>
Trang 4/4 đầuđầu 1 2 3 4
kết quả từ 31 tới 36 trên 36

Ðề tài: [Truyện dài] Người tình Sputnik - Haruki Murakami (full)

  1. #31
    Cua Cua... bò bò...
    sarujun's Avatar


    Thành Viên Thứ: 74964
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 354
    Thanks
    1,183
    Thanked 499 Times in 202 Posts

    Người tình Sputnik - Chương 11



    Tài liệu 1

    Bạn đã bao giờ thấy ai đó bị bắn

    mà không chảy máu?

    Số phận đã đẩy tôi đến một quyết định - một quyết định không (một câu hỏi lý thú, nhưng tôi dành nó cho lúc khác) - và tôi đang ở đây trên một hòn đảo Hy Lạp. Một hòn đảo nhỏ mà mãi đến gần đây tôi mới nghe nhắc đến tên. Thời gian là...hơn bốn giờ sáng một chút. Cố nhiên bên ngoài vẫn còn tối đen. Những con dê vô hại đang say trong giấc ngủ bầy đàn êm đềm của chúng. Hàng cây ôliu ngoài đồng đang hấp thụ chất dinh dưỡng do màn đêm cung cấp. Và vầng trăng, như một vị linh mục u sầu nào đó, đang nghỉ ngơi phía trên mái nhà, duỗi hai tay tới mặt biển buồn bã.
    Dù ở bất cứ nơi đâu, đây là khoảng thời gian trong ngày tôi thích nhất. Khoảng thời gian chỉ của riêng tôi. Trời sắp sáng, và tôi ngồi đây viết. Giống như Đức Phật được sinh ra từ sườn mẹ (sườn phải hay sườn trái tôi không nhớ nữa), vầng mặt trời ban mai sẽ nhô lên và hiện ra trên mép đồi. Và người phụ nữ kín đáo tên Miu sẽ lặng lẽ thức dậy. Khoảng sáu giờ chúng tôi sẽ cùng ăn bữa điểm tâm đơn giản rồi đi qua đồi đến bãi biển yêu thích. Trước khi vòng quay đều đặn đó bắt đầu, tôi muốn xắn tay áo lên làm cho xong một vài việc.

    Trừ mấy bức thư ra thì khá lâu rồi tôi không viết cái gì cho riêng mình, và tôi rất không tin mình có thể diễn đạt ý kiến theo cách mình thích. Chưa khi nào tôi có niềm tin ấy. Tuy nhiên, không biết vì sao, tôi luôn cảm thấy buộc phải viết.
    Tại sao? Thật sự đơn giản thôi. Đối với tôi để nghĩ về điều gì đấy thì trước hết tôi phải viết nó ra.

    Cách này tôi có từ hồi nhỏ. Cứ mỗi khi không hiểu điều gì tôi lại gom các từ ngữ vung vãi dưới chân minh và xếp nó lại thành câu. Nếu không có tác dụng, tôi lại tung chúng ra rồi xếp lại theo trật tự khác. Lặp đi lặp lại vài lần, và tôi đã có thể suy nghĩ được như hầu hết mọi người. Viết đối với tôi không bao giờ khó cả. Những đứa trẻ khác thì gom nhặt những hòn sỏi hay những quả đấu đẹp, còn tôi thì viết. Tôi nguệch ngoạc hết câu này đến câu khác tự nhiên như hít thở vậy. Và tôi sẽ suy nghĩ.

    Hiển nhiên bạn sẽ nghĩ đấy là một quá trình tiêu tốn nhiều thời gian để đi tới một kết luận, khi bạn thấy hễ cứ nghĩ về điều gì là tôi phải trải qua tất cả các bước như vậy. Hoặc cũng có thể bạn không nghĩ thế. Nhưng trong thực tiễn việc đó cần phải có thời gian. Tới mức khi vào tiểu học mọi người đã nghĩ tôi là đứa đần độn. Tôi không thể theo kịp những đứa trẻ khác.

    Khi học hết tiểu học cảm giác bị xa lánh mà nó gây ra cho tôi đã giảm đáng kể. Khi đó tôi đã học được cách bắt kịp với thế giới xung quanh. Thế nhưng cho đến trước khi tôi bỏ trường đại học và cắt đứt mọi quan hệ với chế độ quan liêu hành chính, khoảng trống này vẫn hiện diện trong tôi - như một con rắn câm lặng trong bãi cỏ.

    Đề tài tạm thời của tôi ở đây: dựa trên những câu chuyện hàng ngày, tôi dùng ngòi bút để xác định tôi là ai.

    Đúng không?

    Đúng thế!

    Cho đến nay tôi đã viết một khối lượng không thể tin nổi. Hầu như hàng ngày. Tôi như kẻ đứng giữa bãi cỏ rộng lớn, một mình cắt cỏ nhưng vừa cắt xong cỏ đã lại mọc lên ngay. Nay cắt chỗ này, mai cắt chỗ kia... Khi đã cắt hết một vòng cả bãi cỏ quay lại chỗ đầu tiên thì cỏ đã lại tốt tươi như lúc ban đầu.

    Nhưng từ khi gặp Miu họa hoằn lắm tôi mới viết. Vì sao vậy? Lý thuyết Hư cấu = Truyền đạt (1) mà K. kể cho tôi là có lý. Nó đúng ở cấp độ nào đó. Nhưng không giải thích được mọi thứ. Đến đây tôi phải đơn giản hóa suy nghĩ của mình.
    Đơn giản hóa, đơn giản hóa.

    Việc xảy ra sau khi tôi gặp Miu là tôi ngừng suy nghĩ. (Tất nhiên tôi dùng định nghĩa riêng của mình về suy nghĩ). Miu và tôi luôn ở bên nhau, hai cái thìa ngoắc vào nhau, và tôi bị cuốn theo chị đến đâu đó - một nơi nào đó tôi không thể đoán biết được - và tôi nghĩ, được thôi, cứ trôi theo dòng đi.

    Nói cách khác, tôi phải vứt bỏ nhiều hành trang để đến gần chị hơn. Ngay cả hành động suy nghĩ cũng trở thành gánh nặng. Tôi nghĩ mình hiểu tại sao lại xảy ra chuyện đó. Cỏ có mọc cao thế nào tôi cũng không thể lo lắng. Tôi duỗi người nằm ngửa, dán mắt lên trời, ngắm những đụn mây trôi. Phó mặc số phận mình cho mây trời. Thả mình theo mùi cỏ hăng hăng, theo tiếng gió thì thầm. Và một lúc sau thì tôi đã chẳng thèm quan tâm đến sự khác biệt giữa cái tôi biết và cái tôi không biết.

    Không, điều đó không đúng. Ngay từ đầu tôi đã chẳng thèm quan tâm. Tôi phải nói rõ ràng hơn suy nghĩ của mình ở đây.

    Rõ ràng, rõ ràng.

    Bây giờ tôi hiểu rằng nguyên tắc cơ bản mà tôi tự đặt ra cho mình trong việc viết lách luôn là viết về mọi việc như thể tôi không biết chúng - và điều này đúng cho cả những điều tôi biết hoặc tôi nghĩ là biết. Nếu tôi nói ngay từ đầu Ôi, mình biết mà, chẳng cần phải tiêu tốn thì giờ quý giá của mình để viết về nó thì chuyện viết lách của tôi sẽ chẳng bao giờ có được một khởi đầu tốt đẹp. Chẳng hạn, nếu tôi nghĩ về ai đó, Mình biết cậu chàng ấy, khỏi phải tốn thời gian nghĩ về cậu ta, mình đã hạ gục cậu ta rồi, thì tôi có nguy cơ bị đánh lừa (và điều này cũng áp dụng cả cho bạn nữa). Trong mọi chuyện chúng ta nghĩ là đã hiểu toàn bộ vẫn luôn ẩn giấu chừng ấy những điều chúng ta chưa hiểu.

    Sự hiểu biết chẳng là gì ngoài tổng số những sự hiểu nhầm của chúng ta.

    Nói nhỏ với nhau, đấy chính là cách tôi hiểu thế giới. Tóm tắt là thế.

    Trong thế giới chúng ta sống, cái ta biết và cái ta không biết giống như cặp song sinh dính liền, không thể chia tách, tồn tại ở trạng thái lẫn lộn.

    Lẫn lộn, lẫn lộn.

    Ai có thể thực sự phân biệt được biển cả và cái phản chiếu trong nó? Hay nói lên sự khác biệt giữa cơn mưa và sự cô đơn?

    Vậy là, tôi nghiễm nhiên không còn quan tâm đến sự khác biệt giữa biết và không biết nữa. Nó trở thành xuất phát điểm của tôi. Một điểm xuất phát kinh khủng, có lẽ - nhưng ai mà chẳng phải cần đến một tấm nhún tạm thời, đúng không? Tất cả những cái đó giải thích cách tôi bắt đầu nhìn các cặp nhị nguyên như đề tài và phong cách, khách thể và chủ thể, nguyên nhân và hậu quả, các khớp tay và phần cơ thể còn lại của tôi không phải như những cặp đen - trắng, mà như một tổng thể không thể phân biệt cái này với cái kia. Tất cả đã đổ tràn xuống sàn bếp - muối, hạt tiêu, bột mì, tinh bột. Tất cả trộn lẫn vào nhau thành một viên tròn.

    Các khớp tay tôi và phần cơ thể còn lại của tôi...Khi ngồi đây trước máy vi tính, tôi nhận thấy mình đang quay lại với thói quen xấu ngày trước là bẻ đốt ngón tay. Thói quen xấu này mới trở lại sau khi tôi bỏ thuốc lá. Đầu tiên tôi bẻ năm đốt ngón tay phải - rắc, rắc - sau đó bẻ sang các đốt ngón tay trái. Tôi không khoác lác, nhưng tôi bẻ đốt ngón tay kêu to đến nỗi bạn mà nghe thấy thì tưởng ai đó bị gãy cổ. Tôi là vô địch bẻ đốt ngón tay ở trường tiểu học. Làm bọn con trai xấu hổ.

    Khi tôi vào đại học, K. cho tôi biết một cách dứt khoát rằng đây là một kỹ năng mà thật sự tôi không nên lấy làm tự hào. Khi một cô gái đến một độ tuổi nhất định thì không thể bạ đâu cũng bẻ đốt ngón tay. Nhất là trước mặt người khác. Nếu không bạn sẽ có kểt cục giống như nhân vật Lotte Lenya trong phim From Russia with Love. Sao trước đó chẳng ai nói với tôi như vậy nhỉ? Tôi cố dứt bỏ thói quen đó. Tôi muốn nói, tôi thật sự thích Lotte Lenya nhưng chưa đến mức muốn thành cô ấy. Tuy nhiên khi đã bỏ thuốc thì tôi lại nhận thấy hễ ngồi vào viết là bất giác tôi lại bẻ đốt ngón tay. Rắc, rắc, rắc.

    Tên tôi là Bond. James Bond.

    Để tôi quay lại vấn đề mình đang nói. Thời gian hạn hẹp - không có chỗ để mà vòng vo. Quên Lotte Lenya đi. Xin lỗi, các ẩn dụ - cần phải tách ra. Như tôi đã nói ở trên, bên trong chúng ta cái ta biết và cái ta không biết cùng chung nhau một chỗ ở. Để cho tiện hầu hết mọi người dựng lên một bức tường giữa chúng. Nó khiến cuộc sống dễ dàng hơn. Nhưng tôi thì xóa đi bức tường đó. Tôi phải làm. Tôi căm ghét các bức tường. Tôi là kiểu người vậy đấy.

    Dừng lại ở hình ảnh cặp song sinh dính liền, không phải lúc nào chúng cũng hòa hợp với nhau. Không phải lúc nào họ cũng cố hiểu nhau. Trái lại thì đúng hơn. Tay phải không cố biết tay trái đang làm gì - và ngược lại. Sự hỗn độn ngự trị và kết cục chúng ta lạc lối - chúng ta đâm sầm vào cái gì đó. Ầm!

    Điều tôi muốn nói ở đây là mọi người cần phải có một chiến lược khôn ngoan nếu họ muốn cái họ biết và cái họ không biết chung sống hòa bình với nhau. Chiến lược đó - vâng, bạn biết rồi đấy! - là suy nghĩ. Chúng ta phải tìm được một cái neo an toàn. Nếu không chắc chắn chúng ta sẽ đi theo một quá trình dẫn tới va chạm đáng sợ.
    Một câu hỏi.

    Vậy mọi người phải làm gì nếu họ muốn tránh sự va chạm (ầm!) nhưng vẫn nằm trên đồng ngắm mây bay, nghe cỏ mọc - nói cách khác là không suy nghĩ? Nghe có vẻ khó? Hoàn toàn không. Xét một cách logic, việc này dễ thôi. C'est simple. Câu trả lời là những giấc mơ. Cứ mơ mãi. Bước vào thế giới của những giấc mơ và không bao giờ quay ra. Sống trong mơ suốt quãng thời gian còn lại.

    Trong mơ bạn không cần phải phân biệt vạn vật với nhau. Hoàn toàn không. Biên giới không tồn tại. Vì thế trong mơ hiếm khi có va chạm. Mà nếu có thì cũng không gây tổn thương. Thực tại thì khác. Thực tại làm đau đớn.
    Thực tại, thực tại.

    Quay trở lại thời điểm chiếu ra mắt bộ phim The Wild Bunch của đạo diễn Sam Peckinpah, tại cuộc họp báo một nữ phóng viên đã giơ tay đặt câu hỏi: "Sao trong phim các ngài lại cho thấy máu đỏ khắp nơi nhiều đến thế?" Cô hỏi một cách khá gay gắt. Một diễn viên trong đoàn, Ernest Borgnine, có vẻ hơi bối rối và trả lời: "Thưa cô, cô có bao giờ thấy người nào bị súng bắn mà không chảy máu chưa?" Bộ phim này được công chiếu vào thời điểm căng thẳng nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam.

    Tôi thích câu trả lời đó. Đó là một trong những nguyên tắc của thực tại. Chấp nhận những điều đó có thể hiểu được, và để mặc chúng như vậy. Và máu đổ. Súng nổ và máu đổ.

    Bạn đã bao giờ thấy ai đó bị bắn

    mà không chảy máu?

    Điều này giải thích quan điểm của tôi với tư cách một nhà văn. Tôi suy nghĩ - theo một cách rất bình thường - và đi đến chỗ, trong một vương quốc tôi không thể gọi tên, tôi hình thành nên một giấc mơ, một bào thai vô hình được gọi là sự hiểu biết, đang trôi nổi trong thứ nước ối không hiểu đầy tràn của tất cả mọi người. Chắc hẳn chính vì vậy mà các tiểu thuyết của tôi thường dài một cách phi lý và, cho đến tận bây giờ, ít nhất, vẫn chưa bao giờ có được một kết cục rõ ràng. Những kỹ năng cần có thuộc về tinh thần và chuyên môn để giữ được đường đi nước bước của truyện đều nằm ngoài tầm với của tôi.

    Tất nhiên ở đây tôi không viết tiểu thuyết. Tôi không biết gọi nó là gì. Chỉ viết vậy thôi. Tôi hay độc thoại nên không cần thiết phải gói ghém gọn gàng mọi thứ. Tôi không có những nghĩa vụ của lương tâm. Tôi chỉ - hừm - suy nghĩ. Lâu lắm rồi tôi không có bất cứ một suy nghĩ thật sự nào, và có lẽ sắp tới cũng không. Nhưng bây giờ, ngay lúc này, tôi đang nghĩ. Và đó chính là việc tôi sẽ làm cho đến khi trời sáng. Suy nghĩ.

    Tuy nhiên cần phải nói rằng tôi vẫn không sao tránh được những mối ngờ vực u ám lâu nay vẫn bám theo mình. Có phải tôi đang tốn thời gian và năng lượng theo đuổi một việc vô ích không? Đang xách xô nước đến nơi đã sắp tràn?

    Tôi có nên từ bỏ mọi nỗ lực vô ích và để mặc mình trôi đến đâu thì đến?

    Va chạm? Nó là gì vậy?

    Để tôi diễn đạt theo cách khác.

    Được rồi - Tôi định dùng cách nào khác đây?

    Ồ, tôi nhớ ra rồi - nó là thế này.

    Nếu tôi chỉ định viết lan man, có lẽ tôi nên chui vào chăn ấm, nghĩ về Miu và vuốt ve mình. Đó là điều tôi muốn nói.
    Tôi thích những đường cong phía sau của Miu. Sự tương phản mạnh mẽ giữa chòm lông mu đen tuyền và mái tóc bạc trắng của chị, cặp mông tròn trịa bó mình trong chiếc quần lót đen của chị, chòm lông mu hình chữ T của chị, mọi thứ đều đen.

    Tôi phải thôi nghĩ về chuyện này. Phải thoát ra khỏi những tưởng tượng miên man về tình dục (nhắp chuột) để tập trung vào viết. Không thể để những giờ khắc quý giá trước rạng đông này trôi mất. Tôi sẽ để ai đó khác, ở một nơi nào đó khác, quyết định cái gì có ích, cái gì không. Ngay lúc này đây, tôi chẳng có chút hứng thú nào với những gì họ nói.

    Đúng không?

    Đúng thế!

    Vậy thì - tiếp tục tiến lên.

    Người ta bảo đưa giấc mơ (nói cách khác là giấc mơ thực sự) vào truyện là điều mạo hiểm. Chỉ rất ít nhà văn - và tôi đang nói đến những người tài năng nhất - có khả năng tái tạo được kiểu kết hợp phi lý thấy trong mơ. Nghe có lý. Nhưng tôi vẫn muốn kể lại một giấc mơ gần đây của tôi. Tôi muốn ghi lại giấc mơ này một cách đơn giản như sự kiện liên quan đến tôi và cuộc đời tôi. Nó có văn vẻ hay không, tôi không quan tâm. Tôi chỉ là người thủ kho thôi.

    Tôi đã nhiều lần mơ cùng một kiểu giấc mơ. Chi tiết khác nhau, kể cả khung cảnh, nhưng chúng cùng theo một mô hình. Và nỗi đau của tôi cảm thấy khi thức dậy luôn giống nhau. Một chủ để duy nhất được lặp đi lặp lại, giống như đoàn tàu hỏa hết đêm này sang đêm khác đều kéo còi khi qua cùng một khúc cua không nhìn rõ được ấy.
    Giấc mơ của Sumire

    (Đoạn này tôi viết ở ngôi thứ ba. Như thế có cảm giác chân thực hơn).

    Sumire đang trèo lên một cầu thang dài hình xoắn ốc để gặp người mẹ vốn đã chết từ lâu. Mẹ cô đang đợi trên đầu cầu thang. Bà có điều muốn nói với Sumire, một thông tin cực kỳ quan trọng mà Sumire đang vô cùng cần để sống. Trước đây Sumire chưa từng gặp người chết nên cô thấy sợ. Cô không biết mẹ cô là người trông thế nào. Có thể - vì một lý do nào đó Sumire không thể hình dung được - mẹ cô căm ghét cô. Nhưng cô phải gặp bà. Đây là cơ hội tốt nhất và duy nhất của cô.

    Cầu thang dài vô tận. Trèo mãi, trèo mãi mà cô vẫn chưa lên được tới đầu cầu thang. Sumire leo lên cầu thang, đứt cả hơi. Cô phải chạy đua với thời gian. Không phải lúc nào mẹ cô cũng ở đây, trong tòa nhà này. Trán Sumire đẫm mồ hôi. Và cuối cùng cô cũng lên được tới nơi.

    Đầu cầu thang rộng rãi, ngay đầu lối đi đối diện với cô có một bức tường đá dày. Ngang tầm mắt có một lỗ tròn giống như lỗ thông gió. Một lỗ nhỏ đường kính khoảng 50cm. Và mẹ Sumire như đang bị nắm chân kéo vào cái lỗ ấy. Sumire nhận ra thời gian của bà sắp cạn.

    Trong khoảng không gian chật hẹp ấy, mẹ cô nằm ngửa, hướng mặt về phía cô. Bà nhìn mặt Sumire như muốn cầu khẩn điều gì. Thoạt nhìn Sumire biết ngay bà là mẹ cô. Bà là người đã trao cho mình da thịt, cuộc sống, cô biết thế. Nhưng chẳng hiểu sao người phụ nữ ở đây lại không phải người mẹ trong album ảnh gia đình. Mẹ thật của mình đẹp và trẻ. Vậy thì rốt cuộc cái người trong album đó không phải mẹ thật của mình, Sumire nghĩ. Bố đã lừa gạt mình.
    "Mẹ!" Sumire can đảm thốt lên. Cô cảm thấy bức tường trong người mình đã tan chảy. Ngay khi cô thốt ra từ đó, mẹ cô bị kéo sâu hơn vào trong cái lỗ, dường như có một khoảng chân không rộng lớn nào đó bên kia đang hút bà vào. Miệng bà há ra, và bà hét lên gì đó với Sumire. Nhưng tiếng gió thoát ra từ cái lỗ đã thổi bạt lời bà. Ngay sau đó, mẹ cô bị lôi mạnh vào bóng tối của cái lỗ và biến mất.

    Sumire ngoái lại thì chẳng thấy cầu thang đâu nữa. Cô bị bao vây giữa những bức tường đá. Chỗ cầu thang lúc nãy giờ là một cánh cửa gỗ. Cô vặn nắm đấm mở cửa, và phía xa kia là bầu trời. Cô đang ở trên đỉnh một tòa tháp cao. Cao đến mức nhìn xuống cô thấy chóng mặt. Rất nhiều vật thể nhỏ tí xíu, giống như máy bay, đang bay trên trời. Loại máy bay nhỏ đơn giản bằng tre nứa và những mảnh gỗ nhẹ mà ai cũng có thể làm được. Phía đuôi mỗi máy bay có một động cơ nhỏ cỡ nắm tay và cánh quạt. Sumire hét to với một phi công đang bay ngang qua hãy đến giải cứu cô. Nhưng chẳng người phi công nào chú ý.

    Chắc tại mình ăn mặc thế này, Sumire nghĩ. Chẳng ai có thể nhìn thấy mình. Cô mặc chiếc áo choàng bệnh viện trắng nhạt nhòa. Cô cởi nó ra, và trần truồng - không mặc gì bên trong. Cô vứt chiếc áo xuống đất cạnh cánh cửa và lúc này, như một linh hồn được tháo cũi sổ ***g, nó bay lên theo gió và biến khỏi tầm nhìn. Cũng cơn gió ấy vuốt ve cơ thể cô, thổi lạo xạo lớp lông giữa hai chân cô. Cô chợt nhận ra tất cả những chiếc máy bay nhỏ kia đã biến thành chuồn chuồn. Bầu trời dày đặc chuồn chuồn đủ màu sắc, cặp mắt lồi to tướng sáng long lanh khi chúng nhìn chằm chằm xung quanh. Tiếng vỗ cánh của chúng mỗi lúc một to giống như chiếc radio được tăng âm lượng. Cuối cùng nó biến thành một tiếng gầm không chịu nổi. Sumire cúi xuống, nhắm mắt và bịt chặt hai tai.
    Và cô thức giấc.

    Sumire có thể nhớ lại từng chi tiết của giấc mơ này. Cô có thể vẽ một bức tranh về nó. Điều duy nhất cô không tài nào nhớ nổi là khuôn mặt mẹ cô khi bà bị hút vào cái lỗ đen ấy. Và tiếng kêu khẩn thiết của bà cũng vĩnh viễn biến mất trong khoảng trống bao la đó. Sumire nằm trên giường, cắn chặt chiếc gối và òa khóc.

    Người thợ cạo không đào cái lỗ nào nữa

    Sau giấc mơ này tôi đi đến một quyết định quan trọng. Mũi cuốc chim có phần chăm chỉ của tôi cuối cùng sẽ bắt đầu làm mẻ tảng đá rắn. Rắc. Tôi quyết định nói rõ cho Miu biết tôi muốn gì. Tôi không thể lơ lửng như thế này mãi được. Tôi không thể làm một người thợ cạo nhỏ bé yếu đuối đào một cái lỗ ở vườn sau, không tiết lộ cho ai biết sự thật tôi yêu Miu. Nếu cứ hành động theo cách này thì tôi sẽ biến mất, từ từ nhưng chắc chắn. Mọi bình minh và hoàng hôn sẽ cướp đoạt của tôi từng mảnh, từng mảnh bản thân tôi, và chẳng bao lâu nữa cuộc đời tôi sẽ bị bào mòn hoàn toàn - và kết cục tôi sẽ chẳng là gì.

    Mọi việc rõ ràng như pha lê.

    Pha lê, pha lê.

    Tôi muốn được làm tình với Miu và được chị ấy ôm. Tôi đã từ bỏ nhiều thứ quan trọng đối với mình. Tôi không còn gì để có thể bỏ nữa. Vẫn chưa quá muộn. Tôi phải ở với Miu, đi vào chị ấy. Và chị ấy phải đi vào tôi. Như hai con rắn lấp lánh, đầy ham muốn.

    Và nếu Miu không chấp nhận tôi thì sao?

    Tôi sẽ đi qua cây cầu đó khi thời gian đến.

    "Bạn đã bao giờ thấy ai đó bị bắn mà không chảy máu?"

    Máu phải chảy. Tôi sẽ mài sắc dao để sẵn sàng cắt cổ một con chó ở nơi nào đó.

    Đúng không?

    Đúng thế!

    Những điều tôi viết đây là thông điệp cho chính tôi. Tôi tung nó vào không trung giống như một chiếc boomerang. Nó cắt ngang bóng tối, làm giá lạnh linh hồn nhỏ bé của một con kangaroo khốn khổ nào đó rồi cuối cùng quay lại chỗ tôi. Nhưng cái boomerang quay về không phải cái boomerang tôi đã ném đi.

    Boomerang, boomerang.



    --------------------------------
    1. Đây là một trong những lý thuyết của tự sự học - bộ môn nghiên cứu các văn bản tự sự, bản chất, hình thức và hoạt động của tự sự, các đặc điểm chung tạo nên các kiểu tự sự, các tiêu chí để phân biệt chúng với nhau, cũng như hệ thống quy tắc theo đó chúng được tạo ra và phát triển. Tự sự là hình thức chủ yếu để hư cấu sống trong văn hóa. Nhờ tự sự con người đem lại cho kinh nghiệm một hình thức và ý nghĩa, sắp xếp nó, chia nó ra thành điểm đầu, điểm giữa, điểm cuối và đề tài trung tâm. Khả năng con người biết kể một câu truyện là cách thức chính để họ có thể sắp xếp và suy xét thế giới xung quanh. (Theo chú thích bản tiếng Nga).

    --- hết chương 11 ---

  2. #32
    Cua Cua... bò bò...
    sarujun's Avatar


    Thành Viên Thứ: 74964
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 354
    Thanks
    1,183
    Thanked 499 Times in 202 Posts

    Người tình Sputnik - Chương 12



    Tài liệu 2

    Bây giờ là 2h30 chiều. Bên ngoài trời sáng và nóng như địa ngục. Vách đá, bầu trời, biển cả đều lấp lánh. Nhìn kỹ chúng một lúc, cảnh vật bắt đầu nhòe đi, mọi thứ hòa thành một khối hỗn loạn. Ý thức chìm trong những bóng tối mơ màng để tránh ánh sáng. Ngay cả chim cũng ngừng bay. Nhưng trong phòng thì mát mẻ dễ chịu. Miu đang ở phòng khách nghe nhạc Brahm. Chị mặc bộ đồ mùa hè màu xanh có những tua mỏng, mái tóc bạc phơ buộc túm về phía sau.

    Tôi ngồi ở bàn viết những dòng này.

    "Nhạc có làm phiền em không?" Miu hỏi tôi.

    Nhạc Brahm không bao giờ làm phiền em cả, tôi đáp.

    Tôi đang lục lọi ký ức, cố nhớ lại câu chuyện Miu kể tôi nghe mấy ngày trước trong ngôi làng ở Burgundy. Việc này thật không dễ. Chuyện chị kể không liền mạch, thời gian đảo lộn lung tung. Có những lúc tôi không sao lần ra được sự kiện nào xảy ra trước, sự kiện nào xảy ra sau, đâu là nguyên nhân, đâu là hệ quả. Nhưng tôi không trách chị. Chiếc dao cạo tàn khốc bí ẩn chôn sâu trong ký ức đã rạch vào chị, và tới lúc những ngôi sao đã mờ nhạt trước ánh bình minh đang đến trên các ruộng nho thì sức sống cũng bị rút cạn khỏi đôi má chị khi chị kể tôi nghe câu chuyện của mình.

    Miu kể câu chuyện ấy chỉ sau khi tôi vật nài đòi nghe. Tôi phải tìm đủ mọi cách để thuyết phục chị kể - hết khuyến khích, ép buộc, cho đến nịnh nọt, cầu khẩn, dụ dỗ để chị không bỏ nửa chừng. Chúng tôi uống vang đỏ và trò chuyện suốt đêm. Siết chặt tay nhau chúng tôi lần theo các dấu vết của ký ức chị, gom chúng lại với nhau, phân tích các kết quả. Vẫn có những chỗ Miu không thể nào kéo ra khỏi ký ức được. Một khi bị sa chân vào đấy chị lại trở nên bối rối và uống nhiều rượu hơn. Có những vùng ký ức nguy hiểm. Bất cứ khi nào đi qua đó chúng tôi đều từ bỏ cuộc tìm kiếm và thận trọng rút lui đến một vị trí cao hơn.

    Tôi thuyết phục Miu kể lại câu chuyện này sau khi phát hiện chị nhuộm tóc. Miu là người thận trọng đến mức chỉ rất ít người xung quanh biết tóc chị là tóc nhuộm. Nhưng tôi thì biết. Đi du lịch lâu ngày cùng nhau, ngày nào cũng ở cạnh nhau, sớm muộn gì bạn cũng sẽ biết những việc như vậy. Mà cũng có thể Miu không cố giấu việc đó. Nếu muốn chắc hẳn chị đã thận trọng hơn. Có thể chị nghĩ đằng nào thì tôi cũng biết, hoặc có thể chị muốn tôi biết việc đó. (Hừm, đây chỉ thuần là giả thuyết của tôi thôi.)

    Tôi hỏi thẳng chị. Tính tôi thế - không vòng vo tam quốc gì cả. Sao tóc chị trắng thế? Tôi hỏi. Chị nhuộm tóc lâu chưa? Mười bốn năm, chị đáp. Mười bốn năm trước tóc chị hoàn toàn bạc trắng, đến từng sợi một. Chị bị ốm à? Không, không phải thế, Miu nói. Có chuyện xảy ra và toàn bộ mái tóc chị bạc trắng. Chỉ trong một đêm.

    Em muốn nghe chuyện này, tôi nói, khẩn nài chị. Em muốn biết mọi điều về chị. Chị biết em sẽ không giấu chị điều gì. Nhưng Miu lập tức lắc đầu. Chị ấy không bao giờ kể cho ai nghe chuyện đó; ngay chồng chị cũng không biết chuyện gì đã xảy ra. Suốt mười bốn năm qua đó là bí mật riêng tư của chị.

    Nhưng cuối cùng chúng tôi đã trò chuyện suốt đêm. Chuyện gì rồi cũng có lúc phải kể, tôi thuyết phục chị. Nếu không chị sẽ vĩnh viễn bị cầm tù với bí mật ấy.

    Miu nhìn tôi như nhìn vào một cảnh vật xa xăm nào đó. Có điều gì đó thoáng gợn lên trong mắt chị rồi lại chậm chạp rút về nơi đáy sâu. "Chị chẳng có gì phải làm sáng tỏ cả. Chúng có món nợ phải thanh toán, không phải chị," Miu nói.

    Tôi không hiểu chị nói gì.

    "Nếu chị kể em nghe chuyện đó thì hai chị em ta lúc nào cũng sẽ phải chia sẻ nó," Miu đáp. "Và chị không biết làm thế có đúng không. Nếu bây giờ chị tiết lộ, em sẽ bị cuốn vào. Đó có phải điều em muốn không? Em có thực sự muốn biết điều mà chị đã phải hy sinh rất nhiều để cố quên đi không?"

    Có, tôi đáp. Dù nó có là gì đi nữa, em cũng muốn chia sẻ cùng chị. Em không muốn chị giấu điều gì.

    Lộ rõ vẻ bối rối, Miu nhấp một ngụm vang và khép mắt lại. Tiếp theo là một khoảng im lặng khi thời gian dường như ngưng đọng.

    Nhưng cuối cùng chị đã bắt đầu câu chuyện. Từng chút một, ngắt quãng từng đoạn. Một số tình tiết tự nó đã bộc lộ mình, trong khi những tình tiết khác thậm chí còn chưa thành hình. Có cả những khoảng trắng và những chỗ bị bỏ qua không thể tránh, một số trong đó tự bản thân nó có tầm quan trọng đặc biệt. Giờ đây, nhiệm vụ của tôi trong vai trò người kể chuyện là thu thập - một cách thận trọng - tất cả các tình tiết đó thành một mối.

    Chuyện về Miu và vòng đu quay

    Mùa hè nọ, Miu một mình lưu lại một thị trấn nhỏ ở Thụy Sĩ giáp biên giới Pháp. Hồi đó chị 25 tuổi, sinh sống và học piano ở Paris. Theo yêu cầu của ông bố, chị đã đến thị trấn nhỏ này để lo vài vụ đàm phán kinh doanh. Công việc thật ra đơn giản, về cơ bản chỉ là ăn tối với đối tác và thuyết phục họ ký hợp đồng. Miu thích nơi này ngay lần đầu tiên nhìn thấy nó. Một nơi dễ chịu, đáng yêu, có hồ nước và bên cạnh là tòa lâu đài Trung cổ. Chị thấy sống ở đây cũng thú vị nên không bỏ lỡ cơ hội. Thêm nữa ở làng bên cạnh có liên hoan âm nhạc, và nếu thuê xe hơi thì ngày nào chị cũng có thể đến dự được.

    Chị may mắn tìm được một căn hộ tiện nghi cho thuê ngắn hạn, một ngôi nhà nhỏ ngăn nắp sạch sẽ, vừa ý, nằm trên đỉnh đồi ở ngoài thị trấn. Cảnh trí tuyệt với. Cạnh đó có nơi để chị tập đàn piano. Giá thuê không rẻ, nhưng nếu bị kẹt tiền thì lúc nào chị cũng có thể nhờ bố chi viện.

    Vậy là Miu bắt đầu cuộc sống tạm thời nhưng bình yên ở thị trấn đó. Chị tham dự các buổi hòa nhạc tại liên hoan âm nhạc, đi bộ trong vùng phụ cận và chẳng mấy chốc đã thiết lập được vài mối quen biết. Chị tìm được một tiệm ăn xinh xắn và một quán cà phê mà chị năng lui tới. Từ cửa sổ căn hộ nhìn ra chị có thể thấy một công viên giải trí nằm bên rìa thị trấn. Trong công viên có một vòng đu quay khổng lồ. Những ca-bin có cửa màu sắc sặc sỡ được gắn vĩnh viễn vào bánh xe khổng lồ, tất cả chậm rãi quay tròn trên trời. Khi lên tới đỉnh cực đại phía trên thì nó bắt đầu quay xuống. Lẽ tự nhiên, các vòng đu này chẳng đi tới đâu cả. Chúng lên cao, chúng lại xuống thấp, một hành trình theo đường vòng mà, vì một lý do kỳ lạ nào đó, được phần lớn mọi người thấy thích thú.

    Buổi tối, vòng đu quay lấp lánh muôn ngàn ánh sáng, ngay cả khi đã ngừng chạy vì trời về đêm và công viên giải trí đã đóng cửa, vòng đu quay vẫn nhấp nháy suốt đêm dài, như thể ganh đua với các vì sao trên trời. Miu thường ngồi bên cửa sổ nghe nhạc trên đài phát thanh và nhìn chăm chăm vào cử động lên xuống của vòng đu quay. Hay khi nó đã ngừng quay thì nhìn vào khối bất động như tượng đài của nó.

    Miu quen một người đàn ông sống ở thị trấn. Một kiểu người Latin đẹp trai, trạc năm mươi tuổi. Anh ta cao lớn, mũi đẹp tuyệt vời và mái tóc đen thẳng. Anh ta đến làm quen với chị tại quán cà phê. Chị người nước nào? Anh ta hỏi. Tôi người Nhật Bản, chị trả lời. Và hai người bắt đầu trò chuyện. Tên anh ta là Ferdinando. Anh ta quê Barcelone, chuyển đến đây từ năm năm trước để đảm nhận công việc thiết kế nội thất.

    Anh ta nói chuyện thong thả, thường pha trò. Họ chuyện phiếm một lúc rồi chia tay. Hai ngày sau họ gặp lại nhau cũng tại quán cà phê ấy. Chị biết được anh ta đã ly hôn, đang sống độc thân. Anh ta kể với chị anh ta đã rời Tây Ba Nha để bắt đầu một cuộc sống mới. Miu không có ấn tượng tốt về người đàn ông này. Chị có thể cảm nhận được anh ta đang tìm cách tán tỉnh chị. Chị ngửi thấy dấu hiệu ham muốn tình dục và điều ấy khiến chị sợ. Chị quyết định tránh quán cà phê đó.

    Nhưng chị vẫn chạm mặt Ferdinando nhiều lần trong thị trấn - thường xuyên tới mức khiến chị có cảm giác anh ta bám theo mình. Có lẽ đấy chỉ là một ảo giác ngớ ngẩn. Đây là thị trấn nhỏ nên có thường đụng mặt nhau cũng chẳng phải chuyện lạ. Lần nào thấy chị, anh ta cũng ngoác miệng và chào hỏi thân mật. Tuy nhiên, chị dần dần thấy bực bội và lo lắng. Chị bắt đầu xem Ferdinando như mối đe dọa đối với cuộc sống thanh bình của mình. Giống như tiếng chũm chọe chói tai khi bắt đầu một bản tổng phổ, một bóng đen báo điềm gở đã bắt đầu trùm lên mùa hè dễ chịu của chị.

    Tuy nhiên, Ferdinando chỉ là một vệt của cái bóng đen còn lớn hơn. Sau mười ngày sống ở đây chị bắt đầu cảm thấy một thứ trở ngại đang bám lấy cuộc sống của chị tại thị trấn. Cái thị trấn xinh đẹp, sạch sẽ gọng gàng như ly như lau này giờ dường như trở nên thiển cận, tự mãn. Dân cư vẫn thân thiện, tử tế, nhưng chị bắt đầu cảm thấy một định kiến rõ rệt đối với chị vì chị là người châu Á. Thứ rượu vang chị uống trong tiệm ăn đột nhiên có dư vị dở tệ. Chị tìm thấy sâu trong mớ rau mình mua. Các màn trình diễn tại liên hoan âm nhạc nghe thật uể oải. Chị không còn tâm trí nào cho âm nhạc nữa. Ngay căn hộ chị đã cho là khá tiện nghi cũng bắt đầu hóa ra dơ dáy, trang trí nghèo nàn. Mọi thứ đều bị mất đi vẻ lộng lẫy ban đầu. Cái bóng đen báo điềm gở lan rộng. Và chị không thể thoát khỏi nó.

    Ban đêm chuông điện thoại kêu, và chị nhấc máy. "Alô?" Chị nói. Nhưng điện thoại tắt ngấm. Chuyện này lặp đi lặp lại. Chắc hẳn là Ferdinando, chị nghĩ. Nhưng chị không có bằng chứng. Làm sao anh ta biết số của chị? Chiếc điện thoại thuộc đời cũ nên chị không thể tháo phích cắm ra. Chị ngủ không sâu và bắt đầu dùng thuốc ngủ. Ăn cũng mất ngon.
    Mình phải rời khỏi đây, chị quyết định. Nhưng chẳng hiểu sao chị không thể dứt mình nổi khỏi thị trấn này. Chị viện ra đủ thứ lý do để ở lại. Chị trả tiền thuê nhà cả tháng, đã mua vé xem liên hoan âm nhạc. Chị cũng đã cho thuê căn hộ ở Paris trong mấy tháng hè. Giờ chị không thể cứ thế đứng dậy mà bỏ đi được, chị tự nhủ. Vả lại, thật sự chẳng có chuyện gì xảy ra hết. Trên thực tế chị không bị bất kỳ thương tổn nào, đúng không? Chẳng ai đối xử tệ hại với chị cả. Chẳng qua mình quá nhạy cảm với mọi thứ mà thôi, chị tự thuyết phục mình.

    Một tối, khoảng hai tuần sau khi đến sống ở đây, chị ăn tối ở tiệm ăn gần nhà như thường lệ. Ăn xong chị muốn thay đổi không khí nên đi dạo một lúc khá lâu. Miên man suy nghĩ, chị lang thang hết phố này đến phố khác. Trước khi nhận ra mình đang làm gì thì chị đã thấy mình đứng trước cổng công viên giải trí. Công viên có vòng đu quay. Khắp nơi rộn ràng tiếng nhạc, tiếng người bán hàng mời chào, tiếng trẻ la hét sung sướng. Khách đến công viên chủ yếu là các gia đình, một vài cặp tình nhân từ thị trấn. Miu nhớ hồi nhỏ đã từng có lần được bố đưa đến công viên giải trí. Thậm chí bây giờ chị vẫn có thể nhớ được mùi chiếc áo khoác bằng vải tuýt của bố khi hai bố con lái chiếc tách trà xoay. Suốt thời gian chơi, chị bám riết tay áo bố. Đối với cô bé Miu cái mùi ấy là dấu hiệu của thế giới người lớn xa xăm, một biểu tượng của sự an toàn. Chị thấy nhớ bố.

    Đột nhiên nổi hứng, chị mua vé vào công viên. Nơi này đầy các quầy hàng, cửa hiệu khác nhau - gian chơi bắn sung, gian biểu diễn rắn, gian bói toán. Bà thầy bói, một phụ nữ to lớn, quả cầu thủy tinh đặt trước mặt, vẫy tay bảo Miu: "Thưa cô, mời cô vào đây. Chuyện này rất quan trọng. Số phận của cô sắp thay đổi." Miu chỉ mỉm cười bước đi.
    Chị mua một cây kem, ngồi xuống ghế đá ăn và quan sát mọi người qua lại. Chị cảm thấy mình bị tách xa khỏi đám đông nhộn nhịp xung quanh. Một người đàn ông lên tiếng nói chuyện với chị bằng tiếng Đức. Anh ta khoảng ba mươi, nhỏ người, tóc vàng, để râu, một mẫu người trông khá dễ ưa trong bộ đồng phục. Chị lắc đầu, mỉm cười chỉ đồng hồ đeo tay. "Tôi đang đợi bạn," chị nói bằng tiếng Pháp. Giọng chị nghe cao hơn và có vẻ xa lạ. Người đàn ông không nói gì nữa, mỉm cười bối rối, khẽ vẫy tay chào chị rồi bước đi.

    Miu đứng lên, dạo vòng quanh. Ai đó đang ném phi tiêu vào một quả bóng nổ tung. Một con gấu đang lắc lư nhảy múa. Tiếng đàn organ đang chơi bản "Sông Danube xanh". Chị ngước mắt lên và thấy vòng đu quay đang thong thả quay trong không trung. Thật thú vị khi được đứng trên vòng đu quay nhìn về căn hộ của mình, chị chợt nghĩ, còn hơn là đi lòng vòng. May là trong túi áo khoác, chị có mang theo chiếc ống nhòm nhỏ. Chị để nó vào đó từ buổi đi nghe liên hoan âm nhạc lần trước, nó đã giúp chị nhìn được sân khấu từ chỗ ngồi ngoài xa trên bãi cỏ. Chiếc ống nhòm nhẹ và khá nhạy. Với nó chị có thể nhìn vào được căn phòng mình ở.

    Chị mua vé ở chiếc quầy phía trước vòng đu quay. Ông già bán vé bảo chị: "Thưa cô, chúng tôi sắp đóng cửa rồi." Ông ta nhìn xuống trong lúc lúng búng câu này, như thể nói với chính mình. Rồi ông lắc đầu. "Sắp hết giờ làm việc rồi. Đây là vòng cuối. Một vòng nữa rồi chúng tôi nghỉ." Bộ râu quai nón của ông ta nhuốm khói thuốc lá, khắp cằm râu bạc trắng mọc lởm chởm. Ông húng hắng ho. Má đỏ như thể đã nhiều năm dạn dày gió bấc.

    "Thế cũng được rồi. Một vòng là đủ," Miu đáp lại. Chị mua vé, bước lên thềm. Chị là người duy nhất chờ bước lên đu, và theo những gì chị có thể quan sát được, những buồng đu nhỏ bé đều trống trơn. Những cái buồng trống lừ đừ quay trong không trung như đang ngẫm nghĩ, như thế chính thế giới đang bị xì hơi cho đến cạn kiệt.

    Chị bước vào buồng đu màu đỏ, ngồi xuống ghế, trong khi ông già bán vé bước đến, đóng cửa và khóa lại từ bên ngoài. Chắc là để cho an toàn. Giống như một con vật thời cổ xưa nào đó đang sống lại, vòng đu quay bắt đầu cót két quay lên cao. Hàng dãy quầy hàng và các điểm vui chơi hấp dẫn lùi xuống phía dưới chị. Trong lúc đó ánh sáng thị trấn hiện ra trước mắt chị. Chiếc hồ nằm bên trái chị, và Miu có thể nhìn thấy ánh sáng từ những chiếc thuyền du ngoạn phản chiếu nhẹ nhàng trên mặt nước. Sườn núi xa xa nhấp nháy ánh đèn từ các thôn xóm nhỏ. Ngực chị thắt lại trước tất cả vẻ đẹp đó.

    Vùng đỉnh đồi nơi chị sống lọt vào tầm mắt. Miu chĩa ống nhòm tìm căn hộ của mình, nhưng tìm thấy nó không phải việc dễ dàng. Vòng đu quay càng lúc càng lên cao. Cần phải nhanh lên. Chị xoay ống nhòm tới lui điên cuồng tìm kiếm. Nhưng có quá nhiều tòa nhà trông rất giống nhau. Vòng đu đã lên tới đỉnh và bắt đầu quay xuống. Cuối cùng chị đã phát hiện ra tòa nhà đó. Đúng nó rồi! Nhưng không hiểu sao nó lại có nhiều cửa sổ hơn chị tưởng. Rất nhiều người mở cửa sổ để hóng ngọn gió mát mùa hè. Chị di chuyển ống nhòm từ cửa sổ này qua cửa sổ khác, và cuối cùng đã xác đinh được vị trí căn hộ thứ hai trên tầng ba, tính từ bên phải sang. Nhưng vừa khi đó vòng đu quay đã xuống gần sát đất. Tường của các tòa nhà khác che mất tầm nhìn. Tiếc quá, chỉ vài giây nữa là chị đã có thể thấy ngay bên trong căn hộ của mình.

    Chiếc đu quay chậm chạp tiến gần đến mặt đất. Chị cố mở cửa bước ra nhưng nó không nhúc nhích. Dĩ nhiên rồi - nó bị khóa ngoài. Chị nhìn quanh tìm kiếm ông lão ở quầy bán vé nhưng chẳng thấy đâu. Đèn trong quầy đã tắt. Chị định gọi người, nhưng chẳng có bất kỳ ai để mà gọi. Chiếc đu quay lại bắt đầu quay lên. Rối tung hết cả lên, chị nghĩ. Sao lại ra cơ sự này chứ? Chị thở dài. Có lẽ ông lão đi toilet rồi quên mất giờ. Đành phải đi thêm một vòng nữa vậy.

    Cũng được thôi, chị nghĩ. Tính đãng trí của ông lão sẽ cho chị cơ hội được đi đu quay vòng hai miễn phí. Lần này chắc chắn chị sẽ nhận ra căn hộ của mình. Chị nắm chặt ống nhòm và dán mắt ra ngoài cửa sổ. Lần trước chị đã nhìn bao quát toàn cảnh và xác định được vị trí nên lần này tìm căn hộ của mình dễ hơn. Cửa sổ mở, đèn sáng. Chị rất ghét trở về mà phòng tối thui, và đã định ăn tối xong là về ngay.

    Chị có cảm giác tội lỗi khi dùng ống nhòm nhìn phòng mình từ một nơi xa như thế này, như thể chị đang nhìn trộm mình vậy. Nhưng mình không có ở đấy, chị cả quyết với chính mình. Tất nhiên là không. Trên bàn có điện thoại. Mình thật sự muốn gọi về đấy. Mình cũng để một bức thư trên bàn. Mình muốn đọc được nó từ chỗ này. Miu nghĩ. Nhưng lẽ đương nhiên Miu không thể thấy chi tiết thế được.

    Cuối cùng chiếc đu quay đã lên đến đỉnh và bắt đầu đi xuống. Nhưng mới xuống được một đoạn thì nó đột nhiên dừng lại. Chị bị văng vào thành buồn, đập mạnh vai và suýt đánh rơi ống nhòm xuống sàn. Tiếng động cơ của vòng đu quay tắt ngấm, tất cả mọi vật chìm trong sự im lặng bí hiểm. Tiếng nhạc rộn rã mà lúc nãy chị nghe thấy đã biến mất. Hầu hết đèn trong các quầy hàng phía dưới cũng đã tắt. Chị nghe ngóng cẩn thận nhưng ngoài tiếng gió yếu ớt, không còn gì nữa. Tĩnh lặng tuyệt đối. Không tiếng người bán hàng mời chào, không tiếng trẻ la hét sung sướng. Thoạt đầu chị không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Và rồi chị nhận ra: chị đã bị bỏ rơi.

    Chị vươn người ra ngoài khung cửa sổ mở lưng chừng và lại nhìn xuống. Chị nhận ra mình đang ở độ cao như thế nào. Miu tính kêu cứu, nhưng biết sẽ chẳng ai nghe thấy. Chị ở quá cao, giọng chị quá nhỏ.

    Ông lão kia có thể đi đâu được kia chứ? Chắc ông ta đã uống say. Màu sắc đó của khuôn mặt, hơi thở, giọng nói khàn đặc của ông ta - không nhầm được. Ông ta đã quên mất việc cho mình lên đu quay và đã cắt điện. Lúc này có lẽ ông ta đang say sưa tại một quán rượu nào đấy, uống bia hay rượu gin, càng uống càng say và quên mất mình đang làm gì. Miu cắn môi. Có thể mình không ra được khỏi đây cho đến chiều mai, chị nghĩ. Hay có thể đến tối? Khi nào công viên giải trí lại mở cửa? Chị không biết.

    Miu chỉ mặc một cái áo khoác nhẹ kèm chiếc váy cotton ngắn, và dù đang giữa mùa hè nhưng không khí ban đêm ở Thụy Sĩ vẫn lạnh. Gió đã mạnh lên. Chị lại nhô ra ngoài cửa sổ nhìn xuống dưới. Ánh sáng thậm chí còn ít hơn trước. Nhân viên công viên giải trí đã kết thúc ngày làm việc và về nhà. Chắc hẳn phải có bảo vệ đâu đó quanh đây. Chị hít một hơi thở sâu và dồn hết sức hét lên kêu cứu. Chị lắng nghe. Rồi lại hét. Một lần nữa. Không có tiếng trả lời.

    Chị rút cuốn sổ nhỏ trong túi khoác và viết bằng tiếng Pháp: "Tôi bị khóa bên trong đu quay ở công viên giải trí. Xin hãy giúp tôi." Chị ném mẩu tin nhắn ra ngoài cửa sổ. Tờ giấy bay theo gió. Gió đang thổi về phía thị trấn, vì vậy nếu may mắn nó có thể bay được tới đó. Những nếu có ai nhặt được và đọc thì anh ta (hay chị ta) có tin không? Trong tờ giấy khác, chị viết tên và địa chỉ của mình kèm theo tin nhắn. Như vậy có lẽ đáng tin hơn. Người ta sẽ không coi đó là chuyện đùa mà hiểu là chị đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Chị xé hết nửa cuốn sổ thả bay theo gió.

    Đột nhiên chị nảy ra một ý, lấy hết mọi thứ trong ví ra, chỉ để lại một tờ mười franc và bỏ vào đó mẩu giấy: "Một phụ nữ đang bị khóa trong đu quay trên đầu ông bà. Xin hãy giúp." Chị thả ví ra ngoài cửa sổ. Nó rơi thẳng xuống đất. Tuy nhiên, chị không thể nhìn thấy nó rơi xuống đâu, cũng không nghe được tiếng nó chạm đất. Chị đặt mảnh giấy tương tự vào túi xách rồi thả xuống.

    Miu nhìn đồng hồ đeo tay. Bây giờ là 10h30. Chị lục lọi trong túi áo khoác xem còn gì không. Mấy thứ mỹ phẩm giản dị, gương, hộ chiếu. Kính râm. Chìa khóa chiếc xe chị thuê và chìa khóa căn hộ. Một con dao quân đội để gọt hoa quả. Một túi bóng nhỏ đựng ba cái bánh quy giòn. Một cuốn sách tiếng Pháp bìa mềm. Chị đã ăn tối nên từ giờ đến sáng mai sẽ không đói. Trời mát nên cũng sẽ không quá khát. Và may là chị vẫn chưa phải đi vệ sinh.

    Chị ngồi xuống chiếc ghế nhựa, tựa đầu vào thành buồng. Sự ân hận quay cuồng trong tâm trí. Vì sao chị lại vào công viên giải trí, lại leo lên chiếc đu quay này? Lẽ ra sau khi rời khỏi nhà hàng chị nên đi thẳng về nhà. Giá như vậy thì bây giờ chị đã được tắm rửa thoải mái bằng nước nóng, cuộn mình nằm trên giường với một quyển sách hay, như chị vẫn làm mọi tối. Vì sao chị lại không làm thế? Và tại cái chết tiệt gì mà người ta lại thuê một lão say rượu không có khả năng như ông già đó chứ?

    Chiếc đu quay cót két trong gió. Chị cố đóng cửa sổ lại cho gió lùa vào nhưng nó không di chuyển dù một phần. Chị đành đầu hàng, ngồi bệt xuống sàn. Mình đã biết lẽ ra nên mang theo áo len mà, chị nghĩ. Khi rời khỏi nhà chị đã dừng lại, băn khoăn không biết có nên khoác thêm chiếc áo len không. Nhưng tối mùa hè có vẻ dễ chịu, tiệm ăn chỉ cách chỗ chị ở có ba dãy nhà. Vào thời điểm đó thì việc dạo bước đến công viên giải trí và leo lên chiếc đu quay đúng là điều xa vời nhất trong tâm trí của chị. Mọi việc chệch hướng hết.

    Để bớt căng thẳng, chị tháo đồng hồ, dây chuyền bạc mỏng và đôi hoa tai hình vỏ sò cho vào túi xách. Chị thu mình lại trong một góc sàn, hy vọng có thể ngủ cho đến sáng. Lẽ đương nhiên chị không ngủ được. Chị lạnh và lo lắng. Thỉnh thoảng cơn gió mạnh lại khiến buồng đu quay lắc lư. Chị nhắm mắt, hình dung mình đang chơi bản sonata cung C thứ của Mozart, lướt ngón tay trên phím đàn tưởng tượng. Chẳng có lý do gì đặc biệt, nhưng chị nhớ đến bản nhạc mình đã chơi hồi nhỏ này. Nhưng đến giữa phần thứ hai suy nghĩ của chị bắt đầu lơ mơ. Và chị thiếp đi.

    Chị không biết mình đã ngủ được bao lâu. Có lẽ là mới chỉ một chốc. Chị bất ngờ thức dậy, và trong một thoáng không biết mình đang ở đâu. Dần dần ký ức của chị quay trở lại. Phải rồi, chị nghĩ, mình đang ngồi trong cái đu quay ở công viên giải trí. Chị lôi đồng hồ từ trong túi ra, đã quá nửa đêm. Miu chậm chạp đứng lên. Cơ thể chị mỏi nhừ vì tư thế ngủ gò bó. Chị há miệng ngáp mấy cái, duỗi người và xoa bóp cổ tay.

    Biết là không thể ngủ lại ngày được, chị lấy cuốn sách ra khỏi túi để tránh cho đầu óc phải nghĩ ngợi và bắt đầu đọc từ đoạn bỏ dở lúc trước. Đó là cuốn truyện trinh thám mới chị mua ở hiệu sách trong thị trấn. May là đèn trên đu quay sáng suốt đêm. Nhưng mới đọc được vài trang chị nhận ra mình không theo nổi cốt truyện. Mắt để vào dòng chữ, nhưng tâm trí chị ở cách xa hàng dặm.

    Miu đầu hàng, gấp sách lại. Chị nhìn trời đêm. Một màn mây mỏng che khuất bầu trời, và chị không thể nhìn thấy bất cứ vì sao nào. Mảnh trăng sáng lờ mờ. Ánh đèn phản chiếu bóng chị lên cửa sổ kính của buồng đu quay. Chị ngó khuôn mặt mình hồi lâu. Khi nào việc này sẽ kết thúc? Chị tự hỏi. Bị treo ở đây. Rồi đây sẽ thành câu chuyện cười để bạn kể cho mọi người. Cứ thử hình dung cảnh bị nhốt trong chiếc đu quay tại công viên giải trí ở Thụy Sĩ xem.

    Nhưng nó đã không trở thành chuyện cười.

    Đây chính là chỗ câu chuyện thực bắt đầu.

    Một lúc sau, chị giơ ống nhòm chĩa về cửa sổ căn hộ của mình. Không có gì thay đổi. Thế đấy, mày trông chờ gì chứ?
    Chị mỉm cười tự hỏi.

    Chị nhìn sang các cửa sổ khác của tòa nhà. Đã quá nửa đêm hầu hết mọi người đang ngủ say. Phần lớn cửa sổ đều tối. Tuy nhiên, vẫn có một vài người còn thức, đèn trong phòng họ vẫn sáng. Người ở các tầng dưới còn cẩn thận buông rèm cửa. Còn các tầng trên thì mọi người không thèm bận tâm, mặc cho rèm cửa mở để hưởng ngọn gió đêm mát mẻ. Cuộc sống bên trong các căn phòng yên tĩnh, trọn vẹn và tầm nhìn thông thoáng. (Ai mà ngờ được có người đang ngồi trên đu quay lúc nửa đêm dùng ống nhòm chĩa vào nhà mình?) Nhưng Miu không thích thú với chuyện nhòm ngó vào đời tư của người khác. Chị thấy nhìn vào căn phòng trống trải của mình còn thú vị hơn nhiều.

    Khi đã nhìn qua một lượt tất cả các cửa sổ và quay trở về căn hộ của mình, Miu há hốc miệng kinh ngạc. Có một người đàn ông trần truồng trong phòng ngủ của chị. Thoạt đầu chị tưởng là mình nhìn nhầm phòng. Chị xoay đi xoay lại chiếc ống nhòm. Nhưng không hề nhầm: đấy đúng là phòng chị. Đồ nội thất của chị, hoa chị cắm trong bình, những bức tranh trong căn hộ của chị đang treo trên tường. Người đàn ông đó là Ferdinando. Không nhàm được. Anh ta đang ngồi trên giường chị, trần như nhộng. Ngực và bụng anh ta lông lá, cái dương vật dài rũ xuống như một con vật lờ đờ.

    Anh ta có thể làm gì trong phòng mình chứ? Trán Miu lấp loáng mồ hôi. Sao anh ta vào trong được? Miu không tài nào hiểu nổi. Đầu tiên chị nổi giận, rồi bối rối. Rồi, một người phụ nữ xuất hiện ở cửa sổ. Cô ta mặc chiếc áo khoác ngắn tay màu trắng và một chiếc váy cotton ngắn màu xanh. Một phụ nữ? Miu nắm chặt ống nhòm và dán mắt nhìn.
    Cái mà chị nhìn thấy là chính chị.

    Đầu óc Miu trống rỗng. Mình đang ở đây, nhìn vào phòng mình bằng ống nhòm. Và trong căn phòng đó là mình. Miu chỉnh đi chỉnh lại ống nhòm. Nhưng chị có nhìn bao nhiêu lần đi nữa thì trong phòng vẫn là chị. Mặc đúng bộ quần áo bây giờ chị đang mặc. Ferdinando ôm chị và bế lại giường. Anh ta hôn Miu và nhẹ nhàng cởi quần áo cho chị ở trong phòng. Lột áo khoác, cởi nịt vú, tháo váy, hôn vào dưới cổ trong khi lấy tay vuốt ve hai bầu vú. Một lúc sau anh ta dùng một tay cởi quần lót của chị, đúng chiếc quần giờ chị đang mặc. Miu không thở nổi. Chuyện gì đang xảy ra thế này?

    Chị chưa kịp nhận ra chuyện gì thì dương vật của Ferdinando đã dựng đứng lên, cứng như khúc gỗ. Chị chưa bao giờ thấy một dương vật nào to như đến thế. Anh ta cầm tay Miu đặt vào dương vật mình. Anh ra vuốt ve chị và liếm khắp người chị từ đầu đến chân. Anh ta tận hưởng cảm giác thích thú. Chị không chống cự. Chị - Miu trong căn hộ - để mặc anh ta muốn làm gì thì làm, hoàn toàn tận hưởng niềm khoái cảm đang dâng lên. Thỉnh thoảng chị lại giơ tay vuổt ve dương vật và bìu dái của Ferdinando, cho phép anh ta chạm đến bất kỳ chỗ nào trên người mình.

    Miu không tài nào rời mắt khỏi cảnh tượng lạ lùng này. Chị thấy phát ốm. Cổ họng khô rang đến không nuốt được. Chị có cảm giác như mình sắp nôn. Mọi thứ đã được cường điệu một cách kỳ cục, hăm dọa, giống như một bức tranh phúng dụ thời Trung cổ. Miu đã suy nghĩ thế này: hai người kia cố tình cho chị thấy cảnh này. Họ biết mình đang quan sát. Nhưng chị vẫn không thể dời mắt được.

    Trống rỗng.

    Rồi chuyện gì đã xảy ra?

    Miu không nhớ. Ký ức chị bị đứt đoạn tại chỗ này.

    "Chị không nhớ được," Miu nói. Chị lấy tay che mặt. "Chị chỉ biết rằng chuyện đó là một trải nghiệm khủng khiếp," chị khẽ nói thêm. "Tôi ở ngay chỗ này, còn một cái tôi khác ở kia. Và người đàn ông đó - Ferdinando - đang làm đủ trò với cái tôi ở kia."

    "Chị nói đủ trò nghĩa là sao?"

    "Chị không nhớ được. Đủ trò. Với việc chị bị khóa trong đu quay, anh ta đã làm tất cả những gì anh ta muốn - với cái tôi ở kia.

    --- hết chương 12 ---

  3. #33
    Cua Cua... bò bò...
    sarujun's Avatar


    Thành Viên Thứ: 74964
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 354
    Thanks
    1,183
    Thanked 499 Times in 202 Posts

    Người tình Sputnik - Chương 13



    Tôi đọc hai lần cả hai tài liệu, lúc đầu chỉ lướt qua, rồi chậm rãi, để ý đến chi tiết, khắc sâu chúng trong tâm trí. Các tài liệu này chắc chắn là của Sumire; chúng được viết theo đúng văn phong quen thuộc của cô. Tuy nhiên, vẫn có điều gì đó khác với giọng điệu chung, một điều tôi không thể nắm bắt được. Nó kìm nén hơn, xa cách hơn. Thế nhưng không còn nghi ngờ gì - Sumire đã viết cả hai

    Sau một lúc lưỡng lự, tôi nhét cái đĩa mềm vào trong túi xách của mình. Nếu Sumire trở về an toàn, tôi chỉ việc trả nó về chỗ cũ. Vấn đề là nếu cô không trở về thì phải làm gì. Nếu có ai đó lục soát đồ đạc của cô, chắc chắn họ sẽ tìm thấy chiếc đĩa, và tôi không chịu được ý nghĩ sẽ có những con mắt khác tọc mạch những gì tôi vừa đọc.

    Sau khi đọc xong hai tài liệu, tôi phải ra khỏi nhà. Tôi thay áo sơ mi mới, rời nhà nghỉ và leo xuống cầu thang để tới thị trấn. Tôi đổi 100 đôla séc du lịch, mua một tờ báo khổ nhỏ bằng tiếng Anh tại quầy báo rồi ngồi đọc dưới chiếc dù ở quán cà phê. Người hầu bàn ngái ngủ nghe tôi gọi nước chanh và bánh mì nướng quệt pho mát. Hắn ghi lại yêu cầu của tôi bằng cái bút chì ngắn ngủn, không có vẻ gì vội vã hơn thường lệ. Mồ hôi thấm qua lưng áo hắn thành một vệt lớn. Vết mồ hôi đó dường như đang gửi một thông điệp, nhưng tôi không thể giải mã được.

    Tôi máy móc đọc lướt qua một nửa tờ báo rồi lơ đãng nhìn quang cảnh bến cảng. Một con chó đen gầy trơ xương không biết từ đâu chui ra, khịt khịt ngửi chân tôi, rồi, mất hứng, bỏ đi. Dân chúng mỗi người một góc trải qua buổi chiều hè uể oải. Những kẻ duy nhất có vẻ đang di chuyển là gã hầu bàn và con chó, nhưng tôi nghi ngờ không biết họ còn giữ được bao lâu. Ông lão ở chỗ quầy tôi mua báo ngủ thiếp đi dưới chiếc dù, chân giang rộng. Bức tượng người anh hùng ở quảng trường vẫn đứng bình thản như thường lệ, quay lưng lại ánh mặt trời gay gắt.

    Tôi áp cốc nước chanh mát lạnh vào tay và trán cho mát, suy đi tính lại những mối liên hệ có thể giữa sự biến mất của Sumire và những gì cô viết.

    Sumire đã không viết gì một thời gian dài. Khi cô gặp Miu lần đầu tại đám cưới, niềm ham mê viết của cô đã tuột ra ngoài cửa sổ. Vậy mà trên hòn đảo nhỏ này cô lại cầm bút viết liền hai tài liệu trong một khoảng thời gian ngắn. Phải kỳ công lắm thì chỉ trong mấy ngày mới viết được nhiều như thế. Chắc hẳn có một điều gì đó đã thôi thúc Sumire ngồi vào bàn viết. Nguyên cớ là đâu?

    Thêm nữa, giữa hai tài liệu này có đề tài chung không? Tôi ngước mắt nhìn lũ chim đang đậu trên cầu tàu, suy ngẫm một lúc.

    Trời quá nóng đến nỗi không tài nào nghĩ nổi những vấn đề phức tạp. Thú thực tôi thấy bối rối và mệt mỏi. Nhưng giống như việc thu gom tàn binh của một đội quân thất trận - không kèn không trống - tôi gom các ý nghĩ tản mát của mình lại. Tập trung đầu óc, tôi chắp nối chúng lại với nhau.

    "Điều thực sự quan trọng ở đây," tôi khe khẽ nói thành lời với chính mình, "không phải những điều lớn lao người khác nghĩ đến, mà là những vấn đề nhỏ nhặt của anh, chính anh." Câu châm ngôn tôi thường dạy học trò. Nhưng thực tếc có phải thế không? Nói thì dễ, nhưng đưa vào thực hành lại không đơn giản. Bắt đầu từ những vấn đề nhỏ đã khó, nói gì đến cả Bức tranh lớn. Hay có lẽ suy nghĩ càng nhỏ thì càng khó để nắm bắt? Thêm nữa cũng chẳng ích lợi gì khi tôi ở xa nhà đến thế.

    Giấc mơ của Sumire. Sự tách đôi của Miu.

    Tôi nhận ra có hai thế giới khác nhau. Ở đây, đó là yếu tố chung.

    Tài liệu 1: Cái này liên quan đến giấc mơ của Sumire. Cô leo lên dãy cầu thang dài đến gặp người mẹ đã mất của mình. Nhưng khi cô tới nơi, mẹ cô đã quay lại phía bên kia. Và Sumire không ngăn bà lại được. Cô bị bỏ lại trên đỉnh tháp, bị bao vây bởi các vật thể đến từ thế giới khác. Sumire thường có những giấc mơ như vậy.

    Tài liệu 2: Cái này liên quan đến kinh nghiệm lạ lùng của Miu mười bốn năm trước. Chị bị mắc kẹt suốt đêm trên vòng đu quay trong một công viên giải trí tại thị trấn nhỏ của Thụy Sĩ, và khi nhìn qua ống nhòm phòng mình chị thấy một cái tôi thứ hai ở đấy. Con ma của một người đang sống. Và kinh nghiệm đó đã phá hủy con người Miu - hay ít nhất làm cho sự phá hủy đó trở nên rõ rệt. Theo lời Miu, chị bị tách ra làm hai, với một tấm gương chắn giữa hai cái tôi. Sumire đã thuyết phục Miu kể chuyện này và vận dụng hết khả năng của mình để viết lại nó.

    Bên này - bên kia. Đó là sợi chỉ chung. Sự di chuyển từ bên này sang bên kia. Chắc hẳn Sumire đã bị chủ đề này thu hút và bị thôi thúc đủ để dành nhiều thời gian đến thế nhằm viết hết nó ra. Nói theo lời của cô thì viết ra tất cả những điều này đã giúp cô suy nghĩ.

    Gã hầu bàn đến lau vụn bánh và tôi gọi thêm nước chanh. "Xin cho nhiều đá," tôi yêu cầu. Khi gã mang nước uống đến tôi nhấp một ngụm và lại áp cốc nước vào trán cho mát.

    "Nhưng nếu Miu không chấp nhận tôi thì sao?" Sumire viết. "Khi nào đến lúc tôi sẽ đi qua cây cầu đó. Máu sẽ phải chảy. Tôi sẽ mài sắc dao, sẵn sàng cắt đôi cổ họng một con chó ở nơi nào đó."

    Cô đang cố truyền đạt điều gì? Có phải cô đang bóng gió mình có thể tự sát? Tôi không thể tin như vậy. Lời lẽ của cô không có mùi tử khí. Cái tôi cảm nhận được trong đó là ý chí tiến lên phía trước, là nỗ lực cho một khởi đầu mới. Chó và máu chỉ là ẩn dụ, như tôi đã giải thích cho cô trên chiếc ghế băng trong công viên Inogashira (khoảng giữa chương 1). Chúng trở nên có ý nghĩa nhờ những sức mạnh thần bí truyền sinh khí. Câu chuyện về những cánh cổng Trung Hoa là ẩn dụ về việc truyện kể nắm bắt được ma thuật đó như thế nào.

    Sẵn sàng cắt đôi cổ họng một con chó ở nơi nào đó.

    Ở đâu đó?

    Suy nghĩ của tôi đâm sầm vào một bức tường vững chãi. Một ngõ cụt tuyệt đối.

    Sumire có thể đi đâu? Đâu là nơi nào đó mà cô phải đến trên hòn đảo này?

    Tôi không sao dứt bỏ được hình ảnh Sumire bị rơi xuống một cái giếng ở chốn xa xăm nào đó và đang chờ đợi cứu viện trong cô đơn. Bị thương, lẻ loi, đói, và khát. Suy nghĩ này gần như khiến tôi phát điên.

    Cảnh sát nói rõ ràng trên đảo không có cái giếng nào. Họ cũng không hề nghe nói đến bất kỳ cái hố nào ở bất cứ nơi đâu quanh thị trấn. Nếu có thì chúng tôi là những người đầu tiên phải biết, họ tuyên bố. Tôi buộc phải đồng ý với họ về vấn đề đó.

    Tôi quyết định đánh liều đưa ra một giả thuyết.

    Sumire đã đi sang phía bên kia.

    Giả thuyết này sẽ giải thích rất nhiều. Sumire bước qua tấm gương sang phía bên kia. Tìm gặp một Miu khác đang ở đó. Nếu Miu ở phía bên này cự tuyệt cô thì không phải đó là một hành động logic sao?

    Tôi cố nhớ lại những điều cô viết: "Vậy chúng ta cần làm gì để tránh va chạm? Xét một cách logic, việc này dễ thôi. Câu trả lời là những giấc mơ. Cứ mơ mãi. Bước vào thế giới của những giấc mơ, và không bao giờ quay ra. Sống trong mơ suốt quãng thời gian còn lại."

    Tuy nhiên vẫn còn một câu hỏi. Một câu hỏi chủ chốt. Bạn nghĩ làm sao đến được đó?

    Đặt vào những điều kiện logic đơn giản, việc này cũng dễ thôi. Tuy nhiên, giải thích nó không dễ.

    Tôi trở lại đúng nơi tôi đã xuất phát.

    Tôi nghĩ về Tokyo. Về căn hộ của mình, trường học nơi tôi dạy, đống rác trong bếp tôi lén vứt vào một cái thùng ở bến xe. Tôi chỉ mới xa Nhật Bản hai ngày, nhưng dường như nó đã là một thế giới khác. Một tuần nữa năm học mới sẽ bắt đầu. Tôi hình dung cảnh mình đứng trước ba mươi lăm học sinh. Nhìn từ khoảng cách này thì việc tôi dạy ai đó - thậm chí lũ trẻ mười tuổi - có vẻ thật phi lý.

    Tôi tháo kính râm lấy khăn tay lau vầng trán đẫm mồ hôi, rồi lại đeo kính vào ngắm lũ chim biển.

    Tôi nghĩ về Sumire. Về cơn hứng tình sôi sục của tôi khi tôi ngồi cạnh cô vào cái ngày cô chuyển đến chỗ ở mới. Kiểu cương cứng kinh hoàng tôi chưa từng trải qua. Giống như toàn bộ cơ thể tôi sắp nổ tung. Khi đó, trong trí tưởng tượng của tôi - một cái gì đó giống như thế giới giấc mơ mà Sumire đã viết - tôi làm tình với cô. Và cảm giác đó còn thực hơn bất kỳ cuộc ân ái nào tôi từng trải qua.

    Tôi nuốt một ít nước chanh để thông họng.

    Tôi quay lại với giả thuyết của mình, phát triển nó thêm. Bằng cách nào đó Sumire đã tìm thấy lối thoát. Nó thuộc kiểu lối thoát nào và làm sao cô khám phá ra được thì tôi không biết. Giả sử nó là một kiểu cánh cửa. Tôi nhắm mắt cố hình dung trong đầu hình ảnh tỉ mỉ cái cửa đó trông như thế nào. Chỉ là một cái cửa bình thường trong một bức tường bình thường. Sumire tình cờ tìm thấy cái cửa đó, vặn nắm đấm và bước ra ngoài - từ bên này sang bên kia. Mặc độc bộ pyjama lụa mỏng và đi dép ở nhà.

    Cái gì nằm ở phía bên kia cánh cửa thì vượt ngoài khả năng tưởng tượng của tôi. Cánh cửa khép lại và Sumire không trở về nữa.

    Tôi quay lại nhà nghỉ, ăn tối với những thứ có sẵn trong tủ lạnh. Mì ống cà chua và húng quế, xalát và một lon bia Amsstel. Tôi ra hiên ngồi, chìm trong suy nghĩ. Cũng có thể chẳng nghĩ ngợi gì cả. Không ai gọi điện. Có lẽ Miu đang tìm cách gọi từ Athens về, nhưng anh chẳng thể trông chờ điện thoại hoạt động.

    Trời mỗi lúc một xanh sẫm hơn, mặt trăng còn nhô lên trên biển, mấy vì sao nhấp nháy. Gió thổi dọc sườn núi làm bụi dâm bụt xào xạc. Ngọn hải đăng tự động trên cầu tàu chớp nháy thứ ánh sáng cổ xưa của nó. Mọi người đang chậm rãi dắt lừa xuống đồi. Tiếng trò chuyện sôi nổi của họ gần lại, rồi nhỏ dần về phía xa. Tôi lặng lẽ thu giữ toàn bộ cảnh tượng xứ người, dường như hoàn toàn thuộc về tự nhiên này.

    Rốt cuộc điện thoại không đổ chuông, và Sumire không xuất hiện. Thời gian trôi qua lặng lẽ, nhẹ nhàng, đêm đang sâu dần. Tôi lấy mấy băng nhạc trong phòng Sumire và đưa ra phòng khách bật. Một băng là tuyển tập nhạc Mozart, trên có chữ viết tay: Elizabeth Schwarzkopt và Walter Gieseking. Tôi không rành nhạc cổ điển nhưng vừa nghe tôi đã thấy nhạc này thật tuyệt vời. Phong cách hát hơi cổ nhưng nó gợi lại cho tôi cảm giác như khi đọc một đoạn văn hay, đáng nhớ - nó nhắc nhở bạn hãy ngồi thẳng và tập trung chú ý. Dường như các nghệ sĩ đang ở ngay trước mặt tôi, giọng hát tinh tế của họ bổng lên, trầm xuống, rồi lại bổng lên. Chắc hẳn trong băng phải có một bài hát tên là "Sumire". Tôi ngả người ra ghế, nhắm mắt và chia sẻ nó cùng người bạn đang mất tích.

    Tiếng nhạc làm tôi tỉnh giấc. Thứ nhạc xa vắng, gần như không nghe thấy. Đều đều, như người thủy thủ giấu mặt kéo chiếc neo từ đáy biển, âm thanh mơ hồ đã đánh thức tôi dậy. Tôi ngồi trên giường, vươn người về phía cửa sổ mở, chăm chú lắng nghe. Đúng là tiếng nhạc. Chiếc đồng hồ đặt cạnh giường chỉ hai giờ đêm. Âm nhạc? Vào lúc khuya khoắt như thế này?

    Tôi mặc quần áo, xỏ giày và bước ra ngoài. Đèn nhà hàng xóm đã tắt hết, phố xá vắng ngắt. Trời đứng gió, ngay cả tiếng sóng biển cũng không nghe thấy. Chỉ có ánh trăng giãi trên mặt đất. Tôi đứng đó, lại lắng nghe. Thật kỳ lạ, tiếng nhạc như vọng xuống từ đỉnh đồi. Trên dãy đồi dốc đứng không có bất kỳ làng mạc nào, chỉ có một nhóm chăn cừu và những tu viện nơi các thầy tu sống cuộc sống ẩn dật. Thật khó hình dung nổi bọn họ lại có thể tụ tập hội hè vào lúc đêm khuya thế này.

    Ở ngoài trời tiếng nhạc nghe rõ hơn. Tôi không nắm bắt được giai điệu, nhưng nghe nhịp thì rõ là nhạc Hy Lạp. Đó là tiếng nhạc sống chói tai nhộn nhạo, không phải thứ được phát qua loa phóng thanh.

    Lúc đó tôi đã hoàn toàn tỉnh táo. Không khí đêm hè dễ chịu, sâu thẳm huyền bí. Nếu không lo lắng cho Sumire thì có lẽ tôi đã khoan khoái tận hưởng nó. Tôi chống tay lên hông, vươn người, ngước nhìn trời và thở sâu. Trong tôi tràn ngập không khí mát mẻ ban đêm. Đột nhiên tôi nảy ra một ý nghĩ - có thể, ngay lúc này, Sumire cũng đang lắng nghe chính tiếng nhạc đó.

    Tôi quyết định tản bộ về phía tiếng nhạc một lúc. Tôi phải tìm xem nó phát ra từ đâu, ai đang chơi nó. Đường lên đỉnh đồi chính là con đường sáng nay tôi đã qua để tới bãi biển, vì vậy tôi nắm rõ đường. Có thể đi xa được đến đâu thì mình sẽ đi tới đó, tôi quyết định.

    Ánh trăng soi sáng cảnh vật giúp việc đi lại dễ dàng. Nó tạo nên những hình thù kỳ dị giữa các vách đá, phủ lên mặt đất những bóng đen lạ mắt. Mỗi khi đế giày chạy của tôi đá phải một viên sỏi trên đường, âm thanh lại được khuếch đại lên. Tôi càng lên cao tiếng nhạc nghe càng rõ. Đúng như tôi đoán, nó phát ra từ đỉnh đồi. Tôi có thể nhận ra một số nhạc cụ gõ, đàn măngđôlin cổ dài, đàn ăccooc và sáo. Có thể ghita nữa. Ngoài tiếng nhạc ra, tôi không nghe thấy gì. Không tiếng hát, không người reo hò. Chỉ có tiếng nhạc bất tận, theo một nhịp điệu lẻ loi, hầu như buồn tẻ.

    Tôi muốn xem chuyện gì đang diễn ra trên đỉnh núi nhưng đồng thời lại nghĩ mình không nên tới gần đó. Sự tò mò không thể kiềm chế giằng co nỗi sợ hãi bản năng. Nhưng tôi phải bước tới trước. Tôi thấy mình như đang mơ. Nguyên tắc thực hiện các lựa chọn có thể khác đã bị bỏ qua. Hay có thể chính sự lựa chọn thực hiện nguyên tắc đó đã bị bỏ qua?

    Theo những gì tôi biết, vài ngày trước Sumire đã bị đánh thức bởi cùng tiếng nhạc này và sự tò mò đã chiến thắng khi cô leo lên con dốc trong bộ pyjama.

    Tôi dừng lại quay nhìn phía sau. Cơn dốc lờ mờ quanh co chạy xuống phía thị trấn trông như dấu vết của một con sâu khổng lồ. Rồi tôi ngước lên bầu trời, dưới ánh trăng, và liếc nhìn lòng bàn tay mình. Đột ngột hiểu ra, tôi biết đây không còn là tay mình nữa. Tôi không thể lý giải được. Nhưng vừa liếc nhìn tôi đã biết. Tay tôi không còn là tay tôi, chân tôi không còn là chân tôi nữa.

    Tắm trong ánh trăng nhợt nhạt, cơ thể tôi, giống như một con búp bê thạch cao, đã mất hết hơi ấm sự sống. Như thể một phù thủy đã yểm bùa tôi, thổi sự sống tạm bợ của tôi vào nắm đất sét ấy. Tia sáng của sự sống đã biến mất. Sự sống thật sự của tôi đã ngủ vùi ở nơi nào đó, và một kẻ giấu mặt đang nhét nó vào vali, định mang đi.
    Tôi cảm thấy ớn lạnh, khó thở. Ai đấy đã sắp xếp lại các tế bào của tôi, dứt đứt các sợi chỉ nối liền ý thức tôi. Tôi không thể suy nghĩ mạch lạc được. Điều duy nhất tôi có thể làm là rút nhanh hết mức về nơi trú ẩn quen thuộc. Tôi hít thở sâu và lặn xuống tận đáy cái biển ý thức. Tôi rẽ dòng nước xiết, ngụp nhanh xuống và dùng cả hai tay bám lấy một tảng đá to. Nước vỗ mạnh vào màng nhĩ. Tôi nhắm chặt mắt, nín thở chịu đựng. Một khi tâm trí đã ổn định thì không còn khó khăn đó nữa. Tôi dần quen với tất cả - áp lực của nước, sự thiếu không khí, bóng tối dày đặc, với những dấu hiệu phát ra từ cõi hỗn độn. Đó là điều tôi đã trải qua nhiều lần khi còn nhỏ.

    Thời gian tự đảo ngược, móc lại, vỡ vụn, rồi tự sắp xếp lại. Thế giới mở ra vô tận, tuy nhiên vẫn xác định và có giới hạn. Những hình ảnh sắc nét - chỉ hình ảnh thôi - trôi dọc những hành lang tăm tối giống như bầy sứa hay những linh hồn vật vờ. Nhưng tôi buộc mình không nhìn chúng. Nếu tôi để lộ ra, dù chỉ một chút xíu, là tôi đã nhìn thấy chúng, thì lập tức chúng sẽ trở nên có ý nghĩa. Ý nghĩa gắn với thời gian, và thời gian đang tìm cách bắt tôi trồi lên mặt nước. Tôi đóng kín tâm trí chờ cho hành trình của chúng kết thúc.

    Tôi không biết mình đã ở trong tư thế đó bao lâu. Khi tôi nổi lên mặt nước, mở mắt, lặng lẽ hít thở, thì tiếng nhạc đã tắt. Màn trình diễn bí ẩn đã kết thúc. Tôi thận trọng nghe ngóng. Không nghe thấy gì nữa. Tôi không thể nghe thấy gì. Không nhạc, không tiếng người, không tiếng gió thổi.

    Tôi muốn biết lúc này là mấy giờ nhưng lại không đeo đồng hồ. Tôi đã bỏ nó lại cạnh giường.

    Lúc này, bầu trời chi chít sao. Hay đó là do tôi tưởng tượng? Dường như tự bầu trời đã biến đổi thành một thứ khác.

    Cảm giác bị xa lánh kỳ lạ mà tôi từng có đã biến mất. Tôi duỗi người, co cánh tay, gập ngón tay. Không có cảm giác bị rời khỏi vị trí. Nách tôi lạnh và ẩm ướt, nhưng tất cả chỉ có thế.

    Tôi đứng dậy khỏi bãi cỏ và tiếp tục leo lên đồi. Tôi đã đi được xa như thế này và có thể lên tới tận đỉnh. Có phải trên đó thực sự có nhạc? Tôi phải tự mình nhìn thấy, dù chỉ là những dấu vết mờ nhạt nhất còn sót lại. Năm phút sau tôi đã lên tới đỉnh. Dưới chân đồi phía Nam là biển, cầu tàu và thị trấn đang say ngủ. Đôi ba ngọn đèn chiếu dọc con đường ở bãi biển. Sườn đồi phía bên kia chìm trong bóng tối, không nhìn thấy một ánh sáng nào. Tôi dán mắt vào bóng đêm, và cuối cùng nhận ra một dãy đồi xa xa bồng bềnh dưới ánh trăng. Khuất sau nó bóng tối còn dày đặc hơn. Còn ở đây quanh tôi, không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy một lễ hội vui vẻ vừa diễn ra.

    Mặc dù tiếng vọng của nó vẫn còn văng vẳng trong đầu tôi, nhưng giờ thậm chí tôi còn không chắc có phải mình đã nghe thấy tiếng nhạc không. Càng lúc tôi càng hoài nghi hơn. Có lẽ đấy hoàn toàn chỉ là ảo giác, tai tôi bắt được những tín hiệu từ một nơi khác, một thời gian khác. Và điều này có ý nghĩa - cái ý tưởng mọi người tụ tập trên đỉnh núi vào lúc một giờ đêm để chơi nhạc đúng là phi lý.

    Giữa bầu trời phía trên đỉnh đồi, vầng trăng bạc lờ mờ trông rất gần. Một quả cầu bằng đá cứng, lớp vỏ của nó bị ăn mòn bởi dòng thời gian tàn nhẫn. Những hình thù quái đản trên bề mặt của nó là các tế bào ung thư mù quáng đang vươn xúc tu về phía hơi ấm sự sống. Ánh trăng làm méo mó mọi âm thanh, tẩy sạch mọi ý nghĩa, ném mọi ý nghĩ vào hỗn loạn. Nó làm Miu thấy cái tôi thứ hai. Nó đưa con mèo của Sumire đến nơi nào đó. Nó khiến Sumire biến mất. Và nó mang tôi tới đây, ở giữa tiếng nhạc - gần như - chưa bao giờ tồn tại. Trước mặt tôi là bóng tối không đáy; sau lưng tôi, một thế giới của ánh sáng nhợt nhạt. Tôi đứng đây trên đỉnh đồi nơi đất khách quê người, tắm mình trong ánh trăng. Có lẽ tất cả chuyện này đã được lên kế hoạch tỉ mỉ ngay từ lúc bắt đầu.

    Tôi trở lại nhà nghỉ và uống cạn một cốc rượu mạnh của Miu. Tôi cố ngủ nhưng không thể. Không chợp mắt được. Cho đến khi trời Đông hửng sáng, tôi đã bị vây bủa bởi ánh trăng, trọng lực và một thứ xao động nào đó trong thế giới này.

    Tôi hình dung lũ mèo đang chết đói trong căn hộ đóng kín. Những con thú ăn thịt nhỏ bé, mềm mại. Tôi - cái tôi đích thực - đã chết, còn chúng vẫn sống, đang ngấu nghiến thịt da tôi, nhai tim tôi, hút máu tôi. Nếu lắng nghe thật chăm chú, tôi có thể thấy vẳng lại từ một nơi nào đó rất xa tiếng lũ mèo đang liếm não tôi. Ba con mèo nhỏ vây quanh cái đầu vỡ toác của tôi, húp xì xụp thứ chất lỏng xám mềm bên trong. Đầu những cái lưỡi đỏ, thô ráp của chúng liếm láp những nếp nhăn mềm của não bộ tôi. Cứ mỗi khi đầu lưỡi chúng liếm vào, suy nghĩ của tôi lại bốc hơi và tan biến như không khí nóng.

    --- hết chương 13 ---

  4. #34
    Cua Cua... bò bò...
    sarujun's Avatar


    Thành Viên Thứ: 74964
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 354
    Thanks
    1,183
    Thanked 499 Times in 202 Posts

    Người tình Sputnik - Chương 14



    Rốt cuộc chúng tôi không bao giờ biết được chuyện gì đã xảy đến với Sumire. Nói như Miu, cô ấy đã biến mất như một làn khói.

    Hai ngày sau Miu quay lại đảo trên chuyến phà trưa, đi cùng một nhân viên đại sứ quán Nhật Bản và một sĩ quan cảnh sát phụ trách các vấn đề về du lịch. Họ làm việc với đồn cảnh sát địa phương và bắt đầu cuộc điều tra toàn diện các cư dân trên đảo. Cảnh sát đã cho dán thông báo và đăng ảnh hộ chiếu phóng to của Sumire lên báo địa phương. Nhiều người được gọi hỏi nhưng không lần ra manh mối nào. Thông tin lúc nào cũng bị lái sang nói đến một người nào khác.

    Bố mẹ Sumire cũng đã đến đảo. Họ đến ngay khi tôi vừa rời đi. Năm học mới vẫn chưa bắt đầu, nhưng tôi không thể chịu nổi suy nghĩ phải đối diện với họ. Ngoài ra, giới truyền thông Nhật Bản cũng phong thanh nắm bắt được sự việc và đã bắt đầu liên lạc với đại sứ quán Nhật Bản và cảnh sát địa phương. Tôi bảo Miu là đã đến lúc tôi phải quay về Tokyo. Có ở lại đảo thêm nữa thì cũng chẳng giúp tìm được Sumire.

    Chị gật đầu. "Anh đã làm được rất nhiều rồi," chị nói. "Thật đấy. Nếu anh không đến thì tôi đã hoàn toàn thất bại. Đừng lo. Tôi sẽ nói rõ mọi chuyện với bố mẹ Sumire. Và tôi sẽ đối phó với cánh phóng viên. Mọi việc cứ để tôi. Anh không phải chịu trách nhiệm gì trong chuyện này cả. Tôi có thể khá tháo vát khi cần thiết, và có thể giữ vững lập trường của mình."

    Chị tiễn tôi ra cảng. Tôi đi chuyến phà chiều trở lại Rhodes. Vừa đúng mười ngày kể từ khi Sumire mất tích. Miu ôm tôi tạm biệt. Một cái ôm rất tự nhiên. Chị im lặng vòng tay qua lưng tôi một hồi lâu. Trời chiều vẫn nóng, nhưng da thịt chị mát mẻ một cách kỳ lạ. Tay chị đang cố gắng nói với tôi điều gì đấy. Tôi nhắm mắt lại, lắng nghe những lời nói đó. Không phải lời nói - một điều gì đó không thể kết thành ngôn ngữ. Trong sự im lặng của cả hai người, một điều gì đó đã xảy ra giữa chúng tôi.

    "Bảo trọng nhé," Miu nói.

    "Chị cũng vậy," tôi đáp. Chúng tôi đứng đó một lúc trước ván cầu.

    "Tôi muốn anh nói cho tôi một việc, thật chân thành," chị nghiêm trang nói ngay trước khi tôi lên phà. "Anh có tin là Sumire không còn sống không?"

    Tôi lắc đầu. "Tôi không chứng minh được, nhưng tôi cảm thấy cô ấy vẫn đang còn sống ở nơi nào đó. Ngay cả sau một quãng thời gian dài như thế này, tôi vẫn không có cảm giác cô ấy đã chết."

    Miu khoanh đôi cánh tay rám nắng trước ngực và nhìn tôi.

    "Thực sự tôi cũng cảm thấy thế," chị nói. "Rằng Sumire chưa chết. Nhưng tôi cũng cảm thấy mình sẽ không bao giờ gặp lại cô ấy nữa. Tuy nhiên tôi không thể chứng minh được gì."

    Tôi không nói một lời. Im lặng lại len vào choán đầy khoảng trống giữa mọi vật vây quanh chúng tôi. Đàn chim biển kêu quác quác trên đường cắt ngang bầu trời không gợn mây, và trong quán cà phê gã hầu bàn với vẻ lờ đờ muôn thưở đang thay khay đồ uống khác.

    Miu cắn môi trầm ngâm suy nghĩ. "Anh có ghét tôi không?" Cuối cùng chị hỏi.

    "Vì Sumire biến mất ư?"

    "Phải."

    "Tại sao tôi lại ghét chị?"

    "Tôi không biết." Giọng chị đượm nỗi mệt mỏi bị kìm nén lâu ngày. "Tôi cũng có cảm giác sẽ không bao giờ gặp lại anh. Vì vậy tôi đã hỏi."

    "Tôi không ghét chị," tôi đáp.

    "Nhưng ai có thể nói được chứ, biết đâu sau này thì sao?"

    "Tôi không ghét người ta vì những việc như vậy."

    Miu cởi mũ, nắn lại mép cho thẳng rồi lại đội lên. Chị liếc nhìn tôi.

    "Có lẽ bởi vì anh không chờ đợi bất kỳ điều gì từ bất kỳ ai," chị nói. Mắt chị sâu và trong sáng, giống như bóng tối lờ mờ ngày chúng tôi gặp nhau. "Tôi không giống thế. Tôi chỉ muốn anh biết tôi thích anh. Rất thích."

    Và chúng tôi chia tay nhau. Con phà lùi khỏi bến cảng, chân vịt khuấy tung mặt nước khi nó quay 180 độ để chuyển hướng; Miu đứng trên cầu tàu dõi theo tôi. Chị mặc một bộ đồ trắng bó sát người, tay thỉnh thoảng đưa lên giữ mũ khỏi bị gió thổi bay. Đứng trên cầu tàu của hòn đảo nhỏ Hy Lạp này, trông chị như đến từ một thế giới khác, mong manh, vô cùng xinh đẹp, duyên dáng. Tôi dựa lưng vào thành phà ngắm chị hồi lâu. Thời gian như ngưng đọng, cảnh tượng đó mãi mãi khắc sâu trong ký ức tôi.

    Nhưng thời gian lại bắt đầu chuyển động, hình dáng Miu càng lúc càng nhỏ hơn, đầu tiên là một chấm mờ, rồi mất hút trong không gian mờ ảo. Thị trấn xa dần, dãy núi hiện lên mờ nhạt, và cuối cùng cả hòn đảo lẫn vào ánh sáng, trở nên mơ hồ, và hoàn toàn biến mất. Một hòn đảo khác hiện ra thế vào chỗ đó rồi cũng lại biến vào xa xăm như thế. Thời gian trôi qua, tất cả những gì tôi đã bỏ lại phía sau đó dường như chưa bao giờ tồn tại.

    Có lẽ tôi nên ở lại với Miu. Năm học mới khai giảng thì có chuyện gì chứ? Tôi nên động viên Miu, làm tất cả những gì có thể để góp sức tìm kiếm, và nếu có chuyện gì khủng khiếp xảy ra tôi nên ôm lấy chị, trao cho chị sự an ủi mà tôi có thể. Miu muốn tôi, tôi tin như vậy, và trong chừng mực nào đó tôi cũng muốn chị.

    Chị đã nắm giữ trái tim tôi với một sức mạnh hiếm có.

    Tôi đã nhận ra toàn bộ điều này lần đầu tiên khi đứng trên phà quan sát chị biến vào cõi xa xăm. Trong tôi trào dâng niềm xúc động, như có hàng nghìn sợi chỉ đang trói buộc. Có lẽ không phải một tình yêu đang nở rộ, nhưng là một tình cảm rất gần như vậy. Tâm trạng rối bời, tôi ngồi xuống ghế phà, đặt túi đồ thể thao trên đầu gối, chăm chú nhìn đường rẽ nước màu trắng kéo dài sau đuôi phà. Bầy mòng biển bay sau con phà, bám theo đường rẽ nước. Tôi vẫn có thể cảm nhận được lòng bàn tay nhỏ bé của Miu áp lên lưng mình như cái bóng một linh hồn nhỏ bé.

    Tôi dự định bay thẳng về Tokyo, nhưng vì một số lý do vé nên tôi đặt ngay hôm trước đã bị hủy, và cuối cùng tôi phải qua đêm ở Athens. Tôi bắt chiếc xe buýt chạy tuyến đường ngắn của hãng hàng không và ở lại khách sạn trong thành phố mà họ giới thiệu. Một khách sạn ấm cúng, dễ chịu gần quận Plaka mà thật không may, chật ních khách du lịch Đức ồn ào. Chẳng biết làm gì, tôi lang thang quanh thành phố, mua vài thứ đồ kỷ niệm chưa biết để tặng ai và đến tối thì leo lên đỉnh đồi Acropolis. Tôi ngồi xuống một phiến đá phẳng, hứng ngọn gió mát hoàng hôn và ngắm nhìn ngôi đền màu trắng bồng bềnh trong ánh đèn pha xanh xanh. Một cảnh tượng đẹp như mơ.

    Nhưng tất cả những gì tôi cảm thấy là sự cô đơn không thể so sánh được. Trước khi tôi nhận biết được, thế giới xung quanh đã cạn kiệt mọi sắc màu. Từ trên đỉnh đồi hoang tàn, giữa đống đổ nát của những cảm giác trống vắng, tôi có thể nhìn thấy chính cuộc đời mình đang trải dài vào tương lai. Nó giống hệt hình minh họa trong cuốn tiểu thuyết khoa học giả tưởng tôi đọc hồi nhỏ: bề mặt tiêu điều của một hành tinh hoang vắng. Không có chút dấu hiệu nào của sự sống. Mỗi ngày dường như vô tận, không khí nếu không nóng như đang sôi lên thì cũng giá như băng. Phi thuyền chở tôi tới đây đã biến mất, và tôi bị kẹt lại. Tôi phải tự mình tìm cách sống sót.

    Tôi lại hiểu ra rằng đối với tôi Sumire quan trọng và không thể thay thế được như thế nào. Cô đã buộc tôi lại với thế giới này theo cách của cô. Khi tôi trò chuyện với cô hay đọc truyện của cô, tâm trí tôi lặng lẽ trải rộng ra, và tôi có thể nhìn thấy những điều trước đây chưa từng thấy. Chúng tôi trở nên thân thiết với nhau một cách tự nhiên. Giống như cặp tình nhân trẻ cởi quần áo trước mặt nhau, Sumire và tôi phơi bày trái tim mình cho nhau, một trải nghiệm tôi chưa từng có với bất kỳ ai, ở bất kỳ nơi nào khác. Chúng tôi quý trọng những gì chúng tôi có cùng nhau, dù không bao giờ nói thành lời chúng quý giá đến thế nào.

    Tất nhiên, thật đau khổ là chúng tôi không bao giờ yêu nhau bằng xác thịt. Nếu có thì hai đứa tôi sẽ càng thêm hạnh phúc. Nhưng điều đó cũng giống như con nước thủy triều, như sự đổi mùa - một thứ không thể thay đổi, một số phận bất di bất dịch mà chúng tôi không bao giờ có thể biến đổi. Dù có che chắn khéo léo thế nào, mối quan hệ mong manh của chúng tôi cũng không thể kéo dài mãi mãi. Chúng tôi buộc phải đương đầu với ngõ cụt. Điều đó chắc chắn đến đau đớn.

    Tôi yêu Sumire hơn bất cứ ai khác và muốn cô hơn bất kỳ thứ gì khác trên đời. Và tôi không thể phát triển những tình cảm này hơn chẳng qua là vì chúng không đưa tới đâu cả.

    Tôi mơ một ngày nào đó sẽ có sự biến đổi bất ngờ lớn lao. Ngay cả khi cơ hội để điều đó biến thành sự thực rất mong manh, tôi vẫn có thể được mơ, đúng không? Nhưng tôi biết nó sẽ không bao giờ thành sự thực.

    Giống như khi thủy triều rút xuống để lộ bãi biển trơ trụi, Sumire ra đi đã để tôi lại trong một thế giới trống vắng, méo mó. Một thế giới ảm đạm, lạnh lẽo, trong đó những gì tôi và Sumire từng có sẽ không bao giờ xảy ra nữa.

    Mỗi người chúng ta được số phận ban cho một điều đặc biệt mà chúng ta chỉ có được vào một thời điểm đặc biệt trong đời. Giống như một ngọn lửa nhỏ. Những người may mắn, thận trọng thì biết cách giữ gìn nó, khơi nó thành đống lửa to và lấy nó làm bó đuốc soi đường cho mình. Nhưng một khi để ngọn lửa tắt thì sẽ không bao giờ có lại được nữa. Tôi không chỉ mất Sumire. Tôi còn đánh mất cả ngọn lửa quý giá ấy.

    Cái phía bên kia, nó là gì? Sumire đã ở đấy, và phần bị mất của Miu cũng vậy. Miu với mái tóc đen và ham muốn tình dục lành mạnh. Có lẽ ở bên đấy họ đã gặp nhau, yêu nhau, thỏa mãn nhau. "Bọn tớ làm những thứ cậu không thể nói bằng lời được," có lẽ Sumire sẽ nói với tôi như vậy, nói thành lời chẳng có gì quan trọng cả.

    Ở đấy có chỗ cho tôi không? Tôi có thể ở cùng họ không? Trong khi họ đắm đuối yêu nhau, tôi sẽ ngồi ở một góc phòng nào đó và đọc Tuyển tập Balzac để giải trí. Khi cô tắm xong, Sumire và tôi sẽ đi dạo và nói đủ thứ chuyện - như thường lệ, Sumire nói là chính. Nhưng quan hệ của chúng tôi có kéo dài mãi mãi không? Nó có tự nhiên không?

    "Tất nhiên," Sumire sẽ nói với tôi. "Không cần phải hỏi thế. Vì cậu là người bạn duy nhất và chân thành nhất của tớ."

    Nhưng tôi không có bất kỳ manh mối nào cho biết làm sao đi sang thế giới ấy. Tôi chà mạnh mặt đá cứng nhẵn ở đền Acropolis. Lịch sử bao thế kỷ đã thấm qua mặt đá này và tụ lại bên trong. Dù muốn hay không, tôi cũng đã bị nhốt chặt trong dòng thời gian đó. Tôi không thể thoát ra được. Không, nói thế không hoàn toàn là sự thực. Sự thực là tôi thật sự không muốn thoát.

    Ngày mai tôi sẽ bay về Tokyo. Kỳ nghỉ hè sắp hết và tôi lại phải bước vào dòng chảy thường ngày bất tận. Chỗ của tôi là ở đó. Căn hộ của tôi ở đó, bàn làm việc của tôi, lớp của tôi, học sinh của tôi. Những tháng ngày lặng lẽ đang chờ đợi tôi, những cuốn sách để đọc. Mối tình thoảng qua.

    Nhưng ngày mai tôi sẽ là một con người khác, không bao giờ trở lại như cũ được nữa. Sẽ không ai nhận thấy điều đó khi tôi trở về Nhật Bản. Nhìn bề ngoài sẽ không có gì khác. Nhưng có thứ gì đó bên trong đã bùng cháy và biến mất. Máu đã chảy, và một thứ gì đó bên trong tôi đã tiêu tan. Mặt cúi xuống, không nói một lời, cái gì đó đã chết. Cửa mở ra, cửa khép lại. Đèn tắt. Đây là ngày cuối cùng dành cho cái người đang là tôi bây giờ. Hoàng hôn cuối cùng. Khi bình minh lên, cái tôi bây giờ sẽ không còn ở đây nữa. Một người khác sẽ nhập vào thân xác này.

    Vì sao mọi người cứ phải cô đơn như thế này? Mục đích của nó là gì? Hàng triệu con người trên thế giới này, tất cả đều đang mong mỏi khát khao, đang tìm kiếm những người khác để thỏa mãn mình nhưng lại tự họ cô lập họ. Vì sao? Có phải Trái đất sinh ra chỉ để nuôi dưỡng sự cô đơn của con người?

    Tôi nằm ngửa trên phiến đá, chăm chú nhìn trời và nghĩ về tất cả vệ tinh nhân tạo đang bay quanh Trái đất. Chân trời vẫn còn mờ sáng, những vì sao đã bắt đầu nhấp nháy trên bầu trời sâu thẳm nhuộm màu rượu vang. Tôi chăm chú quan sát tìm kiếm ánh sáng vệ tinh giữa các vì sao đó, nhưng trời vẫn còn quá sáng để có thể xác định được nó bằng mắt thường. Những ngôi sao thưa thớt dường như được ghim chặt vào vị trí, bất động. Tôi nhắm mắt, lắng nghe các thế hệ Sputnik đời sau cho đến tận bây giờ vẫn đang bay quanh Trái đất và chỉ có trọng lực là mối liên hệ duy nhất với hành tinh này. Những linh hồn đơn độc bằng kim loại bay trong bóng tối vũ trụ không có gì ngăn trở, chúng gặp nhau, lướt qua nhau và rẽ theo các hướng khác nhau, không bao giờ gặp lại. Không một lời trao đổi. Không một lời hứa hẹn.

    --- hết chương 14 ---

  5. #35
    Cua Cua... bò bò...
    sarujun's Avatar


    Thành Viên Thứ: 74964
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 354
    Thanks
    1,183
    Thanked 499 Times in 202 Posts

    Người tình Sputnik - Chương 15



    Chiều Chủ nhật, điện thoại kêu. Chủ nhật thứ hai sau khi năm học mới bắt đầu vào tháng Chín. Tôi đang chuẩn bị bữa trưa muộn và phải tắt bếp gas rồi mới trả lời. Tiếng chuông gần như khẩn cấp - ít nhất cũng có vẻ như vậy. Tôi tin chắc là Miu gọi để báo tin về nơi ở của Sumire. Tuy nhiên, không phải Miu gọi mà là bạn gái tôi.

    "Xảy ra chuyện rồi," chị nói ngay, không chào hỏi như thường lệ. "Anh đến đây ngay bây giờ được không?"

    Chuyện có vẻ đáng sợ. Có phải chồng chị đã biết về quan hệ của chúng tôi? Tôi hít một hơi thở sâu. Nếu mọi người phát hiện ra tôi ngủ với mẹ của một học sinh thì chắc chắn tôi sẽ gặp rắc rối to. Tình huống xấu nhất là tôi sẽ mất việc. Tuy nhiên, tôi đã sẵn sang chấp nhận chuyện đó. Tôi đã biết về các rủi ro rồi.

    "Chị đang ở đâu?" Tôi hỏi.

    "Ở siêu thị," chị nói.

    Tôi bắt chuyến tàu đến Tachikawa, xuống nhà ga cạnh siêu thị lúc 2h30. Buổi chiều vẫn nóng như thiêu, mùa hè lại quay trở lại, nhưng tôi mặc áo sơ mi trắng, quần xám nhạt và đeo cà vạt theo yêu cầu của chị. "Anh mặc thế trông ra dáng thầy giáo hơn," chị nói, "và anh sẽ gây ấn tượng tốt hơn. Đôi khi nhìn anh cứ như một cậu học sinh," chị nói thêm.

    Ở cửa ra vào của siêu thị, tôi hỏi một trợ lý trẻ đang đẩy xe hàng đường đến văn phòng an ninh. Anh ta cho tôi biết nó nằm ở bên kia đường, trên tầng ba nhà phụ, một ngôi nhà nhỏ ba tầng xấu xí đến thang máy cũng không có. Những vết nứt chạy dọc bức tường bê tong dường như đang nói, này, đừng có lo lắng về chúng tôi, dù sao đi nữa thì người ta cũng sắp kéo sập nơi này rồi. Tôi lao lên dãy cầu thang chật hẹp, cũ nát, tìm được cánh cửa đề chữ AN NINH và gõ nhẹ mấy tiếng. Một giọng đàn ông trầm đáp lại. Tôi mở cửa, nhìn thấy bạn gái mình và đứa con trai của chị đang ngồi trước bàn làm việc đối diện với một nhân viên an ninh trung niên mặc đồng phục. Chỉ có ba người bọn họ.

    Căn phòng kích thước vừa phải, không quá lớn, không quá nhỏ. Dọc cửa sổ kê ba chiếc bàn, một chiếc tủ sắt dựa lưng vào bức tường đối diện. Trên tường có bảng phân công nhiệm vụ và trên giá sắt đặt ba chiếc mũ của nhân viên an ninh. Phía sau cánh cửa kính mờ ở cuối phòng hình như có một phòng nữa, có lẽ là nơi nghỉ ngơi cho nhân viên. Căn phòng chúng tôi đang có mặt hầu như hoàn toàn không trang trí. Không hoa, không tranh, thậm chí đến lịch cũng không. Chỉ có một chiếc đồng hồ tròn to treo trên tường. Một căn phòng hoàn toàn trống trải, giống như một góc thế giới cổ xưa nào đó đã bị thời gian quên lãng. Thêm vào đó, nơi này toát ra một thứ mùi kỳ lạ - mùi của khói thuốc lá, tài liệu lưu cữu và mồ hôi trộn lẫn vào nhau qua bao nhiêu năm.

    Viên trưởng phòng an ninh là một người đàn ông mập mạp, tuổi ngoài năm mươi. Ông ta có đôi cánh tay lực lưỡng, cái đầu lớn phủ mái tóc muối tiêu thô dày được xịt thứ nước dưỡng tóc rẻ tiền, loại tốt nhất ông ta có thể mua với mức lương thấp của nhân viên an ninh. Cái gạt tàn trước mặt ông ta đầy ứ đầu mẩu thuốc lá Seven Star. Khi tôi bước vào phòng, ông ta gỡ chiếc kính gọng đen ra, lấy một mảnh vải lau lau rồi lại đeo vào. Có lẽ đấy là cách ông ta chào hỏi người mới đến. Khi bỏ kính ra, mắt ông ta lạnh như đá trên mặt trăng. Khi ông ta đeo kính trở lại thì sự lạnh lẽo không còn, thay vào đó là cái nhìn chằm chằm đầy vẻ dọa nạt. Nhưng có kính hay không thì cái nhìn của ông ta cũng không giúp cho người đối diện thấy thoải mái.

    Căn phòng nóng nực ngột ngạt; cửa sổ mở rộng nhưng không có chút gió nào lọt vào. Chỉ có tiếng ồn ào từ đường phố bên ngoài. Một chiếc xe tải to phanh kít lại vì đèn đỏ, tiếng phanh gợi tôi nhớ tới tiếng saxophone teno của Ben Webster những năm gần đây. Mọi người trong phòng đều đẫm mồ hôi. Tôi tiến lại bàn, tự giới thiệu, và đưa cho nhân viên an ninh danh thiếp của mình. Ông ta cầm lấy không nói một lời, mím môi, chăm chăm nhìn nó một lúc, rồi đặt lên trên bàn và ngước nhìn tôi.

    "Anh còn khá trẻ để làm thầy giáo đấy, đúng không," ông ta nói. "Anh dạy học được bao lâu rồi?"

    Tôi giả vờ suy nghĩ một chút rồi đáp, "Ba năm."

    "Hừm," ông ta nói. Và không nói bất kỳ điều gì khác. Nhưng sự im lặng đã nói một cách rất hùng hồn. Ông ta cầm tấm danh thiếp lên, đọc tên tôi lần nữa như thể đang kiểm tra lại điều gì đó.

    "Tôi là Nakamura, phụ trách văn phòng an ninh ở đây," ông ta tự giới thiệu. Ông ta không đưa danh thiếp của mình. "Cứ tự nhiên kéo lấy ghế nhé. Xin lỗi vì nóng quá. Điều hòa nhiệt độ bị hỏng, và Chủ nhật thì sẽ chẳng có ai đến sửa cả. Họ không đủ tử tế đến mức mang cho tôi một cây quạt, nên tôi đành ngồi chịu đựng vậy. Anh cứ cởi áo ngoài ra nếu muốn. Chúng ta có thể phải ở đây một lúc, và chỉ nhìn anh cũng làm tôi phát ngốt rồi."

    Tôi làm theo lời ông ta, kéo một chiếc ghế lại và cởi áo khoác ra. Chiếc áo sơ mi đẫm mồ hôi dính chặt vào da.

    "Anh biết đấy, lúc nào tôi cũng ganh tị với cánh giáo viên." Nhân viên an ninh lên tiếng. Một nụ cười thoáng qua hiện trên khóe môi, tuy nhiên đôi mắt với ánh nhìn như của loài động vật ăn thịt ngoài biển cả vẫn dò xét tận nơi sâu kín con người tôi để tìm kiếm một động thái mơ hồ nhất. Lời lẽ ông ta khá lịch sự nhưng chỉ bề ngoài thôi. Từ giáo viên nghe như xúc phạm.

    "Các anh có hơn một tháng hè nghỉ ngơi, chẳng phải làm đêm hay ngày Chủ nhật, lại luôn được mọi người quà cáp. Đời thế mới là đời. Đôi khi tôi ước chi mình học hành chăm chỉ hơn và chính mình cũng trở thành thầy giáo. Số phận nhảy vào can thiệp và tôi ở đây - một nhân viên an ninh siêu thị. Tôi biết, mình không đủ thông minh. Nhưng tôi đã bảo các con tôi lớn lên phải thành giáo viên. Tôi không quan tâm bất kỳ ai khác nói gì, giáo viên dễ dàng có được tất cả những gì họ cần."

    Bạn gái tôi mặc chiếc áo ngắn tay màu xanh giản dị. Tóc chị búi gọn gàng trên đỉnh đầu và chị đeo đôi hoa tai nhỏ. Đôi dép trắng cao gót, túi xách trắng, và trong lòng là chiếc khăn mùi xoa nhỏ màu kem. Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp lại nhau sau khi tôi từ Hy Lạp về. Chị đưa cặp mắt sưng húp vì khóc hêt nhìn tôi lại nhìn ông bảo vệ. Rõ ràng chị đang vô cùng căng thẳng.

    Chúng tôi trao đổi với nhau một ánh mắt vội vã, rôi tôi quay sang con chị. Tên nó là Shin';ichi Nimura, nhưng bọn bạn học đặt cho nó biệt danh Cà rốt. Với khuôn mặt dài, gầy gò và mớ tóc quăn bù xù, nó thật hợp với biệt danh đó. Tôi cũng thường gọi nó như vậy. Nó là đứa tre lặng lẽ, chỉ khi cần mới mở miệng. Nó học không tồi, ít khi quên làm bài tập và không đùn đẩy chuyện trực nhật lớp. Không bao giờ dính vào rắc rối. Nhưng nó thiếu tính chủ động, không bao giờ giơ tay phát biểu trong lớp. Bạn học của Cà rốt không ghét nó, nhưng nó cũng không được xếp vào loại được yêu mến. Mẹ nó không thích thế lắm, nhưng đứng từ quan điểm của mình thì tôi thấy nó là đứa ngoan.

    "Chắc anh đã nghe mẹ thằng bé cho biết chuyện gì xảy ra," nhân viên an ninh nói.

    "Vâng, tôi biết," tôi trả lời. "Nó bị bắt khi ăn cắp ở siêu thị."

    "Đúng vậy," ông ta nói và lấy một hộp các tông ở dưới chân đặt lên bàn. Ông ta đẩy nó về phía tôi. Trong hộp có mấy cái dập ghim nhỏ còn nguyên vỏ. Tôi cầm lên một cái xem xét. Mảnh giấy đề giá 850 yên.

    "Tám cái dập ghim. Đấy là tất cả?" Tôi hỏi.

    "Phải. Tất cả đấy."

    Tôi bỏ cái dập ghim trở lại hộp. "Như vậy tổng số tiền chỗ này là 6800 yên."

    "Chính xác. 6800 yên. Chắc anh đang nghĩ, ';Ồ, được thôi, nó đã ăn cắp. Đó là phạm tội, chắc chắn, nhưng chỉ tám cái dập ghim thì có gì mà làm căng thế? Nó chỉ là học sinh thôi mà.'; Tôi nói có đúng không?"

    Tôi không đáp.

    "Nghĩ thế cũng chẳng sao. Vì đó là sự thực. Còn có nhiều tội tệ hại hơn là việc lấy cắp tám cái dập ghim. Trước khi làm nhân viên an ninh, tôi đã từng là cảnh sát, vì thế tôi biết mình đang nói chuyện gì chứ."

    Khi nói, ông ta nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi chịu đựng cái nhìn đó, cẩn thận không tỏ vẻ thách thức.

    "Nếu đây là lần phạm tội đầu tiên của cậu ta thì cửa hàng chúng tôi cũng chẳng gây chuyện om sòm làm gì. Việc kinh doanh của chúng tôi là phải làm hài lòng khách hàng, và chúng tôi không muốn quá bận tâm đến một việc nhỏ nhặt như thế. Bình thường tôi sẽ dẫn đứa bé đến phòng này, răn đe cảnh cáo một chút. Vụ nào nghiêm trọng thì chúng tôi liên lạc với gia đình đề nghị họ trừng phạt con cái. Chúng tôi không báo cho nhà trường. Đó là chính sách của cửa hàng chúng tôi, giải quyết êm đẹp các vụ trẻ con ăn cắp.

    Vấn đề là, đây không phải lần đầu tiên thằng bé này ăn cắp. Chỉ riêng ở cửa hàng chúng tôi nó đã làm ba vụ rồi. Ba vụ! Anh có tưởng tượng được không? Điều tệ hại là trong hai vụ đầu nó không chịu cho chúng tôi biết tên hay trường nó học. Tôi là người xử lý việc này nên tôi nhớ rõ. Nó không hề hé răng, mặc cho chúng tôi ra sức căn vặn. Theo cách nói của cảnh sát, đó là thủ đoạn lì. Không hối hận, ăn năn, cứ trơ ra như đá. Lần này nếu nó vẫn không chịu cho biết tên thì tôi sẽ giải nó sang cảnh sát, nhưng thậm chí điều này cũng chẳng khiến nó có phản ứng gì. Chẳng thể làm gì khác, nên tôi đã ép nó phải đưa thẻ xe buýt ra, nhờ đó tôi mới biết được tên nó."

    Ông ta dừng lời, chờ cho tôi ngấm hết những điều vừa nói. Mắt ông ta vẫn chĩa vào tôi và tôi tiếp tục chịu đựng cái nhìn đó.

    "Vấn đề khác là những thứ nó ăn cắp. Chẳng có gì khôn ngoan cả. Lần đầu nó lấy cắp mười lăm cái bút bi. Tổng số tiền là 9750 yên. Lần thứ hai tám cái compa, thành tiền là 8000 yên. Không cần phải nói cũng thấy, lần nào nó cũng lấy trộm một đống đồ cùng loại. Nó không dùng cho mình. Nó làm thế chỉ để tiêu khiển, hoặc định đem đến trường bán cho bạn bè."

    Tôi thử hình dung cảnh Cà rốt đem những cái dập ghim ăn cắp ra bán cho bạn bè trong giờ ăn trưa ở trường nhưng không thể hình dung nổi.

    "Tôi không hiểu," tôi nói. "Tại sao lại chỉ lấy cắp trong một cửa hàng thôi?" tôi nói. "Không phải nguy cơ bị tóm là rất cao sao, và hình phạt sẽ nặng hơn. Nếu muốn tránh bị tóm thì không phải theo lẽ thông thường anh sẽ thử ở các cửa hàng khác sao?"

    "Đừng có hỏi tôi. Có lẽ nó cũng đã lấy cắp ở các cửa hàng khác. Hoặc cũng có thể tình cờ nó thích cửa hàng chúng tôi. Có thể nó không thích mặt nhân viên an ninh bình thường cho siêu thị, hơi đâu dính vào những chuyện rắc rối. Tiền người ta trả cho tôi không đủ để làm việc đó. Nếu anh thật sự muốn biết thì cứ tự mình hỏi nó đi. Tôi lôi nó về đây đã ba tiếng đồng hồ mà cấm thấy nó hó hé gì. Thật kỳ lạ. Cho nên tôi mới kéo anh đến đây. Tôi xin lỗi vì đã bắt anh đến vào ngày nghỉ...Nhưng ngay khi anh mới bước vào tôi đã băn khoăn một chuyện. Anh trông có vẻ rám nắng. Chuyện này chẳng liên quan gì đến công việc ở đây, nhưng có phải anh vừa đi nghỉ hè ở nơi nào đó đặc biệt?"

    "Không, không có nơi đặc biệt nào cả."

    Tuy vậy, người nhân viên bảo vệ vẫn nhìn tôi soi mói, như thể tôi là một phần quan trọng trong câu đố này.
    Tôi lại cầm cái dập ghim lên quan sát kỹ. Chỉ là một cái dập ghim nhỏ bình thường thuộc loại văn phòng phẩm rẻ tiền có thể thấy ở bất cứ ngôi nhà hay công sở nào. Một đồ văn phòng phẩm rẻ tiền. Nhân viên an ninh ngậm một điếu Seven Star, châm thuốc bằng chiếc bật lửa Bic rồi nghiêng sang một bên nhả khói mù mịt.
    Tôi quay sang đứa bé nhẹ nhàng hỏi: "Sao lại là dập ghim?"

    Cà rốt nãy giờ đang nhìn xuống sàn nhà, giờ lặng lẽ ngẩng mặt lên nhìn tôi. Nhưng nó không nói gì. Lần đầu tiên tôi để ý thấy vẻ mặt nó thay đổi hoàn toàn: vẻ thẫn thờ kỳ lạ, mắt nhìn vào vô định. Nó như đang nhìn vào khoảng không.
    "Ai bắt em làm thế?"

    Vẫn không có câu trả lời. Thật khó đoán biết được nó có hiểu tôi nói gì không. Tôi bỏ cuộc. Hỏi đứa bé bất kỳ điều gì vào lúc này đều không có kết quả. Cửa ra vào của nó đã đóng, cửa chính đã khép.

    "Vậy đấy, thưa thầy, bây giờ chúng ta phải làm gì đây?" Nhân viên an ninh hỏi tôi. "Việc của tôi là rảo quanh cửa hàng, kiểm tra máy theo dõi, tóm bọn trộm cắp và giải chúng về căn phòng này. Còn sau đó thế nào lại là chuyện hoàn toàn khác. Đặc biệt khó xử lý khi nó là trẻ con. Theo anh chúng ta phải làm gì đây? Tôi chắc anh thông thạo về vấn đề này hơn chúng tôi. Chúng ta có nên giao vụ này lại cho cảnh sát không? Làm thế chắc chắn sẽ dễ dàng hơn cho tôi. Dù sao đi nữa thì bơi đứng chỉ làm chúng ta phí thời gian thôi."

    Nói thực thì lúc này đầu óc tôi đang mải nghĩ chuyện khác. Cái phòng an ninh nhỏ bé buồn thảm của siêu thị này gợi tôi nhớ đến đồn cảnh sát trên hòn đảo Hy Lạp. Và ý nghĩ tức khắc hướng về Sumire. Về việc cô đã biến mất.

    Tôi phải mất một lúc mới hiểu nhân viên an ninh đang cố nói gì với mình.

    "Tôi sẽ báo cho bố nó biết." mẹ Cà rốt nói bằng giọng đều đều. "Và đảm bảo cho con tôi biết một cách dứt khoát rằng ăn cắp hàng trong siêu thị là một tội lỗi. Tôi hứa nó sẽ không làm phiền ông lần nào nữa."

    "Thế nghĩa là chị không muốn đưa vụ này ra tòa. Chị đã nói thế hết lần này đến lần khác rồi," nhân viên an ninh nói giọng mệt mỏi. Ông gảy tàn thuốc vào chiếc gạt tàn. Ông ta lại quay sang tôi nói: " Nhưng với tôi thì ba lần phạm lỗi là đủ lắm rồi. Ai đó phải chấm dứt việc này chứ. Anh nghĩ sao về chuyện này?"

    Tôi hít một hơi thở sâu, kéo tâm trí mình quay lại hiện thực. Quay lại với tám cái dập ghim và chiều Chủ nhật tháng Chín.

    "Tôi chưa thể nói gì chừng nào chưa trò chuyện được với cậu ta," tôi đáp. "Nó à một đứa bé thông minh, và từ trước đến nay chưa có gì sai phạm. Tôi không biết vì sao nó lại làm một chuyện khờ dại như vậy nhưng tôi sẽ dành thời gian tìm hiểu ngọn ngành. Tôi thực sự xin lỗi vì tất cả rắc rối nó đã gây ra."

    "Tôi thật không thể nào hiểu được," nhân viên an ninh nói, đôi lông mày cau lại sau cặp kính râm. "Cậu bé này - Shinichi Nimura hả? Học sinh của anh đúng không? Anh gặp nó hàng ngày, đúng không?"

    "Đúng vậy."

    "Nó học lớp bốn, thế nghĩa là nó đã ở trong lớp của anh một năm bốn tháng. Tôi nói đúng chứ?"

    "Vâng, đúng vậy. Tôi dạy các trò này tử hồi lớp ba."

    "Lớp anh có bao nhiêu học sinh?"

    "Ba mươi lăm."

    "Vậy thì anh có thể để mắt đến tất cả bọn chúng. Anh vừa bảo tôi anh chưa bao giờ thấy nó có biểu hiện sai phạm gì. Hoàn toàn không có biểu hiện gì?"

    "Đúng vậy."

    "Gượm đã - theo chỗ chúng tôi biết, trong vòng nửa năm cậu ta đã thực hiện ba vụ ăn cắp. Luôn luôn một mình. Chẳng ai bắt nó làm việc đó cả. Cũng không phải do sự thúc ép của hoàn cảnh. Nó cũng không làm vì tiền. Theo lời mẹ nó thì bao giờ trong túi nó cũng đầy tiền. Như vậy nó ăn cắp chỉ để mà ăn cắp. Nói cách khác là thằng bé này có vấn đề. Và anh nói với tôi không hề có bất kỳ dấu hiệu nào sao?"

    "Ở đây tôi đang nói với tư cách thầy giáo," tôi đáp, nhưng đặc biệt với trẻ em, thói quen lấy cắp đồ trong cửa hàng không phải là hành động phạm tội mà chỉ là hệ quả của sự mất cân bằng về tình cảm khó phát hiện. Có thể nếu quan tâm hơn thì tôi đã để ý thấy một điều gì đó. Đây quả là lỗi của tôi. Nhưng với những đứa trẻ bị rối loạn về mặt tình cảm thì không phải lúc nào cũng có biểu hiện ra bên ngoài. Nếu ông tách riêng hành động này ra khỏi những thứ khác và trừng phạt đứa trẻ thì vẫn không giải quyết được vấn đề cơ bản. Trừ khi ông tìm ra nguyên nhân cơ bản và chữa trị tận gốc, nếu không thì vấn đề đó về sau sẽ lại nổi lên dưới một hình thức khác. Thường thì khi thực hiện việc ăn cắp bọn trẻ muốn gửi đi một thông điệp, vì vậy nếu không phải là cách hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề thì việc dành thời gian chuyện trò với chúng cũng là điều quan trọng."

    Nhân viên an ninh giụi điếu thuốc, hơi há miệng, nhìn tôi chằm chằm một hồi lâu như thể tôi là một con vật kỳ quái. Ngón tay ông ta đặt trên mặt bàn mập mạp khủng khiếp, giống như mười con vật lông lá màu đen. Càng nhìn chúng tôi càng thấy khó thở.

    "Đấy là điều người ta dạy anh ở trường hả, có phải các anh gọi nó là kỹ năng sư phạm hay cái gì đại loại thế?"
    "Không nhất thiết. Đó là kiến thức tâm lý học cơ bản. Ông có thể đọc thấy trong bất kỳ cuốn sách nào."
    "Có thể đọc thấy trong bất kỳ cuốn sách nào," ông ta nhắc lại lời tôi bằng một giọng lờ phờ. Ông ta cầm chiếc khăn tay lên lau mồ hôi trên chiếc cổ dày."

    "Sự mất cân bằng về tình cảm khó phát hiện - cái đó có nghĩ là gì vậy? Hồi còn làm cảnh sát, suốt từ sáng đến tối, ngày nào tôi cũng tiếp xúc với những người mất cân bằng về tình cảm, đúng vậy. Nhưng chẳng có gì là khó phát hiện cả. Thế gian đầy những kẻ như thế. Vô thiên. Nếu tôi giành thời gian nghe mọi thông điệp mà họ gửi đi thì tôi có đến mười bộ óc cũng không đủ."

    Ông ta thở dài và đặt lại hộp dập ghim xuống dưới bàn.

    "Phải, anh hoàn toàn đúng. Trẻ em là những tâm hồn trong sáng. Trừng phạt về mặt thể xác với chúng là không được. Mọi người đều bình đẳng. Không thể xét đoán con người bằng học vấn. Dành thời gian trò chuyện để tìm cách giải quyết vấn đề. Tôi không phản đối việc đó. Nhưng anh có nghĩ nhờ thế mà thế giới trở nên tốt hơn không? Không hề. Nó chỉ xấu đi thôi. Làm sao mọi người có thể bình đẳng với nhau được? Tôi chưa từng nghe thấy một điều như thế. Nghĩ mà xem - ngày nào ở cái nước Nhật này cũng có đến 110 triệu người chen chúc. Làm cho tất cả bọn họ bình đẳng. Họa có mà địa ngục."

    "Nói những lời ngọt ngào thì dễ lắm. Mắt nhắm lại, vờ như không thấy những chuyện đang xảy ra, và tha hồ ba hoa. Giữ không khí yên ả, hát bài "Auld Lang Syne," trao bằng tốt nghiệp cho học sinh, và tất cả mọi người sống hạnh phúc mãi mãi về sau. Ăn cắp hàng hóa là thông điệp của trẻ em. Không cần biết những chuyện về sau. Cách này dễ quá, vậy tại sao không chứ? Nhưng ai sẽ dọn dẹp quang cảnh bừa bộn? Những người như tôi, thế đấy. Anh nghĩ chúng tôi làm việc đó vì ý thích à? Anh mang cái bộ mặt này - 6800-yên-thì-có-gì-chứ? Nhưng hãy nghĩ đến những người bị nó ăn cắp. Ở đây có hàng trăm con người làm việc và anh hãy tin là họ rất coi trọng việc sai lệch một hay hai yên. Khi họ đưa biên lai vào máy tính tiền mà thấy có chênh lệch 100 yên thì họ sẽ ngồi lại đến tận đêm khuya để kiểm tra lại tất cả. Anh có biểt ở siêu thị này các cô thu ngân nhận được bao nhiêu một giờ không? Sao anh không dạy điều đó cho học sinh của anh?"

    Tôi không nói gì. Mẹ của Cà rốt im lặng, thằng bé cũng vậy. Nhân viên an ninh mệt lử sau khi nói và lại chìm vào im lặng. Ở phòng bên có tiếng điện thoại và ai đó đã nhấc máy lên ngay từ hồi chuông đầu tiên.

    "Vật thì, chúng ta nên làm gì đây?"

    "Treo ngược nó lên trần nhà cho đến khi nó biết nhận lỗi thì sao," tôi nói.

    "Ý hay đấy! Vì anh biết cả hai chúng ta sẽ chẳng làm được gì cả."

    "Rồi, vậy thì điều duy nhất chúng ta có thể làm là kiên nhẫn thảo luận vấn đề. Tôi không nghĩ ra được ý nào nữa."

    Có người từ phòng bên gõ cửa bước vào. "Ông Nakamura, cho tôi mượn chìa khóa nhà kho được không." Ông Nakamura lục ngăn kéo bàn một lúc những không tìm thấy.

    "Nó biến mất rồi," ông ta nói. "Lạ thật. Tôi luôn để nó ở đây mà."

    "Chuyện rất quan trọng đấy, tôi cần chìa khóa ngay," người đàn ông kia nói. Nghe cách họ trao đổi với nhau thì thấy có vẻ như chiếc chìa khóa đó rất quan trọng và dường như ngay từ đầu nó đã không nằm ở đây. Họ xới tung tất cả các ngăn kéo bàn nhưng vẫn không tìm thấy.

    Suốt thời gian đó ba chúng tôi vẫn ngồi yên lặng. Đôi lần mẹ Cà rốt đảo mắt sang phía tôi. Cà rốt vẫn ngồi vô cảm như trước, mắt cắm xuống đất. Đầu óc tôi ngổn ngang những ý nghĩ không đầu không cuối. Căn phòng vẫn nóng khủng khiếp.

    Người đàn ông cần chìa khóa bỏ cuộc, cằn nhằn khi bỏ đi.

    "Thôi, đủ rồi," ông Nakamura quay sang chúng tôi, nói bằng giọng sự vụ khô khan. "Cám ơn anh đã đến. Chúng ta kết thúc ở đây. Việc còn lại tùy anh và mẹ đứa bé giải quyết. Nhưng phải biết rằng nếu nó tái phạm thì không xong với tôi đâu. Tôi hy vọng anh hiểu điều đó. Tôi không muốn gặp bất cứ rắc rối nào. Nhưng tôi phải làm công việc của minh."

    Mẹ cậu bé gật đầu, tôi cũng vậy. Cà rốt thì vẫn như không nghe thấy gì. Tôi đứng lên, hai mẹ con mệt mỏi cũng đứng lên theo.

    "Một điều cuối cùng," nhân viên an ninh nói, vẫn ngồi yên. "Tôi biết thế này là khiếm nhã, nhưng dù sao tôi cũng vẫn cứ nói. Ngay lúc nhìn thấy anh tôi đã cảm thấy có điều gì đó bất an. Anh trẻ trung, cao ráo, dễ ưa, da rám nắng, nói năng mạch lạc. Mọi điều anh nói đều hoàn toàn có ý nghĩa. Tôi chắc phụ huynh học sinh rất quý anh. Tôi không biết nói sao, nhưng ngay lần đầu tiên nhìn thấy anh, ở anh đã có điều gì đó khiến tôi băn khoăn. Điều gì thì tôi cũng không cắt nghĩa được. Không phải chuyện riêng tư đâu, xin anh đừng bực mình. Chỉ là một cái gì đó khiến tôi lo lắng thôi. Nhưng tôi không hiểu nó là gì mà giày vò tôi như vậy?"

    "Ông có phiền không nếu tôi đặt cho ông một câu hỏi riêng tư?"

    "Cứ hỏi đi."

    "Nếu mọi người không bình đẳng thì bản thân ông đứng ở đâu?"

    Ông Nakamura hít một hơi thuốc lá, lắc đầu, rồi chầm chậm nhả khói ra, như thể đang bắt ai đó làm một việc gì. "Tôi không biết," ông đáp. "Nhưng anh đừng lo. Hai chúng ta trình độ khác nhau."

    Bạn gái tôi đậu chiếc Toyota Celica màu đỏ trong bãi xe siêu thị. Tôi gọi chị sang bên cách xa đứa bé rồi bảoo chị về nhà một mình.

    "Tôi cần nói chuyện riêng với nó một lúc, rồi sẽ đưa nó về nhà sau." Chị gật đầu. Chừng như chị còn muốn nói điều gì đó với tôi, những lại thôi, ngồi vào xe, lấy kính râm ra đeo và nổ máy.

    Khi chị đã lái xe đi, tôi đưa Cà rốt vào một quán cà phê náo nhiệt tôi thấy ở gần đó. Tôi ngồi thư giãn trong phòng có điều hòa nhiệt độ, gọi cho mình một cốc trà đá và cho đứa bé một cốc kem. Tôi mở cúc áo trên, cởi cà vạt nhét vào túi quần. Cà rốt vẫn giữ thái độ im lìm. Vẻ mặt và ánh mắt nó không hề thay đổi kể từ khi chúng tôi ở phòng bảo vệ. Trông nó trống rỗng như đang lạc vào một chốn nào. Đôi tay nhỏ bé để ngay ngắn trên đầu gối, mắt nhìn xuống sàn, nó cố quay mặt đi. Tôi uống trà đá, nhưng Cà rốt không động đến cốc kem của nó. Kem đang từ từ tan ra trong đĩa, nhưng nó cũng chẳng có vẻ gì là chú ý. Chúng tôi ngồi đối diện nhau trong im lặng như một cặp vợ chồng đang cùng chia sẻ sự im lặng kỳ quặc. Cô phục vụ quán mỗi khi đến bàn chúng tôi dọn dẹp lại tỏ ra căng thẳng.

    "Mọi chuyện cứ thế xảy ra," cuối cùng tôi lên tiêng. Tôi cố gắng phá vỡ sự im lặng. Lời lẽ cứ tự trong lòng trào ra,
    Cà rốt chậm chạp ngước đầu lên quay về phía tôi. Nó không nói gì. Tôi nhắm mắt, thở ra, ngừng một lát.

    "Chuyện này thấy chưa kể với ai, đó là dịp hè này thầy đi đến Hy Lạp. Em có biết Hy Lạp ở đâu không? Chúng ta đã biết nước này qua băng video xem trong giờ học xã hội ở lớp, chắc em còn nhớ. Nó nằm ở miền Nam châu Âu, giáp Địa Trung Hải. Ở đó có nhiều hòn đảo và người ta trồng nhiều ôliu. Năm trăm năm trước công nguyên nền văn minh Hy Lạp đã phát triển rực rỡ. Athens là cái nôi của dân chủ, và Socrates đã phải uống thuốc độc chết. Đấy là nơi thầy đã đến. Một chỗ tuyệt đẹp. Nhưng thầy không đến đấy để nghỉ ngơi. Một người bạn của thầy bị mất tích trên một hòn đảo nhỏ ở Hy Lạp nên thầy đến để giúp tìm kiếm. Nhưng không tìm thấy gì cả. Bạn thầy đã lặng lẽ tan biến. Như một làn khói."

    Cà rốt khẽ nhếch miệng, nhìn tôi. Vẻ mặt nó vẫn bất động, thiếu sinh khí, nhưng trong mắt như đã có ánh sáng. Tôi đã lay động được nó.

    "Thầy thật sự thích người bạn này của mình. Rất, rất yêu. Với thầy, đó là người quan trọng hơn hết thảy mọi thứ trên đời. Vì vậy thầy đã bay sang hòn đảo Hy Lạp đó để tìm kiếm. Nhưng không ích lợi gì cả. Thầy không tìm thấy một manh mối nào. Từ khi mất đi người bạn đó, thầy không còn bạn nào nữa. Không một ai hết."

    Tôi không với Cà rốt mà là nói với chính mình. Nghĩ to lên thành tiếng.

    "Em có biết bây giờ thầy muốn làm gì nhất không? Trèo lên đỉnh một nơi thật cao như kim tự tháp. Nơi cao nhất thầy có thể tìm thấy. Nơi em có thể nhìn được xa nhất. Đứng trên đỉnh cao đó, ngắm nhìn xung quanh, tự mắt mình thấy toàn bộ phong cảnh, thấy những cái đã lìa khỏi thể giới. Thầy không biết nữa...Có thể là thầy thực sự không muốn thấy thế. Có thể thầy không muốn thấy thêm bất cứ cái gì nữa."

    Cô phục vụ đi đến dọn đĩa kem đã tan ra của Cà rốt và để lại tờ biên lai.

    "Từ hồi nhỏ thầy đã luôn thấy mình cô độc. Thầy có bố mẹ và chị gái nhưng thầy không hợp với họ. Thầy không thể nói chuyện được với bất kỳ ai trong gia đình. Cho nên thầy thường tưởng tượng mình là con nuôi. Vì một lý do nào đó, một người họ hàng xa nào đó đã bỏ lại thầy cho gia đình thầy. Hoặc cũng có thể bố mẹ thầy nhận thầy từ trại trẻ mồ côi. Bây giờ thì thầy nhận ra ý nghĩ đó ngu ngốc đến thế nào. Bố mẹ thầy không phải loại người có thể nhận trẻ mồ côi về nuôi dạy. Nhưng thầy vẫn không thể chấp nhận được thực tế là mình cùng huyết thống với họ. Nghĩ rằng họ hoàn toàn là những người xa lạ giúp thầy thấy nhẹ nhõm hơn.

    Thầy hình dung ra một thị trấn ở nơi xa. Nơi đó có ngôi nhà gia đình thực sự của thầy sinh sống. Chỉ là một ngôi nhà nhỏ bình dị nhưng ấm áp và mến khách. Mọi người đều có thể hiểu nhau, có thể nói bất kỳ điều gì mình thích. Chiều chiều có thể nghe tiếng mẹ chuẩn bị bữa tối trong bếp, ngửi thấy mùi thơm ngon lành của thức ăn. Đấy mới đúng là nơi thầy thuộc về. Thầy luôn hình dung ra nơi đó trong tâm trí, và thầy là một phần trong bức tranh đó.

    Trong cuộc sống thật, gia đình thầy nuôi một con chó và đó là người bạn duy nhất của thầy. Nó là giống chó lai, khá lanh lợi; dạy nó điều gì là nó nhớ ngay. Hàng ngày thầy dắt nó đi dạo, khi đến công viên, thầy sẽ ngồi lên ghế và nói đủ thứ trên đời. Thầy và nó rất hiểu nhau. Đấy là những giờ khắc hạnh phúc nhất của thầy hồi nhỏ. Khi thầy lên lớp năm thì con chó bị một chiếc xe tải cán chết ở gần nhà. Từ đấy bố mẹ thầy không cho thầy mua con khác nữa. Họ bảo giống cho bẩn thỉu, ầm ĩ, chỉ tổ làm quẩn chân, rách việc.

    Sau khi mất con chó, thầy ở lì trong phòng đọc sách. Đối với thầy thế giới trong sách dường như sống động hơn bên ngoài nhiều. Thầy có thể nhìn thấy những điều thầy chưa bao giờ thấy trước đó. Sách và âm nhạc là những người bạn thân thiết của thầy. Ở trường thầy cũng có đôi ba người bạn, nhưng thầy chưa gặp được ai để có thể dốc bầu tâm sự. Với những người bạn ở trường thì thầy chỉ trò chuyện qua loa và cùng đá bóng vậy thôi. Khi có chuyện buồn phiền thầy chẳng tìm đến ai cả. Thầy chỉ tự mình suy nghĩ, tự mình quyết định, tự mình hành động. Không phải thầy không cảm thấy lẻ loi. Thầy nghĩ cuộc đời là vậy. Xét cho cùng, làm người là phải tự mình chống chọi với cuộc đời này.

    Nhưng khi vào đại học thầy gặp người bạn vừa kể em nghe vậy là thầy phải thay đổi suy nghĩ. Thầy hiểu ra rằng thói quen lâu nay tự mình nghĩ ngợi mọi việc chỉ khiến mình thu mình lại, nhìn sự vật chỉ bằng con mắt của một người. Và thầy bắt đầu cảm thấy chỉ có một mình lẻ loi là điều cô độc khủng khiếp.
    Cô độc là cảm giác như khi đứng ở cửa một con song lớn vào một chiều mưa nhìn dòng nước trôi ra biển. Em đã bao giờ làm thế chưa? Đứng ở cửa một con sông lớn và nhìn dòng nước trôi ra biển?"

    Cà rốt không đáp.

    "Thầy đã từng làm thế," tôi nói.

    Cà rốt mở to mắt nhìn tôi.

    "Thầy không thể nói vì sao lại cảm thấy cô độc đến vậy khi nhìn nước sông hòa vào nước biển. Nhưng nó thực sự là thế. Em cũng nên thử một lần xem."

    Tôi cầm áo vét và biên lai tính tiền chậm rãi đứng lên. Tôi đặt một tay lên vai Cà rốt, nó cũng nhỏm dậy. Hai chúng tôi rời khỏi quán cà phê.

    Từ quán cà phê về nhà đứa bé mất khoảng nửa giờ đi bộ. Chúng tôi cùng nhau đi, tôi không nói một lời nào.
    Bên cạnh nhà là một con sông nhỏ với chiếc cầu bê tông bắc qua. Gọi là sông thì hơi quá, đó chỉ là một con mương được khơi rộng. Có lẽ khi quanh đây còn là đồng ruộng thì nó được dùng để tưới tiêu. Bây giờ nước đã đục ngầu, bốc mùi xà phòng giặt. Cỏ hè mọc giữa lòng sông, có một cuốn truyện tranh ai vứt xuống nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Cà rốt đi đến giữa cầu, nghiêng mình qua thành cầu ngó xuống dưới. Tôi đứng cạnh nó cũng đưa mắt nhìn theo. Cả hai đứng thế hồi lâu. Có lẽ nó không muốn về nhà. Tôi có thể hiểu điều đó.

    Cà rốt sục tay vào túi quần lôi ra một chiếc chìa khóa đưa cho tôi. Đó là một cái chìa bình thường có dán mảnh giấy đỏ to. Trên mảnh giấy đề KHO 3. Đấy là chiếc chìa khóa kho mà ông nhân viên an ninh Nakamura tìm kiếm hồi nãy. Chắn hẳn khi bị bỏ lại một mình trong phòng một lúc, Cà rốt thấy nó trong ngăn kéo bàn và đút ngay vào túi. Đầu óc cậu bé này bí ẩn hơn tôi tưởng. Nó quả là đứa trẻ lạ lùng.

    Tôi cầm chiếc chìa để lên lòng bàn tay, cảm thấy sức nặng của bao người đã thấm vào nó. Trước mắt tôi nó hiện ra khốn khổ, bẩn thỉu, ti tiện. Ngẫm nghĩ giây lát, tôi thả chiếc chìa xuống sông. Một tiếng tõm vọng lên. Sông không sâu nhưng nước đục nên chiếc chìa khóa biến mất tăm. Tôi và Cà rốt đứng sát bên nhau nhìn xuống nước một lúc. Không biết vì sao nhưng nó làm tôi có cảm giác vui vẻ, cơ thể nhẹ bẫng.

    "Quá muộn để lấy lại nó rồi," tôi nói với chính mình hơn là với cậu bé. "Thầy nghĩ là họ còn có một chiếc chìa khóa dự phòng ở đâu đó. Sau cùng thì đấy là kho hàng quý của họ mà."

    Tôi chìa tay ra và Cà rốt nhẹ nhàng nắm lấy. Tôi cảm nhận được những ngón tay mảnh khảnh, nhỏ bé của nó trong tay mình. Một cảm giác tôi đã từng trải qua - không còn nhớ ở đâu - nhiều năm trước. Tôi siết chặt tay nó và hai thầy trò rảo bước về nhà.

    Khi chúng tôi bước vào nhà thì mẹ nó đang ngồi đợi. Chị đã thay đồ, mặc áo khoác trắng không tay và váy xếp nếp. Cặp mắt chị sưng đỏ. Hẳn là chị đã khóc một mình sau khi về tới nhà. Chồng chị có một công ty bất động sản ở Tokyo nên ngày nghỉ vẫn thường vắng nhà, hoặc là đi làm việc, hoặc là đi chơi gôn. Chị dẫn Cà rốt về phòng nó ở tầng một, sau đó đưa tôi vào bếp thay vì vào phòng khách, và chúng tôi ngồi vào bàn ăn. Có lẽ ở đây chị dễ nói chuyện hơn. Trong bếp có một tủ lạnh to màu xanh lế, một cái bàn tròn đặt ở giữa, và một cửa sổ sáng hướng về phía Đông.

    "Nó trông khá hơn lúc trước một chút," chị nói khẽ. "Chứ khi vừa thấy nó ở phòng bảo vệ tôi thật không biết phải làm gì. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó như vậy cả. Cứ như nó đang ở một thế giới nào khác."

    "Chị không cần phải lo lắng đâu. Chỉ cần có thời gian là nó sẽ trở lại bình thường. Tốt nhất bây giờ chị đừng nói gì với nó cả. Cứ để nó ở một mình."

    "Anh và cháu làm gì khi tôi đi?"

    "Hai chúng tôi nói chuyện."

    "Chuyện gì vậy?"

    "Chuyện vặt thôi. Chủ yếu là tôi nói. Không có gì quan trọng đâu."

    "Anh uống chút nước lạnh nhé?"

    Tôi lắc đầu.

    "Tôi không biết nói chuyện với nó như thế nào nữa," chị nói. "Và cái cảm giác ấy càng lúc càng mạnh hơn."
    "Không cần phải ép mình nói chuyện với nó. Trẻ em có thế giới riêng của chúng. Khi nào nó muốn nói chuyện, nó sẽ nói."

    "Nhưng nó ít khi nói lắm."

    Chúng tôi ngồi đối diện nhau hai bên bàn và cố tránh chạm vào người nhau trong khi nói chuyện. Cuộc nói chuyện này nghiêm túc đúng tinh thần thầy giáo gặp phụ huynh bàn việc của học sinh. Khi nói, bàn tay chị hết xoắn vào lại mở ra, có lúc nắm chặt lại. Tôi nghĩ về những điều mà đôi tay này của chị đã làm với tôi trên giường.

    Tôi sẽ không báo cáo chuyện này với nhà trường, tôi bảo chị. Tôi đã trò chuyện thân mật với nó, và nếu có điều gì xảy ra thì tự tôi sẽ giải quyết. Chị đừng lo nghĩ quá. Con chị là một cậu bé ngoan ngoãn, thông minh, rồi thời gian sẽ giúp nó trưởng thành. Đây chỉ là một giai đoạn nó phải trải qua. Điều quan trọng nhất đối với chị là phải bình tĩnh. Tôi chậm rãi, nhẹ nhàng nhắc đi nhắc lại những điều vừa nói, cốt để chị nghe rõ. Hình như thế chị bớt lo được phần nào.
    Chị nói chị sẽ lái xe chở tôi về căn hộ của mình ở Kunitachi.

    "Anh có nghĩ con trai tôi cảm thấy điều gì không?" Chị hỏi khi xe dừng lại trước đèn giao thông. Tất nhiên, ý chị muốn nói tới quan hệ giữa hai chúng tôi.

    Tôi lắc đầu. "Sao chị nói thế?"

    "Khi ở nhà một mình chờ anh và nó về, tự nhiên tôi nghĩ vậy. Chẳng có bằng cớ gì cả. Nhưng nó là đứa rất nhạy cảm, nên tôi tin là nó nhận biết được vợ chồng tôi đang có vấn đề."

    Tôi ngồi im. Chị cũng không nói gì thêm.

    Chị cho xe đi vào bãi đậu ngay phía sau ngã ba nơi tòa nhà tôi ở tọa lạc. Chị kéo phanh tay và tắt máy. Động cơ im tiếng, máy điều hòa cũng tắt, một sự im lặng khó chịu bao trùm lên chiếc xe. Tôi biết chị muốn tôi ôm lấy chị ở đây ngay lúc này. Nghĩ tới tấm thân mềm mãi của chị dưới chiếc áo khoác miệng tôi trở nên khô khốc.

    "Tôi nghĩ tốt hơn là chúng ta không nên gặp nhau nữa," tôi nói thẳng điều mình nghĩ.

    Chị không nói gì. Tay vẫn để trên vôlăng, chị nhìn chằm chằm về hướng cái đồng hồ đo xăng. Gần như tất cả những biểu hiện trên khuôn mặt dần biến mất.

    "Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều này," tôi nói tiếp. "Tôi không nghĩ mình đúng là một phần nguyên nhân của vấn đề.

    Tôi không thể tìm ra cách giải quyết vấn đề nếu như tôi lại là một phần của vấn đề. Như thế tốt hơn cho mọi người."
    "Mọi người ư?"

    "Đặc biệt cho con trai chị."

    "Cả cho anh nữa chứ?"

    "Phải, tất nhiên rồi."

    "Thế còn tôi thì sao? Nó có bao gồm cả tôi không?"

    Có chứ, tôi muốn nói vậy. Nhưng tôi không thể thốt ra lời. Chị tháo chiếc kính Raybans màu xanh sẫm ra, sau lại đeo vào.

    "Nói ra điều này thật chẳng dễ chút nào, nhưng nếu tôi không gặp anh nữa thì sẽ thật khó khăn với tôi," chị nói.

    "Tôi cũng cảm thấy khó khăn. Tôi rất muốn mọi việc cứ diễn ra như hiện nay. Nhưng như thế không đúng."
    Chị thở dài.

    "Đúng nghĩa là gì? Anh thử nói xem. Tôi thật sự không biết đúng là gì. Tôi biết cái gì là sai. Nhưng đúng là thế nào?"
    Tôi không có câu trả lời thỏa đáng.

    Có vẻ như chị sắp khóc. Hay là sắp hét toáng lên. Nhưng rồi bằng cách nào đó chị kìm lại được. Các ngón tay chị bấu chặt vào vôlăng, mu bàn tay đỏ ửng cả lên.

    "Hồi còn trẻ ai cũng thích nói chuyện với tôi," chị kể. "Nói đủ thứ. Những câu chuyện hấp dẫn có, vui vẻ có, lạ lùng có. Nhưng đến một lúc nhất định thì không ai nói gì với tôi nữa. Không một ai. Chồng không nói, con không nói, bạn bè không nói...Không ai cả. Như là trên thế gian này không còn gì đáng nói nữa. Đôi khi tôi cảm thấy cơ thể mình thành vô hình giống như anh có thể nhìn xuyên qua tôi."

    Chị nhấc tay khỏi vôlăng và giơ ra trước mặt.

    "Mặc dù không phải là anh sẽ hiểu những điều tôi cố nói."

    Tôi cố tìm lời lẽ thích hợp để đáp lại nhưng không tìm ra.

    "Cám ơn anh rất nhiều về mọi chuyện xảy ra ngày hôm nay," chị nói khi bình tĩnh lại. Giọng chị gần như đã bình thường, bình tĩnh trở lại. "Một mình tôi thì không thể xoay xở được. Thật khó khăn với tôi. May mà có anh đến giúp.

    Tôi rất biết ơn. Tôi nghĩ anh sẽ là một thầy giáo tuyệt với. Anh gần như đã trở thành như thế rồi."

    Chị châm chọc gì mình chăng? - tôi thầm nghĩ. Có thể lắm. Không - nhất định không.

    "Chưa đâu chị ạ," tôi nói. Chị khẽ nhếch mép cười. Cuộc nói chuyện của chúng tôi kết thúc ở đó.

    Tôi mở cửa xe bước ra ngoài. Cái nắng của chiều hè đã dịu đi đáng kể. Nhưng tôi cảm thấy khó thở, và khi tôi đứng đó, đôi chân tôi thật xa lạ. Chiếc Celica nổ máy và chị đi khỏi đời tôi vĩnh viễn. Chị hạ kính xe xuống, vẫy nhẹ tay chào tôi, tôi đưa tay chào đáp lại.

    Quay lên phòng mình tôi cởi chiếc áo sơ mi ướt đẫm mồ hôi cho vào máy giặt, rồi đi tắm, gội đầu. Xong xuôi tôi vào bếp, làm nốt bữa ăn đang chuẩn bị dở dang và ngồi ăn. Sau đó tôi thả mình vào ghế bành giở cuốn sách vừa mới lấy ra đọc. Nhưng tôi không đọc quá được năm trang. Gấp sách lại giữa chừng, tôi nghĩ một lúc về Sumire. Về chiếc chìa khóa nhà kho tôi đã thả xuống dòng sông bẩn thỉu. Về đôi tay chị bạn nắm chặt vôlăng. Quả là một ngày dài, và nó cuối cùng đã kết thúc, chỉ để lại phía sau những ký ức hỗn độn. Tôi đã tắm rửa kỳ cọ hồi lâu mà mùi thuốc lá vẫn bám đầy cơ thể. Tay tôi vẫn còn cảm giác rõ ràng như thể tôi đã vắt hết sự sống ra khỏi một cái gì đó.

    Tôi đã làm điều đúng chăng?

    Tôi không nghĩ thế. Tôi chỉ làm cái cần thiết cho tôi mà thôi. Đó là sự khác biệt lớn. Mọi người ư? Chị ấy hỏi. Có tôi trong đấy không?

    Thực ra lúc đó tôi không phải nghĩ về mọi người. Tôi chỉ nghĩ về Sumire. Không phải về tất cả những người ở đó hay tất cả chúng tôi ở đây.

    Chỉ về Sumire, người không ở đâu cả.

    --- hết chương 15 ---

  6. #36
    Cua Cua... bò bò...
    sarujun's Avatar


    Thành Viên Thứ: 74964
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 354
    Thanks
    1,183
    Thanked 499 Times in 202 Posts

    Người tình Sputnik - Chương 16



    Tôi không nghe được chút gì từ Miu kể từ khi chúng tôi chia tay nhau ở bến cảng trên hòn đảo Hy Lạp. Điều này khiến tôi thấy lạ vì chị đã hứa là sẽ liên lạc với tôi bất luận có tin gì mới về Sumire hay không. Tôi không thể tin là chị đã quên tôi; chị không phải loại người hứa rồi bỏ đó. Chắc phải có chuyện gì khiến chị không liên lạc được với tôi. Tôi tính gọi điện cho chị nhưng mà nào tôi có biết tên thật, tên công ty hay địa chỉ văn phòng chị. Giống như Miu đã lo lắng, Sumire không để lại một manh mối nào.

    Điện thoại của Sumire cài máy trả lời tự động, nhưng ít lâu sau đã bị cắt. Tôi nghĩ đến việc gọi điện cho gia đình của cô. Nhưng tôi không biết số, dù chịu khó tra cuốn danh bạ điện thoại Yokohama thì sẽ tìm được số điện thoại phòng răng của bố cô. Nhưng tôi phân vân rồi thôi. Thay vào đó tôi đi vào thư viện tìm xem các báo ra tháng Tám. Có một mẩu báo nhỏ về cô, về một cô gái Nhật Bản hai mươi hai tuổi đi du lịch ở Hy Lạp và bị mất tích. Chính quyền sở tại đã điều tra, tìm kiếm cô. Nhưng không lần ra manh mối nào. Thế thôi. Tôi chẳng biết thêm tin gì mới. Khách du lịch ra nước ngoài vẫn thường có những người bị mất tích. Cô chỉ là một người trong số đó.

    Tôi thôi không theo dõi tin tức nữa. Cho dù lý do cô mất tích là gì, cho dù việc điều tra tiến hành ra sao, có một điều chắc chắn: nếu Sumire trở về nhất định cô sẽ liên lạc với tôi. Đấy là điều quan trọng nhất.

    Tháng Chín đến và đi, mùa thu trôi qua trước khi tôi kịp nhận ra, và mùa đông ập tới. Ngày 2 tháng Mười một là sinh nhật lần thứ hai mươi ba của Sumire, còn ngày 9 tháng Mười hai là sinh nhật lần thứ hai mươi lăm của tôi. Năm mới đến và sau đó năm học kết thúc. Cà rốt không gây ra vụ nào nữa, được lên lớp năm, vào năm học mới. Sau hôm đó tôi không bao giờ nhắc lại với nó chuyện ăn cắp trong siêu thị. Cứ mỗi lần gặp nó tôi lại thấy việc đó không cần thiết.
    Do nó đã có một giáo viên mới nên tôi ít có dịp gặp mẹ thằng bé - bạn gái cũ của tôi. Mọi điều đều đã qua chẳng còn gì nữa. Mặc dù đôi khi tôi lại nhớ cồn cào làn da ấm áp của chị, và tôi đã định nhấc máy gọi. Nhưng đến phút chót tôi lại thôi vì tôi nhớ đến cảm giác về chiếc chìa khóa nhà kho siêu thị. Về buổi chiều hè ấy. Và về bàn tay nhỏ bé của Cà rốt trong tay tôi.

    Mỗi khi gặp Cà rốt ở trường tôi vẫn không ngăn nổi ý nghĩ nó là đứa bé lạ lùng. Tôi không đủ sức hiểu được, những ý nghĩ nào ẩn sau bộ mặt gầy guộc, bình thản của nó. Nhưng chắc chắn có những điều đang diễn ra dưới vẻ ngoài điềm nhiên đó. Và khi bị thúc đẩy, nó sẽ dám hành động. Tôi còn có thể cảm nhận được cái gì đó rất sâu trong con người nó. Tôi tin mình đã đúng khi kể cho nó nghe những tình cảm thầm kín của mình khi hai thầy trò ngồi trong quán cà phê. Đó là điều tốt cho cả nó và tôi. Có lẽ cho tôi nhiều hơn. Nói ra điều này có vẻ hơi lạ lùng, nhưng khi đó nó đã hiểu tôi và chấp nhận tôi. Và thậm chí tha thứ cho tôi. Ít nhất là trong chừng mực nào đó.

    Những tháng ngày nào - những tháng ngày như vô tận của thời thanh thiếu niên - mà những đứa trẻ như Cà rốt phải trải qua để thành người lớn? Thật không dễ dàng cho chúng. Khoảng thời gian khó khăn sẽ nhiều hơn khoảng thời gian dễ dàng. Từ kinh nghiệm riêng của mình, tôi có thể thấy trước sự đau đớn chúng phải trải qua. Liệu nó có yêu một ai đó không? Và liệu người đó có đáp lại tình yêu của nó? Tôi có lo nghĩ mấy cũng chẳng ích gì. Học hết tiểu học nó sẽ học tiếp lên, sẽ rời khỏi đây, và tôi sẽ không bao giờ gặp nó nữa. Vả lại tôi cũng đang có những vấn đề của riêng mình.

    Tôi đi vào cửa hàng nhạc mua một đĩa Elisabeth Schwarzkopf hát các bài của Mozart và nghe đi nghe lại mãi. Tôi thích những bài ca êm đềm đó. Nhắm mắt nghe nhạc tôi như thấy mình trôi về lại cái đêm ấy trên hòn đảo Hy Lạp.
    Ngoài một vài ký ức rất sâu sắc, trong đó phải kể đến niềm ham muốn mãnh liệt vào cái ngày tôi giúp Sumire chuyển nhà, thì tất cả những gì mà cô để lại chỉ còn là mấy bức thư dài và một cái đĩa mềm. Tôi đã đọc đi đọc lại các bức thư và hai tài liệu ghi trong đĩa nhiều lần tới mức hầu như thuộc lòng chúng. Lần nào đọc tôi cũng lại thấy như tôi và Sumire đang ở bên nhau, tâm hồn hai đứa hòa quyện vào nhau. Cảm giác đó sưởi ấm trái tim tôi hơn bất kỳ thứ gì khác. Giống như khi bạn đang ngồi trên chuyến tàu đêm băng qua bình nguyên mênh mông chợt bắt gặp một ánh đèn nhỏ bên cửa sổ nhà một người nông dân. Thoáng chốc nó đã lại chìm sâu vào đêm tối và biến mất. Nhưng nếu bạn khép mắt lại thì điểm sáng đó vẫn còn lưu lại cùng bạn, rất hiếm hoi thôi, chỉ trong vài khoảng khắc.

    Tôi thức giấc lúc nửa đêm và ra khỏi giường (đằng nào thì tôi cũng không ngủ lại được), nằm xuống trường kỷ và tìm lại trong trí nhớ hình ảnh hòn đảo nhỏ Hy Lạp trong khi lắng nghe Schwarzkopf. Tôi nhớ lại từng sự kiện một, lặng lẽ lật giở từng trang ký ức của mình. Bãi biển vắng vẻ dễ chịu, quán cà phê ngoài trời tại bến cảng. Chiếc áo đẫm mồ hôi của người hầu bàn. Khuôn mặt nhìn nghiêng duyên dáng của Miu, mặt biển Địa Trung Hải lấp lánh nhìn từ hàng hiên ra. Bức tượng người anh hùng bất hạnh bị cọc đâm xuyên tại quảng trường thị trấn. Và bản nhạc Hy Lạp tôi nghe thấy vọng từ đỉnh đồi đêm ấy. Tôi như sống lại với ánh trăng ma quái, tiếng vọng kỳ quái của thứ nhạc đó. Với cảm giác tách lìa khỏi mình mà tôi đã trải qua khi được tiếng nhạc đánh thức. Với nỗi đau vô hình thù, phi thực, như con dao nhọn dai dẳng chậm rãi đâm xuyên qua cơ thể tôi.

    Tôi cứ nằm đó, nhắm mắt lại một lúc rồi mở ra. Tôi lặng lẽ hít vào rồi thở ra. Một ý nghĩ đang dần hình thành trong đầu tôi, nhưng cuối cùng tôi lại chẳng nghĩ về điều gì cả. Không phải vì có sự khác nhau lớn giữa hai việc đó, nghĩ và không nghĩ. Tôi thấy mình không còn phân biệt nổi cái này và cái kia, cái tồn tại và cái không tồn tại. Tôi nhìn ra cửa sổ. Trời đang dần sáng, mây trôi lững lờ, chim hót líu lo, một ngày mới đang đến, gom lại mọi ý nghĩ, tình cảm của những con người sống trên hành tinh này. Có một lần tại trung tâm Tokyo tôi thoáng thấy Miu. Đó là vào một ngày Chủ nhật ấm áp giữa tháng Ba, khoảng sáu tháng sau khi Sumire biến mất. Những đám mây sà xuống che phủ bầu trời, trông như thể trời sẽ mưa bất cứ lúc nào. Mọi người đi đường đều cầm ô. Tôi đang trên đường đến thăm một người bà con sống ở trung tâm và khi dừng lại chỗ trạm đèn giao thông ở Hiroo, tại khoảng giữa các khu nhà cạnh cửa hàng Meidi-ya, tôi bắt gặp một chiếc Jaguar màu xanh nước biển đang lăn bánh giữa dòng xe cộ đông đúc. Tôi đang ngồi trong taxi và chiếc Jaguar ở làn đường bên trái tôi. Tôi để ý chiếc xe vì người lái là một phụ nữ có bờm tóc trắng đầy kinh ngạc Nhìn từ xa, mái tóc trắng của chị ta tương phản rõ rệt với màu xanh sẫm của chiếc xe. Tôi chỉ mới nhìn thấy Miu với tóc đen nên phải một lúc sau tôi mới nhập được Miu này với Miu tôi biết thành một người. Nhưng đấy đích thị là chị ấy. Chị vẫn đẹp như tôi vẫn nhớ, một vẻ đẹp hiếm có và kỳ lạ. Mái tóc trắng đến nghẹt thở khiến người ta phải tránh xa chị và có một làn không khí dường như là thần thoại bao quanh.

    Nhưng Miu trước mặt tôi không phải người phụ nữ tôi đã vẫy tay tạm biệt tại bến cảng trên hòn đảo Hy Lạp. Chỉ mới nửa năm trôi qua mà chị trông đã ra một người khác. Tất nhiên tóc chị đã đổi màu. Nhưng không chỉ là thế.

    Một cái vỏ rỗng! Đấy là những từ đầu tiên hiện ra trong óc tôi. Chị giống như một ngôi nhà rỗng không sau khi mọi người đã bỏ đi cả. Một điều gì đó quan trọng - chính cái điều đã cuốn Sumire như một cơn lốc, đã làm run rẩy trái tim tôi khi tôi đứng trên phà - đã biến khỏi Miu vĩnh viễn. Cái còn lại phía sau không phải là cuộc sống, mà là sự thiếu vắng cuộc sống. Không còn hơi ấm của sự sống, mà là sự im lặng của ký ức. Mái tóc bạc trắng của chị khiến tôi không khỏi không nghĩ đến màu sắc của những bộ xương người bị thời gian làm cho trắng hếu. Tôi lặng người một lúc.
    Chiếc Jaguar Miu lái khi thì vượt lên chiếc taxi tôi đi, khi thì lùi lại phía sau, nhưng Miu không nhận thấy tôi đang quan sát chị ở gần bên. Tôi không thể gọi chị được. Tôi không biết phải nói gì, mà nếu có nói được, thì cửa xe Jaguar cũng đóng kín. Miu ngồi thẳng người, hai tay đặt lên vôlăng, chăm chú nhìn phía trước xe. Có thể chị đang cố tập trung suy nghĩ điều gì đó. Cũng có thể chị đang nghe bản "Art of the Fugue" trên máy nghe nhạc trong xe. Suốt quãng thời gian đó vẻ mặt lạnh lùng, nghiêm khắc của chị không hề thay đổi, chị cũng hiếm khi chớp mắt. Cuối cùng đèn xanh cũng bật, chiếc Jaguar lao về hướng Aoyama, để lại phía sau chiếc taxi chở tôi chờ rẽ phải.

    Vậy đó chính là cách sống của chúng ta. Bất kể sự mất mát tàn khốc và sâu sắc đến thế nào, bất kể những thứ bị cướp khỏi chúng ta - những thứ bị giật khỏi tay chúng ta - quan trọng đến thế nào, ngay cả khi chúng ta đã hoàn toàn thay đổi tới mức chỉ còn là một lớp da của chính mình trước đây, chúng ta vẫn tiếp tục sống cuộc sống của mình theo cách này, trong im lặng. Chúng ta kéo lại gần hết mức khoảng thời gian được dành cho chúng ta, rồi rời xa nó khi nó lùi lại phía sau. Cứ lặp đi lặp lại hàng ngày tới mức điêu luyện cái động tác liên tục đó. Để lại đằng sau một cảm giác trống rỗng vô biên.

    Vì lý do gì đấy mà tuy đã quay về Nhật Bản nhưng Miu không thể liên lạc với tôi. Thay vào đó chị giữ im lặng, chôn chặt các ký ức của mình, tìm một chốn xa xôi, hẻo lánh ẩn thân. Đấy là tôi hình dung thế. Tôi không cho như vậy là trách cứ chị. Mà tôi cũng không thù ghét chị.

    Lúc này chợt hiện ra trước mắt tôi hình ảnh bức tượng đồng của bố Miu tại một làng miền núi nhỏ bé ở Triều Tiên. Tôi hình dung ra một quảng trường nhỏ, một dãy nhà thấp và bức tượng đồng phủ bụi. Nơi đây gió luôn thổi mạnh, vặn cong cây cối thành những hình thù kỳ dị. Chẳng hiểu sao trong tâm trí tôi bức tượng đồng đó và Miu với đôi tay đặt trên vôlăng chiếc Jaguar nhập vào thành một.

    Có lẽ ở một nơi xa xôi, tất cả mọi thứ đã lặng lẽ mất đi từ lúc nào rồi. Hay ít ra là có một nơi yên tĩnh, ở đó mọi vật có thể biến mất khi hòa lẫn vào nhau thành một hình thù đơn lẻ, chồng chéo. Và khi chúng ta sống cuộc sống của chúng ta là chúng ta khám phá - bằng cách kéo về phía mình những sợi chỉ mảnh gắn với mỗi người - những gì đã mất đi. Tôi nhắm mắt cố nhớ lại xem trong rất nhiều những cái mất mát đẹp đẽ kia, cái nào là của mình. Kéo chúng lại gần hơn, giữ lấy chúng. Trong khi biết rằng cuộc sống của chúng đã trôi qua.

    Tôi mơ. Đôi khi tôi nghĩ đó là điều đúng duy nhất cần làm. Mơ tức là sống trong thế giới của những giấc mơ, Sumire đã nói vậy. Nhưng việc đó không kéo dài được lâu. Sự tỉnh táo luôn luôn đến đưa tôi về.

    Tôi thức giấc lúc ba giờ sáng, bật đèn, ngồi dậy và nhìn chiếc điện thoại để cạnh giường. Tôi hình dung cảnh Sumire đứng trong bốt điện thoại, châm thuốc và bấm số máy phòng tôi. Tóc cô rối tung, chiếc áo vét đàn ông to quá cỡ, tất thì lệch đôi. Cô tư lự, hơi bị sặc khói thuốc. Phải mất một lúc lâu cô mới quay được đúng số máy. Đầu óc cô chất chứa nhiều chuyện muốn nói với tôi. Cô có thể nói chuyện đến tận sáng, ai biết được? Về sự khác nhau giữa biểu tượng và dấu hiệu chẳng hạn. Chiếc điện thoại của tôi có vẻ như sắp rung lên. Nhưng nó không rung. Tôi nằm xuống nhìn chăm chăm vào chiếc điện thoại câm lặng.

    Nhưng có một lần nó đã đổ chuông. Nó thực sự đổ chuông ngay trước mặt tôi. Làm cho bầu không khí của thế giới thực sự run rẩy, lung lay. Tôi cầm ngay ống nghe.

    "Alô?"

    "Này, tớ đã về" - Sumire nói. Rất bất chợt. Rất thực. "Không dễ dàng, nhưng chẳng hiểu sao tớ vẫn về được. Giống như bản tóm tắt trong năm mươi từ truyện Odyssey của Homer."

    "Tốt lắm," tôi nói. Nhưng tôi vẫn bán tín bán nghi. Tôi đã nghe thấy giọng nói của cô. Chuyện đang xảy ra là thực.

    "Tốt lắm?" Sumire nhắc lại lời tôi, và tôi gần như thấy được vẻ mặt cô đang nhăn nhó. "Cậu nói thế là ý chết tiệt gì vậy? Tớ đã vượt qua cả một địa ngục đáng nguyền rủa, cậu phải biết thế. Những trở ngại tớ phải vượt qua có đến hàng triệu, nếu đem tất cả ra kể thì chẳng bao giờ hết, tớ đã về được đây, vậy mà cậu có thể nói với tớ như thế sao? Tớ nghĩ mình sắp khóc rồi. Nếu việc tớ trở về là không tốt, thì tớ sẽ bị bỏ lại ở đâu đây? Tốt lắm. Tớ không tin vào tai mình nữa. Hãy giữ lấy câu cảm thán chân tình, dí dỏm ấy cho các học sinh của cậu - khi cuối cùng chúng cũng biết làm phép toán số học!"

    "Bây giờ cậu đang ở đâu?"


    "Tớ ở đâu á? Cậu nghĩ là tớ ở đâu? Ở trong cái bốt điện thoại cũ kỹ, trung thành của chúng ta. Một cái bốt điện thoại hình vuông bẩn thỉu bên trong dán đầy quảng cáo của các hãng cho vay rởm và các dịch vụ quay số trả tiền. Trên trời treo mảnh trăng bán nguyệt mờ mờ, dưới sàn đầy mẩu thuốc lá. Nhìn xung quanh thì chán ngắt, chẳng có gì sưởi ấm lòng. Một cái bốt điện thoại có thể hoán đổi được, hoàn toàn mang tính ký hiệu. Nhưng nó nằm ở đâu? Tớ không biết đích xác. Mọi vật xung quanh đều quá mang tính ký hiệu, và cậu biết tớ rồi còn gì. Đến quá nửa thời gian tớ không biết mình đang ở đâu. Tớ không chỉ hướng được. Các tài xế taxi luôn luôn hét vào mặt tớ: "Này quý cô, cô đang cố đi đến cái nơi quái quỷ nào vậy?" Có lẽ tớ không ở xa cậu quá đâu. Tớ nghĩ là rất gần thôi."

    "Tớ sẽ đến đón cậu."

    "Tớ thích thế. Tớ sẽ coi mình đang ở đâu rồi gọi lại cho cậu. Dù sao, tớ cũng gọi sắp hết tiền lẻ rồi. Đợi chút nhé."

    "Tớ muốn gặp cậu kinh khủng." tôi nói.

    "Tớ cũng vậy, rất muốn gặp cậu. Khi không thể gặp cậu được nữa tớ mới hiểu ra điều đó. Nó rõ ràng như là các hành tinh bỗng nhiên xếp hàng diễu hành trước mặt tớ. Tớ thực sự cần cậu. Cậu là một phần của tớ; tớ là một phần của cậu. Cậu còn nhớ ở đâu đó - ở đâu tớ không chắc nữa - tớ đã định cắt họng một cái gì đấy. Mài sắc dao, tim sắt đá. Một cách biểu tượng, giống như làm cổng thành ở Trung Hoa. Cậu hiểu tớ nói gì chứ?"

    "Tớ nghĩ là hiểu."

    "Vậy thì đến đây đón tớ đi."

    Đột nhiên điện thoại cắt. Vẫn cầm ống nghe trong tay, tôi nhìn chằm chằm nó hồi lâu. Dường như bản thân chiếc điện thoại là một thông điệp quan trọng, dường như hình thù và màu sắc của nó có chứa đựng một ý nghĩa ẩn giấu bên trong. Hồi tĩnh lại, tôi để ống nghe về chỗ. Tôi ngồi dậy trên giường chờ chuông reo lần nữa. Tựa lưng vào tường, tôi chú tâm vào cái điểm duy nhất trong không gian nằm trước mặt tôi, và hít thở chậm rãi, nhẹ nhàng. Tôi canh chừng các điểm nối giữa các khoảng thời gian. Điện thoại không reo. Một bầu im lặng tuyệt đối treo lơ lửng trong không trung. Nhưng tôi không vội vàng. Không cần phải hấp tấp. Tôi đã sẵn sang. Tôi có thể đi đến bất kỳ đâu.

    Đúng vậy không?

    Đúng thế!

    Tôi ra khỏi giường. Tôi kéo tấm màn cũ kỹ, phai màu sang một bên và mở cửa sổ. Tôi thò đầu ra ngoài nhìn lên trời. Trên trời đúng là có mảnh trăng bán nguyệt mờ mờ. Tốt! Như vậy là cả hai chúng tôi cùng nhìn mảnh trăng này, cùng ở trong thế giới này. Chúng tôi nối với thực tại bằng cùng một sợi chỉ. Bây giờ tôi chỉ việc lặng lẽ kéo sợi chỉ đó về phía mình.

    Tôi xòe các ngón tay ra và chăm chú nhìn vào hai lòng bàn tay, tìm kiếm vết máu. Không có vết nào. Không có mùi máu, không có máu đông. Chắc hẳn máu theo cách lặng lẽ riêng của nó đã thấm vào trong.

    Chữ ký của sarujun
    thèm chè ngõ chợ...

Trang 4/4 đầuđầu 1 2 3 4

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Trả lời: 14
    Bài mới gởi: 27-01-2014, 07:01 PM
  2. Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 24-01-2014, 09:47 PM
  3. [Truyện Dài] Rừng Nauy - Murakami Haruki (full)
    By minhthang6 in forum Văn Học
    Trả lời: 29
    Bài mới gởi: 08-11-2013, 09:00 PM
  4. Trả lời: 1
    Bài mới gởi: 23-11-2011, 02:09 PM
  5. Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 01-11-2011, 11:20 AM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •