ta dần dần lãng ra, sống trong một thế giới càng ngày càng xa lạ với ta thì cũng là chuyện thường tình ở đời. Thế nhưng nỗi buồn sinh ly này còn gây đau đớn cho ta còn hơn sự tử biệt.
Vì cuộc chia tay gây đau thương như thế, nên ta tin chắc rằng chuyện cái người đàn ông buồn bã khi thấy ai đem chỉ trắng nhuộm đủ màu[147] và một người khác than thở vì con đường bỗng đâm ra thành ngả rẽ, đều là có thật.
Trong số trăm bài thơ đem trình lên cho thái thượng hoàng Horikawa có bài như sau[148]:
Mukashi mishi
Imo ga kakine wa
Ararenikeri
Tsubana majiri no
Sumire nomi shite
Hàng dậu anh từng thấy,
Xưa bao quanh nhà em.
Nay hoàn toàn đổ nát.
Chỉ còn hoa tím chen,
Trên đồng gianh trắng lớp.
Cảnh tượng như thế quả là buồn và tác giả bài thơ chắc đã từng trải qua kinh nghiệm ấy.
Đoạn 27: Lễ Nhường Ngôi
Không có cảnh nào đau lòng[149] hơn là lúc cữ hành nghi thức nhường ngôi, khi (cựu hoàng) trao cho tân quân[150] ba thứ báu vật truyền quốc là lưỡi kiếm, tấm kính và viên ngọc.
Mùa xuân năm ngài thoái vị, cựu hoàng[151] đã vịnh bài thơ [152]như sau:
Tonomori no
Tono no miyakko
Yoso ni shite
Hawanu niwa ni
Hana zo chirishiku
Bọn phục dịch trong cung,
Ngay cả hàng thấp kém,
Cũng đổi lòng, dửng dưng.
Vườn ta bỏ không quét,
Hoa[153] rụng phủ đầy sân.
Vì bận rộn với công việc đình đám mừng vua mới, không còn ai vãng lai đến chỗ ở của cựu hoàng nữa. Những cơ hội này mới thấy bộc lộ lòng dạ của người đời[154].
Đoạn 28: Trong năm Thiên Hoàng cư tang[155].
Năm thiên hoàng cư tang[156] là khoảng thời gian gây ra nhiều cảm xúc sâu xa. Ở nơi ngài thiên cư ra để chịu tang (chỗ gọi là iro)[157], người ta hạ thấp mặt sàn ván xuống[158], rũ màn kết bằng cỏ lau, phủ qua loa vải bố ra bên ngoài rèm. Đồ dùng thảy đều phải đơn sơ thô phác. Cái cảnh quần áo, thanh đao cho đến giải lưng mang đao của mọi người đều khác trước gây cho ta cảm giác nặng nề u ám [159].
Đoạn 29: Lặng lẽ suy tư.
Lúc lặng lẽ suy tư, kỷ niệm đáng yêu lại hiện về xâm chiếm hồn mà ta không sao cưỡng nỗi. Sau khi mọi người ngon giấc cả rồi, và để giết thời giờ trong đêm (thu) dài[160], ta có thể làm vài việc trong tầm tay như sắp xếp lại đồ dùng văn phòng, xé mấy thứ giấy tờ thấy không cần giữ nữa. Tình cờ lúc đó ta bắt gặp những mẫu thư đạo, bút tích của người bạn nay đã qua đời hay những tranh vẽ do người đó phác thảo. Ta có cảm tưởng như sống lại quãng ngày xa xưa ấy.
Bức thư của người hiện còn sống cũng gây xúc cảm, nếu là thư nhận được từ lâu rồi thì nó khơi cho ta nhớ lại thư đó đã viết trong dịp nào, hồi nào, năm nào. Những vật dụng đã quen tay cũng vậy, cái thân người dùng[161] đã thay đổi rồi mà chúng vẫn vô tình, trơ trơ như xưa. Ôi, buồn làm sao!
Đoạn 30: Nỗi buồn khi một người qua đời.
Không có cảnh nào buồn hơn là những gì xảy ra sau cái chết của một con người.
Trong thời gian gọi là Chuu.in[162], bà con thân quyến dọn ra một vùng như thôn làng ven núi[163], nơi thường là chật hẹp và bất tiện cho việc tụ họp một số người đông đúc, để cử hành tang lễ[164] cho người chết. Lúc ấy, lòng họ còn tràn đầy xúc động. Mấy hôm đó trôi qua rất nhanh, đó là điều không nói cũng hiểu. Đến ngày thứ 49 là ngày cuối thì người ta đã hết quan tâm và giữa họ không còn gì để thưa gửi nữa. Họ chuẩn bị thu dọn mọi thứ chung quanh mình rồi chia tay tản mác ai về nhà nấy. Từ khi về đến nơi, nếu họ có đâm ra buồn trở lại nhiều hơn trước thì cũng là sự tự nhiên. Họ sẽ trách nhau bằng những câu như: “Không chấp nhận được. Ăn nói không biết giữ gìn giữa chỗ ma chay như vậy làm cho người sống xúi quẩy đấy!”. Cách phát ngôn không chút tình cảm kiểu đó trước cảnh tang tóc buồn bã này làm cho ta thấy con người quả là đáng chán.
Sau đó, năm tháng trôi qua. Tuy không phải chẳng ai còn nhớ đến người đã khuất nhưng rõ ràng là “mỗi ngày hình ảnh của người ấy nhòa nhạt dần” [165] như cách nói của người xưa. Không biết có phải vì nỗi buồn không còn được thống thiết như những ngày người ấy vừa mới nằm xuống hay sao mà người ta đã bắt đầu nói khôi hài, cười cợt khi bàn về người đã khuất.
Về phần kẻ quá cố, người ta đem xác anh ra chôn vùi ở một chỗ núi non nào đó và chỉ ghé đến thăm trong những dịp lễ đặc biệt. Thế rồi bia mộ của anh cũng bị rêu ăn mòn và lá rụng lấp lên, chỉ còn cơn bão buổi chiều và vầng trăng khuya ghé đến làm bạn với anh.
Lúc những người thương tưởng đến anh hãy còn sinh tiền thì chưa đến nỗi, nhưng chẳng bao lâu họ cũng nối gót theo anh thôi. Con cháu của anh dù có nghe nói đến tên tuổi ông cha mình nhưng không hề gặp, chưa từng quen, làm sao truy điệu anh mãi được. Dĩ nhiên sau khi những buổi lễ bái cúng kiến không còn được cử hành nữa thì ai còn biết đến ngôi mộ ấy xưa là của người nào. Khi mùa xuân đến, mồ kia xanh cỏ[166], người có chút lòng còn nhìn nó mà chạnh niềm hoài cảm. Chứ về sau, khi năm tháng chồng chất thêm lên, lúc những cây tùng từng gào thét bi ai trong cơn bão tố, chưa sống hết nghìn năm đã biến thành củi chụm, thì những ngôi mộ cũng sẽ bị cày xới đi và nơi đó thành ruộng thành đồng[167]. Rốt cuộc chẳng còn chút gì đâu dấu tích của người ấy[168] nữa. Không buồn sao cho được!
Bookmarks