bái viết quá là good job giờ mới thấy![]()
hồi xưa TOKYO mà bị wăng bom nữa thì giờ chắc hết luôn nước Nhật rồi


bái viết quá là good job giờ mới thấy![]()
hồi xưa TOKYO mà bị wăng bom nữa thì giờ chắc hết luôn nước Nhật rồi


Hồ sơ mã số JPN016
Tiết lộ kế hoạch nghiên cứu bom nguyên tử của Nhật Bản trong Thế chiến II
Khi Lục quân Nhật (lúc này Không quân Nhật đã được quy về Lục quân) tiến hành nghiên cứu hạt nhân, thì Hải quân nước này cũng bắt đầu chương trình nghiên cứu bom nguyên tử của riêng mình.
Giáo sư Yoshio Nishina.
Trước khi chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra, người đầu tiên trong giới quan chức cao cấp quân đội Nhật Bản rất hứng thú với bom nguyên tử là tướng Takeo Yasuda. Sau khi tốt nghiệp Trường đại học Tokyo, Nhật, ông từng đảm nhiệm chức Chủ nhiệm Sở Nghiên cứu Công nghệ hàng không của Lục quân, sau đó được thăng làm Tổng Tham mưu trưởng Không quân Nhật. Takeo Yasuda hết sức quan tâm đến tình hình phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực quân sự ở nước ngoài, đặc biệt là lĩnh vực nguyên tử hạt nhân.
Lục quân và Hải quân Nhật Bản cùng tham gia nghiên cứu
Tháng 4/1940, sau khi nhận thấy phản ứng nhiệt hạch có một tiềm lực quân sự cực kỳ lớn, Takeo Yasuda đã đến đặt vấn đề với thầy dạy của mình là Giáo sư Ryokichi. Ryokichi cũng đã từng đến Mỹ, qua đó quen biết được với một số nhà khoa học vật lý trẻ tuổi, nên ông ta hiểu khá rõ về tình hình phát triển mới nhất của Vật lý hạt nhân trên thế giới lúc bấy giờ.
Trước yêu cầu của Takeo Yasuda, Ryokichi viết một bản báo cáo tỉ mỉ về những phát triển mới nhất của vật lý hạt nhân cũng như những ứng dụng to lớn của nó trong lĩnh vực quân sự.
Sau khi nhận được bản báo cáo này, Hideki Tojo, một quan chức cấp cao trong Lục quân đã lệnh cho các chuyên gia Nhật tiến hành nghiên cứu. Tháng 5/1941, Takeo Yasuda chỉ thị cho Phòng Nghiên cứu Vật lý hóa học Nhật Bản tiến hành thảo luận về khả năng nghiên cứu chế tạo bom Uranium, do Giáo sư Yoshio Nishina, chuyên gia về Vật lý hạt nhân phụ trách.
Trong phòng thí nghiệm của mình ở Tokyo, Giáo sư Yoshio đã chế tạo thành công một máy gia tốc cộng hưởng từ loại nhỏ, sau đó theo bản thiết kế được nhà Vật lý học người Mỹ Ernest Lawrence tặng, ông cũng đã chế tạo được chiếc máy gia tốc thứ 2 cỡ lớn, nặng 250 tấn. Phòng thí nghiệm này đã thu hút 100 nhân viên kỹ thuật trẻ tuổi của Nhật cho chương trình nghiên cứu khổng lồ này. Hai năm đầu, họ chủ yếu tập trung vào những tính toán về mặt lý thuyết, so sánh và phân biệt các nguyên tố đồng vị của uranium cũng như tìm kiếm mỏ uranium.
Khi Lục quân Nhật (lúc này Không quân Nhật đã được quy về Lục quân) tiến hành nghiên cứu hạt nhân, thì Hải quân nước này cũng bắt đầu chương trình nghiên cứu bom nguyên tử của riêng mình.
Đầu năm 1942, do nhận thức rõ về tầm quan trọng và tính bức thiết của việc nghiên cứu bom nguyên tử, Hải quân Nhật bắt đầu đi sâu vào nghiên cứu về năng lượng động lực của nguyên tử. Lúc đó, nước Mỹ đang gấp rút tiến hành nghiên cứu trong lĩnh vực này. Được sự giúp đỡ của một số nhà khoa học người Do Thái, nước Mỹ đã thu được những tiến triển hết sức khả quan.
Mục tiêu nghiên cứu của Nhật là muốn thông qua quá trình phản ứng nhiệt hạch để thu được nguồn năng lượng, nhằm cung cấp năng lượng khởi động cho tàu chiến và các loại máy móc hạng nặng. Do đó, Phòng Nghiên cứu kỹ thuật của Hải quân Nhật đã thành lập ra Ủy ban ứng dụng các thành tựu vật lý hạt nhân, để theo dõi và bám sát chương trình nghiên cứu hạt nhân của Mỹ. Thành viên trong Ủy ban nghiên cứu gồm có các nhà vật lý học hàng đầu của Nhật Bản lúc bấy giờ như Arakatsu, Bunsaku, trong đó Yoshio được bầu làm Chủ tịch Ủy ban này.
Tháng 3/1943, ủy ban lần lượt mở 10 cuộc thảo luận về vật lý hạt nhân. Họ tính toán rằng, muốn chế tạo được một quả bom nguyên tử phải dùng tới mấy trăm tấn quặng uranium, để tách ra được uranium 235 cần phải tiêu tốn 1/10 lượng điện và 1/2 lượng đồng của Nhật trong cả năm.
Cuối cùng, ủy ban này đưa ra kết luận rằng, việc chế tạo bom nguyên tử trên lý thuyết có thể thực hiện được, nhưng cần thời gian ít nhất là 10 năm. Sau khi khẳng định chắc chắn việc nghiên cứu bom nguyên tử sẽ không thu được bất cứ kết quả gì trong thời gian ngắn, Hải quân Nhật ra lệnh giải tán ủy ban.
Phương án Yoshio và sự thất bại
Thế nhưng, Yoshio vẫn tiếp tục nghiên cứu bom nguyên tử cho Lục quân Nhật. Kế hoạch của ông ta cũng gần giống với “Công trình Manhattan” của Mỹ, việc thiết kế vũ khí và sản xuất uranium 235 được tiến hành cùng lúc. Ngày 5/5/1943, ông ta gửi một bản báo cáo lên Bộ tư lệnh Không quân Nhật, nói rõ việc chế tạo bom nguyên tử về mặt kỹ thuật là rất khả thi. Sau đó, Takeo Yasuda đem bản báo cáo này đệ trình lên Hideki Tojo, lúc này đã trở thành Thủ tướng Nhật.
Sau khi xem xét bản báo cáo của Yoshio, Hideki Tojo vội vã lệnh cho Bộ tư lệnh Không quân, nếu như kế hoạch này yêu cầu vốn, nguyên liệu hay nhân lực đều phải được ưu tiên cung cấp đầu tiên. Bộ Tư lệnh Không quân Nhật sau đó đã phê chuẩn một kế hoạch với tên gọi “Phương án Yoshio” dựa theo báo cáo của Yoshio.
Yoshio nói với người phụ trách kế hoạch này của Bộ tư lệnh Không quân rằng: “Người chúng ta đã có đủ rồi, khó khăn chính bây giờ là uranium, hy vọng quân đội có thể giúp chúng tôi tìm kiếm uranium”.
Như vậy bắt đầu từ mùa hè năm 1943, Không quân Nhật đã phái người tới Archipelago của Nhật hay các khu mỏ nổi tiếng ở bán đảo Triều Tiên, mang về nhiều mẫu quặng, thế nhưng chúng lại không chứa uranium, trong khi đó “phương án Yoshio” lại đang rất cần có oxit uranium để tiến hành thí nghiệm.
Do đó, Nhật Bản quyết định tìm kiếm sự giúp đỡ từ Đức. Cuối năm 1943, Đức cho một tàu ngầm mang 1 tấn quặng uranium tới Nhật, nhưng do thông tin bị lộ, nên con tàu này đã bị quân Mỹ mai phục tại eo biển Malacca, bắn chìm. Sau đó, Đức ngày càng gặp bất lợi trong cuộc chiến với Liên Xô, nên đã không có thời gian để ý đến chương trình phát triển hạt nhân của Nhật nữa.
Do nhiều khó khăn, nên “Phương án Yoshio” chỉ “tồn tại ngắc ngoải” đến tháng 7/1944, khi nội các của Hideki Tojo sụp đổ. Cùng với sự thay đổi ngày càng xấu của cục diện chiến tranh, việc nghiên cứu bom nguyên tử cũng được tiến hành một cách khẩn trương hơn. Lúc này, phương án Yoshio bắt đầu thí nghiệm sang công đoạn tách các nguyên tố đồng vị của uranium. Đến đầu năm 1945, tổ phương án đã tiến hành cả thảy 6 thí nghiệm tách uranium, thế nhưng đều thất bại.
Hơn nữa trên khắp các mặt trận, quân Nhật liên tiếp thất bại, cộng với việc Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagashaki, buộc Chính phủ Nhật phải đầu hàng quân Đồng minh, sau đó, quân đội Nhật ra lệnh hủy toàn bộ những tài liệu liên quan đến kế hoạch nghiên cứu bom nguyên tử, do vậy khi chiến tranh kết thúc đã không ai được biết việc Nhật Bản từng nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử
Tiến Anh (theo Bí ẩn lịch sử)


Hồ sơ mã số JPN017
Tân Thủ tướng Taro Aso và vụ án gia tộc
Có lẽ ít Thủ tướng đương nhiệm nào lại là cháu của 2 đời cựu Thủ tướng như ông Taro Aso - cháu ngoại của cựu Thủ tướng Shigeru Yoshida, cháu rể của cựu Thủ tướng Zenko Suzuki. Nhiều người cho rằng, có lẽ vì sự đặc biệt của bản thân nên Thủ tướng Taro Aso đã bổ nhiệm tới 1/3 thành viên nội các là con em trong những gia đình chính trị quyền thế. Sự xuất thân đặc biệt của Thủ tướng Taro Aso đang được dư luận quan tâm, chú ý.
Thủ tướng Taro Aso cùng ông ngoại Shigeru Yoshida (người đội mũ) và mẹ Kazuko đi thăm sở thú Ueno ở Tokyo năm 1949
Thủ tướng Taro Aso sinh ngày 20-9-1940 trong một dòng họ lớn và quyền lực nên không có gì lạ khi mọi người gọi ông là người theo chủ nghĩa dân tộc. Ông Taro Aso là cháu nội của “Vua than” tại huyện Fukuoka, thành phố Lizuka. Cách đây 35 năm, Thủ tướng Taro Aso từng là Chủ tịch Tập đoàn xi măng Aso (Aso Cement) và ông đã làm rất tốt công việc của mình bởi từng tốt nghiệp ngành khoa học chính trị và kinh tế của trường Đại học Gakushuin ở Tokyo, cũng như nghiên cứu tại Mỹ và Anh sau đó.
Gia tộc Aso không những nổi tiếng trên thương trường, mà còn là một trong những gia tộc tham chính khá tên tuổi ở Nhật Bản. Không những thế, người trong gia tộc Aso còn được gả vào Hoàng thất, là thân tín, là thành viên trong nội các của nhiều đời Thủ tướng. Dòng họ Aso là hậu duệ của một Bộ trưởng dưới thời Nhật hoàng Hiro Hito. Do đó, ông Taro Aso không những được thừa hưởng một cơ nghiệp khổng lồ của gia đình, mà còn sớm thành danh trên chính trường nhờ vào những mối quan hệ do cha ông để lại. Có người nói rằng, di sản của gia đình thường thấm sâu vào đường lối chính sách của chính trị gia.
Thủ tướng Taro Aso
Trong khi dư luận đề cập tới những thách thức mà tân Thủ tướng đang phải đương đầu thì những “tiếng xì xào” xung quanh vụ xét xử đối với gia tộc Chủ tịch đảng cầm quyền Dân chủ Tự do (LDP) lại được đề cập. Cách đây hơn 2 năm, tờ “Đông á nhật báo” của Hàn Quốc số phát hành ngày 17-3-2006 có đưa một thông tin thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận bởi vấn đề được đề cập khá nhạy cảm. Khi đó, tân Thủ tướng, Chủ tịch LDP Taro Aso đang là Ngoại trưởng và ông buộc phải nghe những cáo buộc từ một người Hàn Quốc từng bị buộc phải làm việc trong các mỏ than của gia tộc Aso. Đây được coi là nhân chứng sống tại phiên tòa khai đình hồi tháng 4-2006.
Theo thống kê, tính đến nay có trên 200.000 người Hàn Quốc từng bị cưỡng bức lao động trong thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ hai làm đơn tố cáo và yêu cầu Chính phủ Nhật Bản xin lỗi và bồi thường cho họ. Trong số hơn 200.000 người kể trên có 8 người từng “lao động khổ sai” trong các mỏ than của gia tộc Aso, nhưng hiện chỉ còn một mình ông Jiang Sheng-xiang, 84 tuổi là còn sống.
Cách đây gần 3 năm, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức đề nghị Chính phủ Nhật Bản mở cuộc điều tra đối với gia tộc Aso sau khi có những bằng chứng cho thấy, họ từng cưỡng bức lao động trong thế chiến thứ hai, nhưng đã bị từ chối. Tuy nhiên, phiên tòa cách đây hơn 2 năm vẫn khai đình cho dù không đạt kết quả.
Điều đáng nói là khi còn làm Ngoại trưởng, ông Taro Aso từng có bài phát biểu khiến người dân Hàn Quốc vô cùng tức giận vì đã đề cập tới vấn đề lịch sử đầy nhạy cảm. Ông Taro Aso nổi tiếng vì những câu nói hớ cho dù từng làm Ngoại trưởng. Theo tài liệu lưu trữ, cùng lời khai của ông Jiang Sheng-xiang, trong thế chiến thứ hai, gia tộc Aso đã thuê tổng cộng 10.623 người vào làm việc tại các mỏ than của họ. Trong thời gian làm việc tại đây đã có rất nhiều người chết vì đói, vì bị đánh đập dã man và bệnh tật...
Mặc dù Nhật Bản thảm bại trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, nhưng gia tộc Aso lại không ngừng mở rộng kinh doanh của họ từ khai thác than tới nhiều lĩnh vực khác như ngân hàng, xây dựng, điện lực, bệnh viện, vận tải biển, lâm nghiệp… và hiện là một trong những tập đoàn lớn, có uy tín, tên tuổi ở Nhật Bản.
Ông Taro Aso được coi là người có bề dày thành tích về mọi mặt và đầy cuốn hút. Và sau 3 lần ra tranh cử Thủ tướng bất thành, cuối cùng ông Taro Aso cũng toại nguyện. Trước khi trở thành Thủ tướng, Chủ tịch LDP, ông Taro Aso từng là Ngoại trưởng, Bộ trưởng Văn hóa, Chủ tịch ủy ban đối ngoại của Hạ viện, Chủ tịch ủy ban đặc biệt về chính sách than của Hạ viện, Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng Nội vụ…
Chiều 24-9, Chủ tịch LDP Taro Aso đã trở thành Thủ tướng thứ 3 của Nhật Bản kể từ năm 2006 mặc dù thất bại trong cuộc bỏ phiếu tại Thượng viện. Ông Taro Aso đã chính thức thay thế người tiền nhiệm Yasuo Fukuda từ chức sáng 24-9. Khác với nhiều chính khách tại Nhật, Thủ tướng Taro Aso không những chơi thành thạo nhiều môn thể thao, mà còn là một tay súng thiện xạ. Cách đây 32 năm, ông Taro Aso từng được cử đi thi đấu tại thế vận hội Montreal, Canada.
(Theo An ninh Thủ Đô)


Yakuza gốc Triều và vụ bắt cóc ông Kim Dae Jung
Trong Thế Chiến II có hơn 2,5 triệu người Triều Tiên bị ép buộc phải sang Nhật phục vụ trong các xí nghiệp chiến tranh. Được gọi bằng cái tên Sanggokujin (tam quốc nhân) đầy miệt thị, họ bị đối xử như những nô lệ. Một bộ phận nam giới bị quân đội Nhật lùa ra mặt trận làm bia thịt, hàng vạn phụ nữ có nhan sắc bị biến thành những nô lệ tình dục phục vụ lính Nhật trên các chiến trường...
Chiến tranh kết thúc, Nhật đầu hàng, 2 triệu người Triều Tiên đã được hồi hương, nhưng vẫn còn tới 67 vạn người Triều Tiên khác ở lại. Được giải phóng khỏi kiếp nô lệ, bao nhiêu uất ức, tủi nhục bị dồn nén đã có dịp bung ra, những người Triều Tiên hối hả lao vào buôn lậu, móc ngoặc, thậm chí cả ăn cắp hàng viện trợ Mỹ, nhanh chóng kiểm soát thị trường chợ đen ở một số thành phố lớn của Nhật Bản. Quân đội Mỹ chiếm đóng không tin cậy người Nhật - kẻ cựu thù - nên làm ngơ cho những người Triều Tiên thỏa sức hoành hành, đồng thời cũng để lợi dụng họ trong việc thu thập tin tức.
Hình minh họa.
Chẳng bao lâu, những khu ăn chơi, giải trí sầm uất nhất của thủ đô Tokyo đều thuộc quyền cai quản của những tên gangster gốc Triều Tiên. Chúng độc quyền phân phối hệ thống buôn bán lẻ và các dịch vụ, Pachinko (máy đánh bạc). Để cạnh tranh với sự chèn ép của bọn Yakuza Nhật Bản, năm 1948, 1.500 tên tội phạm Triều Tiên đã tập hợp nhau lại, lập nên cái gọi là Tosei - kai (Đông Thanh Hội) do Hisayuki Machii - kẻ đứng đầu băng tội phạm “Những con hổ Ginza” ở Tokyo - làm thủ lĩnh.
Machii tên thật là Chong Gwon Yong, sinh năm 1923 tại Triều Tiên, con trai một nhà kinh doanh sắt thép. Thuở nhỏ, Chong Gwon Yong học rất tồi và chỉ thích lêu lổng, đánh lộn trên hè phố, bến cảng hơn là thích đến trường. Do công việc kinh doanh của người cha nên trước Chiến tranh thế giới lần thứ 2, Chong đã từng qua lại giữa Triều Tiên - Nhật Bản tới 8 lần. Y tự đặt cho mình cái tên Nhật là Hisayuki Machii và bắt đầu bước chân vào thế giới tội phạm ở Tokyo.
Chiến tranh kết thúc, Machii nhanh chóng lao vào buôn bán chợ đen, nhiều lần bị quân đội chiếm đóng bắt giữ, một lần bị truy tố về tội giết người. Nhưng nhờ giỏi luồn lách, Machii vẫn lọt lưới pháp luật, càng trở nên nổi tiếng trong giới giang hồ. Dù sống trên đất Nhật, nhưng y vẫn là “người ngoại quốc”.
Lợi dụng vị thế này, Machii đã mở rộng được nhiều mối quan hệ với cả những người đứng đầu Cơ quan phản gián của quân đội Hoa Kỳ tại Nhật (gọi tắt là G2) lẫn những ông trùm của các cộng đồng người Triều Tiên tại Nhật. Machii và băng Tosei-kai đã tích cực giúp quân đội chiếm đóng phá nhiều vụ đình công của phong trào công nhân và những người Nhật cánh tả. Đổi lại, G2 đã làm ngơ, thậm chí còn hậu thuẫn cho Tosei-kai hoạt động và cạnh tranh khốc liệt với các băng Yakuza Nhật Bản.
Không cam tâm chịu cảnh “bẽ mặt” trước sự lấn lướt của những tên tội phạm gốc Triều Tiên, Yakuza Nhật tìm cách chống lại.
Ngay sau khi giành được quyền lực đen ở khu Ginza, những tên Tosei-kai đã lộng hành tới mức dám tổ chức một cuộc tuần hành rầm rộ ngay trước Hoàng cung Nhật Bản tại Tokyo. Tức khí, Guchi Matsuda - trùm băng Matsuchi-gumi ở Tokyo tổ chức một cuộc “trải đệm” nhử những kẻ “ngoại lai” to gan đến. Khi hàng trăm tên tội phạm Triều Tiên tràn vào giữa lòng phố Shimbashi để đập phá các quầy hàng của những người tam quốc nhân Đài Loan thì khẩu súng máy đặt trên nóc một trường tiểu học bất ngờ khạc đạn, bắn thẳng vào đám đông người Triều Tiên đang reo hò chiến thắng khiến chúng phải “bỏ của chạy lấy người”, để lại hàng trăm đồng bọn cả chết lẫn bị thương.
Tại cảng Kobé, nhằm giành quyền kiểm soát các nguồn lợi trên bến cảng, 300 tam quốc nhân Triều Tiên đã xông vào một bốt cảnh sát bắt con tin gây áp lực. Cảnh sát bất lực. Dưới sự “nhờ vả” của thị trưởng thành phố, hơn 1.000 thành viên băng Yamaguchi-gumi theo lệnh ông trùm Kazuo Taoka tấn công vào bốt cảnh sát này bằng súng, kiếm, lựu đạn, giải giới toàn bộ đám côn đồ Triều Tiên manh động…
Sau hai vụ này, hoạt động của các băng gangster Triều Tiên tuy bớt ồn ào hơn, song vẫn hết sức nguy hiểm. Thậm chí, vào năm 1964, Cảnh sát Tokyo còn khám phá được cả một kho thuốc nổ, súng ống ngay trong lòng trụ sở của băng Tosei-kai tại khu Ginza. Thế nhưng, sự hỗn loạn thời hậu chiến đã vô hiệu hóa luật pháp Nhật Bản, không một ông trùm nào của Yakuza Triều Tiên, kể cả Machii, bị tống vào tù lâu quá vài tháng!
Liên minh tội phạm
Thay vì tiếp tục tranh giành, chém giết, các ông trùm lớn của cả hai thế lực Triều Tiên - Nhật Bản cũng chịu ngồi lại để bắt tay nhau nhằm phân chia lợi nhuận. Sở dĩ đang trên thế thắng, các ông trùm Yakuza Nhật Bản lại chịu hạ mình là bởi họ đang nhắm đến mục đích khai thác những nguồn lợi khổng lồ của thị trường chợ đen Hàn Quốc, một công việc không thể thành công nếu không có sự tham gia của những băng đảng Yakuza gốc Triều Tiên.
Với sự hiện diện của 40.000 lính Mỹ, Hàn Quốc vừa là một trung tâm tiêu thụ lớn hàng hóa đến từ Nhật, lại vừa là một cái “mỏ” hàng PX (hàng quân tiếp vụ) có trữ lượng dồi dào. Trong những năm 1960 - 1970, bọn Yakuza từ Nhật Bản hầu như đã khống chế hoàn toàn việc xuất nhập khẩu theo đường tiểu ngạch cho thị trường chợ đen Hàn Quốc, thu được một nguồn lợi khổng lồ.
Tuy nhiên, nguồn lợi đó vẫn không thấm vào đâu so với nguồn lời từ amphetamin, được người Nhật Bản gọi bằng cái tên mỹ miều là “sabu” hay “kim cương trắng”, trong khi lính Mỹ đồn trú tại Hàn Quốc - những khách hàng thường trực lại gọi chúng là “speed” (tốc độ), crack (bùng nổ) hay “mad” (điên rồ). Ban đầu nguồn amphetamin được đưa từ Nhật Bản sang Hàn Quốc.
Nhưng đến cuối thập niên 60 của thể kỷ XX, dòng chảy đổi hướng. Dưới sự bảo trợ của Yakuza Nhật Bản, Yakuza Triều Tiên đã dựng lên hàng loạt phòng bào chế trên khắp đất nước Hàn Quốc, sau đó chảy ngược về Nhật Bản. Ma túy chế biến ở Hàn Quốc chiếm 70% nguồn cung cấp cho toàn thị trường Nhật Bản. Một nửa thu nhập của Yakuza Nhật Bản là nhờ sản xuất và buôn bán ma túy, với doanh số lên đến hàng tỉ USD mỗi năm trong suốt thập niên 70.
Là người nắm giữ đầu mối của nguồn lợi khổng lồ này, Machii và băng Tosei-kai, dù quân số chỉ chiếm chừng 1,5% Yakuza toàn Nhật Bản vẫn không hề bị lép vế mà ngược lại, vị thế ngày càng quan trọng hơn. Machii trở thành một trong những thủ lĩnh Yakuza quan trọng hàng đầu, làm bạn với cả Thủ tướng Nhật Kishi (1958) lẫn ông trùm của mọi ông trùm Yakuza là Kazuo Taoka.
Mối quan hệ này được bảo trợ bởi một nhân vật khét tiếng và bí hiểm trong nền chính trị kỳ quặc và hỗn loạn của đảo quốc Nhật Bản: Cựu đề đốc Hải quân - tội phạm chiến tranh Yoshio Kodama. Chính Kodama đã nhờ vả ông bạn Triều Tiên Machii đưa 3.000 tên gangster đến bảo vệ thành công cho chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Tổng thống Mỹ Eisenhower năm 1961. Sau đó để trả công, sự nghiệp của Machii đã được kẻ buôn vua của nền chính trị Nhật Bản là Kodama bảo trợ.
Dưới chế độ độc tài Park Chung Hee không những nền dân chủ bị bóp nghẹt mà ngay cả các tổ chức tội phạm cũng đừng hòng tồn tại, nếu chúng không được sự “cho phép” của KCIA, được Park Chung Hee thành lập năm 1961 với 3.000 nhân viên “đặc biệt tinh nhuệ” và đã nhanh chóng tăng lên tới 100.000 tên chỉ ít năm sau đó. KCIA là một tổ chức siêu quyền lực, có thể bắt bớ, thủ tiêu bất kỳ ai mà họ cho là thù địch, không cần đến phán quyết của tòa án. Lẽ tất nhiên, hoạt động phạm tội của Machii và những tên đồng đảng không thể qua mặt được bộ máy quyền lực khủng khiếp này. Nhưng KCIA đã làm ngơ…
Số là, khi bán đảo Triều Tiên bị chia cắt, người Triều Tiên ở Nhật Bản cũng phân hóa sâu sắc thành hai phe và chống đối nhau kịch liệt. Các Hiệp hội Chongyon ủng hộ phe miền Bắc Cộng sản. Nhóm Mindan ủng hộ miền Nam… Không chút do dự, toàn bộ những tên vô lại dưới trướng Machii đều ủng hộ các thủ lĩnh phe Mindan chống cộng. KCIA đã tiếp sức, hậu thuẫn và tất nhiên sau đó là lợi dụng chúng như một giải pháp chính trị.
Rất nhanh, Machii đã trở thành người trung gian dàn xếp các cuộc gặp gỡ, thương lượng giữa các chính khách cực hữu Nhật Bản với các nhân vật quan trọng trong chính phủ độc tài Park Chung Hee, tiến tới việc ký kết hiệp ước bình thường hóa quan hệ Nhật - Hàn. Để tưởng thưởng, Tổng thống Park Chung Hee từng cho phép Machii và cựu đề đốc Kodama hội kiến.
Vụ bắt cóc Kim Dae Jung
Trong kỳ bầu cử năm 1971, Park Chung Hee chỉ giành thắng lợi nhờ gian lận, trong khi dù thua cuộc, uy tín của ứng cử viên dân chủ Kim Dae Jung vẫn ngày càng lên cao. Ông tiếp tục bôn ba khắp nhiều nước, vận động cho việc lập lại dân chủ và nhân quyền ở Hàn Quốc. Kết quả, ngay sau cuộc tổng tuyển cử năm 1971, xe hơi của ông Kim đã bị một chiếc xe tải đâm vào khiến ông bị thương nặng, ba người đi cùng xe với ông thiệt mạng. Sau này, nhà chức trách Hàn Quốc đã thừa nhận: Chính KCIA là tác giả.
Biết nguy cơ đang rình rập, nhưng ông Kim vẫn không ngừng hoạt động. Mùa hè năm 1973, ông được mời đến Tokyo để nói chuyện với một số hiệp hội kiều dân Hàn Quốc. Khi ông đến Nhật, bạn bè ông đã cho biết: Bọn Yakuza Triều Tiên sẽ tổ chức ám hại ông. Do đó, tại Tokyo, Kim Dae Jung phải thường xuyên cảnh giác, đổi khách sạn như cơm bữa.
Sáng 8/8/1973, sau hai giờ đàm đạo với Yang In Tong, một chính khách Triều Tiên, ông Kim rời phòng khách sạn Grand Palace ở Tokyo. Chưa kịp vào thang máy, ông đã bị một tốp thanh niên lạ mặt ập đến lôi vào căn phòng bên cạnh đấm đá, sau đó chụp khăn thuốc mê lên mặt và bí mật đưa xuống tầng hầm nhét vào cốp một chiếc xe hơi đậu sẵn. Bị trói và bịt mắt, miệng bằng băng dính, Kim Dae Jung hoàn toàn không thể kêu cứu, bị những kẻ bắt cóc chở ra một chiếc tàu nhỏ đang neo sẵn dưới vịnh Osaka.
Nhưng nhà chức trách Hoa Kỳ và Nhật Bản đã phát hiện ra vụ việc, lập tức cho trực thăng đuổi theo, cùng với sự phản đối quyết liệt gửi thẳng đến Chính phủ Park Chung Hee. Do đó, đến phút chót, lệnh thủ tiêu ông Kim đã bị bãi bỏ. Những vật nặng và dây trói trên tay chân ông được cởi bỏ.
Chiếc tàu nhỏ cập bến Phu San (Hàn Quốc) vào ngày hôm sau. Ông Kim được đưa về Seoul giam hai ngày, sau đó được thả ra vào ban đêm một cách bí mật, cách nhà riêng của ông chưa đầy trăm mét. Sau một thời gian bị quản thúc, Kim Dae Jung lại bị điệu ra tòa, bị tuyên án tử hình. Khi Park Chung Hee bị ám sát, bản án này đã suýt nữa được Chun Doo Hwan, nhà độc tài kế nhiệm thi hành. Nhưng chân lý đã thắng, cuối cùng Kim Dae Jung vẫn sống, để sau đó trở thành nhà lãnh đạo cao nhất của Hàn Quốc.
Cảnh sát Nhật đã không mất quá nhiều thời gian cũng vẫn lần ra manh mối thủ phạm. Ngay tại hiện trường gây án, dấu vân tay của Kim Dong Won, “sếp” KCIA tại Tokyo vẫn còn rõ nét. Một trong những chiếc xe gây án cũng được xác định là của Phó lãnh sự Hàn Quốc tại Yokohama. Có khoảng 20 - 25 tên vô lại tham gia vào vụ bắt cóc, dưới sự chỉ đạo của chính Park Chung Hee. Thế nhưng, chính trị vốn là một trò ú tim, sau nhiều thập kỷ, Cảnh sát Tokyo vẫn không đưa ra một kết luận chính thức nào cả.
Chỉ có một chi tiết là không ai chối cãi: Trước khi vụ án xảy ra, Machii đã cho thuê gần như toàn bộ tầng lầu khách sạn mà ông Kim đã thuê phòng. Sau đó Machii đã để cho KCIA sử dụng hết tất cả các phòng này. Tuy nhiên, báo chí Nhật tuyệt đối không dám đăng tải các thông tin này vì sợ tay chân Machii trả thù. Xem ra, ngay trên đất Nhật, sức mạnh tội ác của những tên Yakuza gốc Triều Tiên vẫn còn là một nỗi ám ảnh lâu dài..
(theo CAND)


Trùm mafia Nhật Tadamasa Goto giã từ thế giới ngầm?
Ngày 8/4 vừa qua, Tadamasa Goto, 66 tuổi, một trong những ông trùm của tổ chức yakuza khét tiếng bạo lực đã quy theo đạo Phật. Liệu đây có phải thật sự là hành động cải tà quy chính của một tay giang hồ hay chỉ là động thái nhằm tránh bị kẻ thù ám sát?
Tadamasa Goto
Một đoàn xe Limousine màu đen bóng loáng lăn bánh lạo xạo trên con lộ nhỏ dẫn vào một ngôi chùa trên núi nằm cách Tokyo 1h ôtô chạy. Từ trên xe một ông già bước xuống với 4 vệ sĩ to con vây quanh. Đó chính là Tadamasa Goto, một trong những ông trùm yazuka nguy hiểm nhất hiện nay ở Nhật Bản.
Goto chậm rãi bước vào điện Phật và bắt đầu nghi thức quy y trang nghiêm. Người ta đã so sánh sự kiện Goto với John Gotti, trùm mafia Italia nổi tiếng cũng đã trút bỏ bộ cánh bảnh bao để khoác lên người chiếc áo thầy tu trong một nhà thờ Công giáo. Hiện nay, ông trùm của tập đoàn yakuza Yamaguchi-gumi lớn nhất nước Nhật chỉ dành thời gian để tụng kinh và suy ngẫm về quá khứ giết người, bắt cóc tống tiền và buôn ma túy... của mình.
Jishu Tsukagoshi, nhà sư trẻ tuổi của ngôi chùa Jiganji, nói: "Tôi tin tưởng ông ta thật sự rũ bỏ quá khứ và muốn thay đổi. Nhưng sự quy đạo này có thật hay không thì hãy để thời gian trả lời". Có lẽ không ai - ngoại trừ chính Goto - biết được nguyên nhân của sự việc này. Giả thuyết được nhiều người tin nhất là Goto đang trên đường trốn tránh âm mưu ám sát của thế giới ngầm.
Trong năm 2008, Tadamasa Goto - mệnh danh "John Gotti của Nhật Bản - được báo chí trên khắp thế giới nhắc đến nhiều sau khi có tin về sự thỏa thuận giữa ông ta và chính quyền Mỹ. Để được vào Mỹ phẫu thuật cấy ghép gan ở Trung tâm Y khoa Đại học ở Los Angeles, Goto chấp thuận hợp tác với FBI.
Và ngày 18/5/2001, FBI đã sắp xếp cho Tadamasa Goto bay đến Mỹ. Hợp tác với FBI, ông trùm Goto sẵn sàng phá vỡ luật im lặng của yakuza về những hoạt động của tổ chức này trên đất Mỹ, tên tuổi những trùm tội phạm khác. Bác sĩ phẫu thuật cho Goto là Ronald Busuttil và lá gan được ghép cho ông ta là của một cậu bé 16 tuổi chết vì tai nạn giao thông.
Sau ca phẫu thuật, Goto đã tặng cho bệnh viện 100.000 USD để thành lập Quỹ nghiên cứu Goto! Trung tâm y khoa sau đó đã bị chỉ trích kịch liệt vì Goto và 3 thành viên yakuza khác đã vượt qua vài trăm bệnh nhân đang xếp hàng chờ cấy ghép.
Tháng 10 năm ngoái, ban lãnh đạo của Yamaguchi-gumi đã chính thức khai trừ Goto ra khỏi tổ chức. Jake Adelstein, nguyên phóng viên về tội phạm của tờ Yomiuri Shimbun, nói: "Hiện nay có rất nhiều người muốn giết chết Goto bởi vì cái đầu của ông ta được yakuza ra giá rất cao".
Jake Adelstein từng nhận được những lời đe dọa ám sát trước khi công bố thông tin về vụ ghép gan của Goto ở Mỹ và cũng kể từ đó nhà báo luôn sống dưới sự bảo vệ nghiêm ngặt của FBI.
Ngôi chùa nơi Goto quy y.
Viễn cảnh về một cuộc chiến đối đầu giữa băng nhóm ly khai của Goto, gọi là "Goto-gumi", và tổ chức lớn mạnh Yamaguchi-gumi là không tránh khỏi và chính sự thật khủng khiếp đó đã khiến ông trùm này đêm ngày mất ngủ. Về phần ngôi chùa cổ 400 năm tuổi Jiganji này người ta cũng có mối hoài nghi. Nhà sư trụ trì chùa là người có quan hệ với ông trùm yakuza trong suốt 2 thập niên.
Tại sao một bố già đã trải qua phần lớn đời mình trong giới giang hồ lại chọn ngôi chùa hẻo lánh này để quy y? Có lẽ đồng tiền có dính líu trong chuyện này. Nhưng sư trụ trì không bình luận gì. Goto cũng liên quan đến cái chết của Juzo Itami, đạo diễn phim đã bôi bác "hình ảnh" của yakuza trong một bộ phim của ông.
Năm 2006, Goto và anh trai cả Masato bị bắt giữ vì tội gian lận trong kinh doanh bất động sản và sát hại một người đàn ông dám chống đối băng nhóm Goto-gumi. Tadamasa Goto đã tích lũy được một gia tài khổng lồ nhờ các hoạt động bất hợp pháp như tổ chức hoạt động mại dâm, bảo kê, buôn lậu ma túy, bắt cóc tống tiền, cờ bạc.
Bọn tay sai của Goto gây khiếp đảm cho mọi người với những hành vi cực kỳ bạo lực. Bọn chúng sẵn sàng san bằng các doanh nghiệp nào từ chối nộp tiền bảo kê và hành hung dã man những nạn nhân ngay trước mặt gia đình họ.
Năm 1999, một hồ sơ của Cảnh sát Nhật Bản tiết lộ "để đạt được mục đích, Goto sử dụng bất cứ biện pháp gì cần thiết hay có thể". Goto cũng tận dụng sách lược "cây gậy và củ cà rốt" để quản lý bọn tay sai.
Theo đánh giá của Cơ quan Cảnh sát quốc gia Nhật Bản NPA, yakuza gồm khoảng 80.000 thành viên, trong đó tổ chức hùng mạnh nhất Yamaguchi-gumi gồm 40.000 thành viên nổi tiếng là "Wal-Mart của yakuza". Chỉ tính riêng ở Tokyo, cảnh sát đã xác định được hơn 800 công ty do yakuza quản lý, trong đó bao gồm các ngành đầu tư và kiểm toán, xây dựng và kinh doanh siêu thị.
Trong cuốn sách "Yakuza: Thế giới ngầm tội phạm của Nhật Bản" do Đại học Báo chí California xuất bản năm 2003, đồng tác giả và nhà báo David Kaplan cũng mô tả băng đảng Goto-gumi của Tadamasa Goto là một bộ phận cực kỳ tàn ác và bạo lực của tập đoàn tội phạm lớn nhất nước Nhật - Yamaguchi-gumi.
FBI từ lâu đã nghi ngờ yakuza hoạt động rửa tiền trên đất Mỹ thông qua những công ty bình phong của Yamaguchi-gumi và James Moyhihan. Có lẽ đó là lý do buộc FBI phải tạo một thỏa thuận hợp tác với ông trùm Tadamasa Goto.
Những nghi ngờ đối với Yamaguchi-gumi được xác định từ mùa thu năm 2003, khi các đặc vụ của Cơ quan Hải quan và Nhập cư Mỹ IEC phát hiện được vài trăm triệu USD bí mật trong các tài khoản casino của Mỹ và hệ thống ngân hàng của Susumu Kajiyama, ông trùm người Nhật nổi tiếng là "vua cho vay cắt cổ". Cuối năm 2003, Cảnh sát Tokyo đã phát hiện và thu giữ được 2 triệu USD tiền mặt trong một két sắt an toàn của Kajiyama ở Nhật Bản.
(CAND)
There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)
Bookmarks