Chẳng bao lâu sau, triều đình hoàng gia suy yếu đến mức chính quyền từ tay giới quý tộc (kuge) dần dần chuyển vào tay các chiến binh - võ sĩ (samurai). Bắt đầu thời kì Kamakura (1192-1333). Quá trình giới võ sĩ cai trị quốc gia kéo dài bảy thế kỉ cho tới đầu thời Minh Trị (1868).
Thế nhưng cả hệ thống hoàng gia, cả nền văn hóa cung đình đều không bị biến mất. Vào đầu thời Kamakura xuất hiện thêm một hợp tuyển Waka (thơ Nhật Bản) - Tân cổ kim tập (Shin Kokinshu - 1205), về mặt nghệ thuật còn vượt cả Kokinshu thời Heian. Tất nhiên, ở đây có khuynh hướng thiên về chơi chữ, nhưng cái chính vẫn là tinh thần duyên dáng (ioen), vẻ đẹp u huyền (iugen), dư tình (cojo) - cả một giàn cảm xúc ảo mộng, và điều đó làm nó gần gũi với thơ ca tượng trưng hiện đại. Nhà thơ - thiền sư Saigyo (1118-1190) đã kết hợp trong sáng tác của mình cả hai thời kì - Heian và Kamakura.
Trong nỗi nhớ chàng
Em chìm dần vào giấc ngủ.
Trong mơ chàng đến.
Ôi giá như em biết,
Em đã không tỉnh giấc,
Để bằng những nẻo chiêm bao
Em theo chàng
Mãi mãi.
Nhưng trong đời thực
Em chưa một lần được gặp chàng.
Đó là một bài thơ trong Cổ kim tập của nữ thi sĩ Ono-no Komachi. Và mặc dù những câu thơ nói về một giấc mộng, nhưng nó vẫn toát lên hiện thực. Còn thơ xuất hiện sau Tân cổ kim tập nói chung chỉ là những nét phác thảo của hiện thực mà thôi.
Rừng trúc
Rộn ràng
Tiếng sẻ.
Nắng chiều
Vàng sắc thu.
Vườn thanh vắng
Gió thu giỡn lá.
Mặt trời
Dần khuất
Sau tường.
Đó là thơ của hoàng hậu Eifuku (1271-1342) sống vào cuối thời Muromachi. Vẫn thể hiện nỗi buồn tinh tế của người Nhật Bản, theo tôi, những câu thơ này đã rất hiện đại.
Những câu thơ Tuyết đông lạnh giá, tinh khôi của thiền sư Dogen và Vầng trăng mùa đông đi cùng ta của nhà hiền triết Myoe đều thuộc về thời kì Tân cổ kim tập.
Myoe và Saigyo thường trao đổi thơ và những ý nghĩ về thơ ca với nhau. "Cứ mỗi lần thiền sư Saigyo đến là bắt đầu câu chuyện về thơ. Ông nói: "Tôi có cái nhìn riêng của tôi về thơ. Và tôi ca ngợi hoa, chim cu, tuyết, mặt trăng - nói chung, các hình ảnh khác nhau. Nhưng thực chất tất cả những cái đó chỉ là vẻ ngoài đập vào mắt và dội vào tai. Nhưng dù sao thì những câu thơ chúng ta viết ra chẳng lẽ không phải là những châm ngôn ngụ ý? Khi ta nói về hoa, thì ta đâu nghĩ đó là những bông hoa thật sự. Khi ta ngợi ca trăng, ta đâu nghĩ đó là mảnh trăng thường tình. Hãy hình dung khi chúng ta có cảm hứng và những câu thơ tuôn ra. Cầu vồng rực rỡ đậu xuống, và hình như bầu trời trống rỗng bỗng đổi màu. Mặt trời rực rỡ chiếu sáng, và bầu trời trống rỗng được chiếu sáng. Nhưng bản thân bầu trời không tự nhuộm màu và cũng không tự chiếu sáng. Và chúng ta, trong tâm hồn chúng ta, giống như bầu trời kia, chúng ta tô điểm mọi vật trong các màu sắc khác nhau, không để lại dất vết. Chỉ có thơ ca như vậy mới thể hiện được Chân Phật" (trích từ Tiểu sử Myoe của Kikai, học trò của ông).
Trong những lời này có thể nhận thấy tư tưởng của Nhật Bản, hay đúng hơn, của Phương Đông, về "Hư Vô", "Không Tồn". Và trong những tác phẩm của tôi các nhà phê bình cũng tìm thấy cái Hư Vô đó. Nhưng cái Hư Vô này hoàn toàn không phải cái mà người ta thường hiểu ở chữ chủ nghĩa hư vô (nihilism) của Phương Tây. Tôi nghĩ, đó là do những cội rễ tinh thần của chúng ta khác nhau.
Những câu thơ Bản lai diện mục ca ngợi vẻ đẹp bốn mùa của Dogen chính là Thiền.
© 2005 talawas
[1]Dogen (tức Đạo Nguyên, 1200 - 1253): Thiền sư đầu thời Kamakura, là tổ sáng lập phái thiền Tào Động (soto zen) Nhật Bản. Thiền Tào Động còn được gọi là thiền Mặc Chiếu, chủ trương tu tập chủ yếu bằng cách tọa thiền. Ông xuất gia năm 13 tuổi. Năm 1233, Đạo Nguyên sang nước Tống học Thiền 5 năm, kế thừa truyền thống Thiền Tào Động ở Trung Quốc và trở về nước truyền đạo. Viết các tác phẩm Chính pháp nhãn tàng (Shobo genzo), Vĩnh Bình quảng lục... Bộ Chính pháp nhãn tàng là kết tinh tư tưởng Thiền Tông của Đạo Nguyên, nói về pháp tu thực tiễn là chỉ quản đả tọa.
[2]Myoe (tức Minh Huệ, 1173 - 1232): Nhà sư phái Hoa Nghiêm Tông đầu thời Kamakura. Trong tác phẩm chính Tồi tà luân, ông phê phán phái Tịnh độ của Pháp Nhiên.
[3]Uta- Monogatari: âm Hán Việt đọc là Ca vật ngữ.
[4]Tanka (Đoản ca), còn được gọi là thơ Waka (Hòa ca), một thể thơ phổ biến ở Nhật Bản, gồm ba mươi mốt âm tiết, được đọc theo cách ngắt âm là 5-7-5-7-7.
[5]Bottichelli (1445-1507): danh họa nổi tiếng người Italia thế kỉ XV.
[6]Ryoukan (tức Lương Khoan, 1758 - 1831): Thiền sư và thi nhân thời hậu kì Edo. Từ tuổi hai mươi, ông bỏ mười sáu năm trời tu tập trong các Thiền viện, nghiên cứu thơ ca Nhật Bản và Trung Quốc, luyện thư pháp. Vào tuổi bốn mươi, ông dựng một Gogo an (Ngũ Cáp am) trên núi Kugami, tự xưng mình là Taigu (Đại Ngu). Năm 69 tuổi ông gặp và yêu ni cô Teishin (Trinh Tâm), người nhỏ hơn ông đến bốn mươi tuổi. Sau khi Ryoukan mất bốn năm, ni cô Teishin cho ấn hành tập thơ Giọt sương trên lá sen (Hachisu no tsuyu) của ông.
[7]Satori: thuật ngữ Thiền đạo (Zen), chỉ trạng thái giác ngộ, siêu thoát; đạt ngộ.
[8]Nguyên văn: "Matsugo no me" (Mạt kì chi nhãn), nghĩa là "Con mắt mạt kì", bản dịch tiếng Anh là "The eye of the decaying age".
[9]Ikkyu (tức Nhất Hưu, 1394 - 1481): thiền sư phái Lâm Tế, sống vào giữa thời kì Muromachi. Ikkyu là tên tự, còn biệt hiệu là Kyoun (Cuồng Vân). Năm 21 tuổi, Ikkyu học với thiền sư Sodon ở Katata, một thị trấn bên hồ Biwa (Tì Bà). Ở đây, ông đã đạt ngộ (satori) vào năm 26 tuổi khi nghe một tiếng quạ kêu vào cuộc tọa thiền giữa đêm. Từ đó ông bắt đầu sống một cuộc sống “cuồng Thiền”, vượt ra ngoài mọi quy ước. Ông ăn thịt cá, uống rượu, lang thang ở các thanh lâu, lấy vợ và có con như người bình thường. Ikkyu có đề lại thi tập Cuồng Vân tập (Kyounshu), gồm hơn một ngàn bài tứ tuyệt chữ Hán.
[10]Tariki (Tha lực): quan niệm của Phật giáo về việc ta có thể nhận được sự giúp đỡ của một lực lượng khác trong quá trình tu tập.
[11]Jiriki (Tự lực): quan niệm của Phật giáo cho rằng ta chỉ có thể tu hành và đạt đến giác ngộ bằng chính sức mình, không nhờ cậy vào người khác được. Thiền tông là thuộc loại này.
[12]Shinran (tức Thân Loan, 1173-1262): người lập ra phái Tịnh độ chân tông, sinh tại Uji, vùng ngoại ô phía Nam Kyoto vào năm 1173. Ông học với thầy Pháp Nhiên. Khi xảy ra sự kiện đàn áp phái chuyên tu niệm Phật, Thân Loan bị đày đi Echigonokuni. Từ đây, ông giữ lập trường phi tăng phi tục, rời bỏ cả giới luật của người xuất gia cũng như giới luật của người tu tại gia. Thân Loan có vợ là ni sư Huệ Tín (Eshin), và có con như người bình thường. Con gái út của ông sau này trở thành ni sư Giác Tín. Thân Loan cho rằng mọi người đều tin vào điều nguyện của Phật A Di Đà và chỉ cần một lần thành tâm niệm Phật, phó thác tất cả cho Phật A Di Đà là được cứu vớt.
[13]Bodhidharma (thế kỉ VI): vị tăng sư Phật giáo ấn Độ, tương truyền là thủy tổ Thiền tông Trung Quốc. Câu chuyện về cuộc đời ông có nhiều màu sắc huyền thoại.
[14]Kim Nông (1687?-1764): danh họa Trung Quốc, tranh vẽ theo phong cách biểu hiện và lập dị.
[15]Heian là tên gọi cũ của Kyoto ngày nay. Văn hóa Heian (970-1181) là thời kì phát triển rực rỡ của văn hoá Nhật Bản.
[16]Cổ kim tập: tuyển tập hơn 1100 bài thơ Nhật Bản từ thời cổ đến thế kỉ IX.
[17]Ise monogatari: chuyện kể về các thiên tình sử trong hoàng cung; Genji-monogatari: kiệt tác trong văn xuôi cổ điển Nhật Bản, gồm 54 hồi.






Trả Lời Với Trích Dẫn
Bookmarks