>
Trang 2/3 đầuđầu 1 2 3 cuốicuối
kết quả từ 11 tới 20 trên 27

Ðề tài: [Truyện dài] THIÊN THẦN VÀ ÁC QUỶ - Dan Brown

  1. #11
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 49


    Lúc này, chỉ có Langdon và Vittoria đang đứng trước cánh cửa đôi hai lớp bằng đồng dẫn vào sảnh chính của Nhà mái vòm bí mật. Những tấm thảm treo tường cực lớn chạy dọc mọi mảng tường, nền đá cẩm thạch của gian phòng lớn chẳng hề ăn nhập với một dãy camera không dây được lắp ngay sát hình trạm trổ các tiểu thiên sứ trên trần nhà. Langdon đặt tên ngay cho kiểu trang trí này là Phục Hưng Chết. Ngay bên cạnh lối vào có một tấm biển đồng.
    ARCHIVIO VATLCANO(1)
    Curatore, Padre Jaqui Tomas(1)
    Cha Jaqui Tomaso. Langdon nhận ra cái tên trong những bức thư khước từ mà anh vẫn để nguyên trong ngăn kéo. Thưa ông Langdon, tôi rất lấy làm tiếc khi phải viết bức thư này để từ chối việc…
    Tiếc. Láo toét. Từ khi triều đại của Jaqui Tomaso bắt đầu, Langdon chưa thấy bất kỳ nhà khoa học Mỹ không theo Thiên Chúa chính thống nào được cấp phép vào Nhà mái vòm bí mật của Vatican. Người giữ đền, giới khoa học vẫn thường gọi ông ta như thế. Jaqui Tomaso chắc chắn là vị thủ thư cứng nhắc nhất thế giới.
    Đẩy cửa để bước vào lối đi có mái vòm dẫn vào đại sảnh chính, Langdon mơ hồ có cảm giác là sẽ thấy cha Jaqui trong bộ quân phục; đầu đội mũ bảo hiểm, tay cầm khẩu bazôca đang đứng gác. Nhưng thực ra chẳng thấy có ai hết.
    Yên tĩnh. Chỉ có ánh sáng dịu.
    Nhà mái vòm Vatican, giấc mơ cả đời của Langdon.
    Đưa mắt nhìn khắp căn phòng thiêng liêng một lượt, anh không khỏi tự cảm thấy hổ thẹn. Langdon nhận ra rằng mình thật là viển vông và ngây ngô. Suốt bao nhiêu năm nay, anh đã mường tượng ra một căn phòng hoàn toàn khác. Anh đã nghĩ về những giá sách lớn, bụi bặm bám đầy trên những cuốn sách rách tơi tả, các tu sĩ thì dùng ánh nến và ánh sáng từ những khung cửa kính màu để tra cứu danh mục, còn các thầy tu thì miệt mài bên những cuốn sách.
    Sai toét.
    Thoạt nhìn, căn phòng giống như một cái nhà chứa máy bay được phân chia thành vô số sân chơi quần vợt biệt lập. Dĩ nhiên là Langdon hiểu công dụng của những lớp vỏ bọc bằng kính này; anh không ngạc nhiên khi nhìn thấy chúng. Hơi ẩm và nhiệt độ cao sẽ nhanh chóng huỷ hoại những tấm giấy da cừu và da bê cổ.
    Để bảo vệ sách theo đúng quy chuẩn thì cần phải có những cái ***g kính như thế này - những mái vòm kính có tác dụng khử hơi ẩm và axít tự nhiên trong không khí. Langdon đã rất nhiều lần vào bên trong những ***g kính kiểu này, nhưng bao giờ anh cũng có một cảm giác bất an… cảm giác vừa bước vào một cái thùng kín mít, nguồn cung cấp khí ôxi hoàn toàn phụ thuộc vào một nhân viên thủ thư xa lạ.
    Hiện lên mờ mờ dưới nguồn sáng nhạt từ cuối mỗi dãy, tất cả các ***g kính đều có vẻ tăm tối, thậm chí hơi ma quái. Trong vùng bóng tối được bao kín bởi những ***g kính, Langdon như trông thấy vô vàn bóng ma khổng lồ, tầng tầng lớp lớp trên những giá sách cao ngất, nặng trĩu lịch sử. Quả là đáng sợ.
    Hình như cả Vittoria cũng đang cảm thấy y như thế. Đứng sát bên anh, cô lặng lẽ quan sát những ***g kính trong suốt.
    Họ không có nhiều thời gian, và Langdon lập tức tìm khắp căn phòng lớn mờ tối để tìm cuốn danh mục tra cứu - một cuốn bách khoa toàn thư trong đó có tên của những cuốn sách lưu trữ tại đây. Nhưng chỉ thấy vài chiếc máy tính cá nhân đặt rải rác quanh phòng. có vẻ như ở đây họ sử dụng Biblion, toàn bộ danh mục tra cứu đã được nhập vào máy tính.
    Vittoria có vẻ đầy hi vọng:
    - Thế thì đỡ tốn thời gian.
    Langdon thầm ước giá anh cũng có thể lạc quan như cô gái trẻ, nhưng có vẻ như họ có khá nhiều tin xấu. Anh bước lại bên một cái máy và bắt đầu gõ vào bàn phím. Những âu lo trong đầu anh ngay lập tức được xác thực.
    - Chính ra họ nên dùng hệ thống kiểu cũ thì hơn.
    - Tại sao?
    Anh rời chiếc máy:
    - Bởi vì theo hệ thống đó thì những cuốn sách thật không có mã số bảo vệ. Tôi không nghĩ rằng tất cả các nhà vật lý đều là những tin tặc bẩm sinh.
    Vittoria lắc đầu:
    - Nhưng tôi có thể bắt lũ hến mở miệng, vấn đề là thế.
    Langdon hít một hơi thật sâu và quay lại nhìn nhũng vòm kính kỳ quái bên trong gian đại sảnh. Anh bước đến bên vòm kính gần nhất và nheo mắt nhìn vào bên trong. Bên trong lớp kính thấp thoáng những hình khối khá quen thuộc đối với Langdon: các kệ sách, hộp đựng giấy da, và quầy kiểm tra. Anh ngước mắt nhìn ký hiệu chỉ dẫn điện tử đang phát sáng ở cuối vòm kính. Giống như mọi thư viện khác, những bảng điện tử này cho biết những cuốn sách trên giá thuộc loại nào. Anh đọc những đề mục trên đó và bước dọc theo bức tường kính trong suốt.
    PIETRO L EREMITA(3)… … LE CROCIATE… URBANO(4) II… LEVANT(5)…
    "Chúng được phân loại, - anh nhận xét. - Nhưng không xếp theo thứ tự bảng chữ cái tên tác giả. - Langdon không hề cảm thấy ngạc nhiên. Các thư viện cổ không bao giờ được sắp xếp theo trật tự bảng chữ cái, vì có rất nhiều tác giả vô danh. Tên cuốn sách cũng không có tác dụng, vì rất nhiều tài liệu lịch sử là những bức thư không có tiêu đề, thậm chí chỉ là một mẩu giấy. Hầu hết tài liệu được xếp theo niên đại. Đáng tiếc là tài liệu ở đây không được tổ chức theo cả hai kiểu trên.
    Langdon cảm thấy lượng thời gian quý giá đang dần cạn kiệt:
    - Hình như Vatican có kiểu sắp xếp riêng thì phải.
    - Lạ thật.
    Langdon xem lại các đề mục một lần nữa. Những tài liệu này thuộc về những thế kỷ khác nhau, nhưng tất cả các từ khoá đều thể hiện cùng một mối liên hệ.
    - Tôi nghĩ là họ sắp xếp theo chủ đề.
    - Theo chủ đề à? - Vittoria thốt lên, vẻ không đồng tình. - Nghe không mấy thuyết phục.
    Thật ra, thì Langdon thầm nghĩ, chính ra đây mới là cách sắp xếp hiệu quả nhất. Anh vẫn thường khuyến khích sinh viên của mình cố đạt được cái nhìn tổng quát về nội dung của một giai đoạn nghệ thuật thay vì bị lạc lối giữa một rừng những tên tuổi, ngày tháng và các tác phẩm cụ thể. Hình như Nhà mái vòm Vatican sắp xếp tài liệu của họ theo triết lý đó. Quả là tân tiến…
    - Mọi tài liệu trong vòm kính này đều liên quan đến cuộc Thập tự chinh. - Lúc này anh đã thấy vững tin hơn. - Đó chính là chủ đề của kho lưu trữ này.
    Mọi thứ. Những bằng chứng lịch sử, thư từ, tác phẩm nghệ thuật, thống kê xã hội học, những phân tích mới đây tất cả đều tập trung vào một chỗ… như khích lệ người đọc tìm hiểu sâu hơn về đề tài. Giỏi thật.
    Vittoria nhíu mày:
    - Nhưng các dữ liệu đồng thời cũng liên quan đến các lĩnh vực khác nữa chứ.
    - Cho nên họ mới dùng các ký hiệu này để chú thích. - Langdon chỉ tay vào những mảnh nhựa nhiều màu được cài vào giữa những tập tài liệu. - Chúng chỉ ra những tài liệu liên quan đến đế tài lớn này còn nằm ở các khu khác nữa.
    - Đúng thế thật. - Vittoria đáp, có vẻ như không muốn tranh cãi nữa. Cô đứng chống nạnh, đưa mắt nhìn khắp gian đại sảnh rộng mênh mông, rồi quay sang nhìn Langdon.
    - Thưa giáo sư, tên của cuốn sách mà chúng ta đang tìm là gì vậy?
    Langdon không nén nổi nụ cười mãn nguyện. Anh vẫn còn chưa hết bàng hoàng và sung sướng vì được đặt chân vào căn phòng này. Không phải trong khu này, anh thầm nghĩ. Nó ở đâu đó trong vùng tối kia thôi, và đang đợi ta.
    - Theo tôi nào, - Langdon bảo cô gái. Anh nhanh nhẹn sải bước dọc theo vòm kính ngoài cùng, vừa đi vừa đọc những bảng chỉ dẫn mới. - Cô còn nhớ những gì tôi kể về Con đường ánh sáng không? Về cách thức tuyển mộ thành viên mới của hội Illuminati ấy?
    - Cuộc săn lùng kho báu, - Vittoria vừa đáp vừa theo sát anh.
    - Vấn đề của hội Illuminati là sau khi đã đặt các ám hiệu ở đúng chỗ cần thiết thì phải nghĩ cách để cho giới khoa học biết về sự tồn tại của con đường đó.
    - Rất lôgíc. - Vittoria nói - Nếu không thì làm gì có ai biết mà đi tìm Đúng thế. Mà giả sử có nghe nói đến con đường đó thì các nhà khoa học cũng không biết bắt đầu tìm kiếm từ điểm nào. Thành Rome vô cùng rộng lớn.
    - Đúng thế.
    Langdon tiếp tục bước dọc theo vòm kính thứ hai, vừa nói vừa dọc lướt qua những bảng chỉ dẫn. - Cách đây khoảng 15 năm, một số nhà sử học ở trường đại học Sorbonne và tôi đã cùng phát hiện được một loạt thư tay của hội Illuminati, trong đó có rất nhiều lời ám chỉ đến segno.
    - Dấu hiệu. Tiết lộ về sự tồn tại của con đường và điểm khởi đầu của nó.
    - Đúng thế, và từ đó đến nay, rất nhiều chuyên gia nghiên cứu về Illuminati, kể cả bản thân tôi, đã phát hiện thêm nhiều bức thư khác có nói bóng gió đến segno. Ngày nay ai cũng thừa nhận rằng những đầu mối đó quả thực có tồn tại và Galileo đã công bố rộng rãi về chúng trong giới khoa học mà Vatican không hề hay biết.
    - Bằng cách nào vậy?
    - Không rõ, nhưng rất có thể bằng các ấn bản. Trong suốt quãng đời còn lại của mình, ông đã cho in rất nhiều cuốn sách và bài báo.
    - Mà Vatican lại không hề hay biết. Thế thì quá mạo hiểm.
    - Đúng thế. Tuy nhiên, segno đã được phát tán rộng rãi.
    - Nhưng đã có ai thực sự tìm ra chúng chưa?
    - Chưa. Nhưng bất cứ khi nào xuất hiện sự ám chỉ tới segno - trong nhật ký của hội Tam Điểm, trong những bài báo cáo khoa học cổ xưa, trong những bức thư của hội Illuminati - nó luôn được nhắc tới thông qua một con số.
    - 666 phải không?
    Langdon mỉm cười:
    - Thực ra là 503
    - Nghĩa là gì?
    - Chưa ai luận ra được nghĩa của con số đó. Tôi trở nên nghiện con số 503, và đã thử tất cả mọi cách để tìm ra ý nghĩa của nó - số học, phân tích bản đồ, cả độ cao nữa. - Langdon đã đến cuối sảnh và bắt đầu xem xét vòm kế tiếp, miệng vẫn nói: - Sau nhiều năm tôi cũng chỉ biết được rằng nó bắt đầu bằng chữ số 5, một trong những con số thiêng của hội Illuminati. - Chợt Langdon ngừng lời.
    - Tôi đoán anh vừa chợt hiểu ra nghĩa của nó, vì thế cho nên chúng ta mới vào tận đây.
    - Đúng thế. Langdon đáp, anh chợt thấy tràn ngập tự hào về thành quả lao động của mình. - Cô đã nghe nói tới một cuốn sách của Galileo có tiêu đề là Dialogo(6) chưa?
    - Có chứ. Nó được giới khoa học coi là cuốn sách bán chạy nhất mọi thời đại.
    Sách bán chạy không thể hiện hết được ý nghĩa, nhưng Langdon hiểu ý Vittoria. Vào đầu những năm 1630, Galileo muốn xuất bản một cuốn sách ủng hộ mô hình nhật tâm của Copecnic, nhưng toà thánh cương quyết không cho phép Galileo phát hành cuốn sách nếu ông không thêm vào đó một minh chứng thuyết phục cho mô hình địa tâm của nhà thờ - mô hình mà Galileo biết là hoàn toàn sai lầm. Không còn cách nào khác, ông buộc phải chấp nhận yêu sách của nhà thờ và cho xuất bản một cuốn sách gồm hai phần tương xứng để bàn về cả hai mô hình - một đúng, một sai.
    - Chắc cô cũng đã biết, - Langdon nói tiếp, - dù đã làm thế, cuốn sách vẫn bị coi là dị giáo, và Vatican đã cho giam lỏng Galileo tại nhà.
    - Làm phúc đôi khi lại phải tội thế đấy.
    Langdon mỉm cười.
    - Đúng thế. Và Galileo tỏ ra rất ngoan cường.
    Trong thời gian bị giam lỏng tại gia, ông vẫn bí mật viết một cuốn sách khác ít được biết đến hơn, cuốn sách mà nhiều người vẫn thường nhầm là Dialogo. Cuốn này có tiêu đề là Discorsi(7).
    Vittoria gật đầu đống tình:
    - Tôi cũng đã nghe nói về cuốn sách đó Luận về Thuỷ triều.
    Langdon dừng phắt lại, ngạc nhiên vì cô gái trẻ thế mà đã nghe nói tới cuốn sách được xuất bản bí mật, luận giải về chuyển động của hành tinh và tác động của nó đối với thuỷ triều.
    - Này giáo sư, - Vittoria nói, - Anh đang nói chuyện với một nhà nghiên cứu hải dương học người Ý có một người cha rất tôn thờ Galileo đấy.
    Langdon cười lớn. Dù sao thì họ cũng không tìm cuốn Discorsi làm gì. Anh tiếp tục giải thích với cô gái rằng Discorsi không phải là cuốn sách duy nhất mà Galileo đã bí mật viết trong thời gian bị giam lỏng. Các sử gia tin rằng ông còn viết một cuốn nữa tiêu đề là Diagramma.
    - Diagramma della Verita, - Langdon nói, - Biểu đồ chân lý.
    - Chưa thấy ai nhắc tới cuốn đó bao giờ.
    - Chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Diagramma là cuốn sách bí mật nhất của Galileo - được cho là chứa đựng những kiến thức khoa học mà ông không được phép công khai trình bày. Giống như những bản thảo trước đó của Galileo, một người bạn của ông đã bí mật đem Diagramma ra khỏi Rome và lặng lẽ xuất bản ở Hà Lan. Nó nhanh chóng trở thành cuốn sách bí mật được yêu thích của giới học giả châu Âu. Sau đó thì Vatican biết tin về cuốn sách, và họ đã tổ chức cả một chiến dịch để thiêu huỷ nó.
    Lúc này Vittoria tỏ vẻ hố nghi:
    - Và anh cho rằng Diagramma nói đến đầu mối đó à? Segno ấy mà. Thông tin về Con đường ánh sáng ấy mà.
    - Diagramma chính là cách để Galileo công bố về nó. Cái này thì tôi tin chắc. - Langdon đến bên vòm kính thứ ba và tiếp tục đọc các tấm biển chú thích. - Các chuyên gia về văn thư lưu trữ vẫn tìm kiếm cuốn sách này suốt bao nhiêu năm nay. Nhưng sau chiến dịch thiêu huỷ của Vatican, cộng thêm chỉ số bảo quản thấp của cuốn sách, thì dường như nó không còn tồn tại trên trái đất này nữa.
    - Chỉ số bảo quản nghĩa là gì vậy?
    - Độ bền ấy mà. Các nhân viên lưu trữ đánh giá mức độ bền vững của tài liệu bằng thang điểm mười. Diagramma được in trên giấy gió làm từ bột cỏ nến. Rất giống loại khăn ăn bằng giấy ngày nay. Tuổi thọ của nó không thể vượt quá một thế kỷ.
    - Sao người ta không chọn chất liệu khác bến hơn nhỉ?
    - Theo lệnh của Galileo. Đề bảo vệ các đồ đệ của ông ấy. Khi bị bắt quả tang mang theo tài liệu này, các nhà khoa học chỉ việc quăng nó vào nước để phi tang. Để phá huỷ bằng chứng thì loại giấy đó rất tuyệt, nhưng để lưu trữ thì không. Nhiều người cho rằng một cuốn Diagramma vẫn còn tồn tại đến sau thế kỷ 18.
    - Một à? - Vittoria dường như đầy hi vọng. Cô gái đưa mắt nhìn khắp gian sảnh rộng. - Và nó đang ở đây sao?
    - Vatican tìm được một bản ở Hà Lan ngay sau khi Galileo qua đời Suốt mấy năm liền tôi đã gửi đơn xin được đọc cuốn sách đó. Tôi biết nội dung của cuốn này mà.
    Dường như đã hiểu rõ ý định của Langdon, Vittoria cũng bắt đầu bước dọc theo vòm kính kế bên, chăm chú xem các biển chú thích. Tốc độ tìm kiếm bắt đầu tăng lên gấp đôi.
    - Cảm ơn cô. - Anh nói - Chúng ta cần tìm một biển chú thích nào đó có nội dung là Galileo, khoa học, nhà khoa học. Nhìn thấy nó là cô nhận ra ngay.
    - Được rồi. Nhưng anh vẫn chưa giải thích làm thế nào mà anh đoán được rằng Diagramma có chứa các đầu mối. Chắc nó có liên quan đến con số 503 trong các bức thư của hội Illuminati chứ?
    Langdon mỉm cười:
    - Đúng vậy. Cũng mất một thời gian, nhưng rồi tôi phát hiện ra rằng 503 thực ra là một mã số rất đơn giản. Rõ ràng là mã số đó dùng để chỉ Diagramma.
    Trong thoáng chốc, tâm trí Langdon quay về với thời điểm anh tình cờ phát hiện ra ý nghĩa đó: ngày 16 tháng 8. Cách đây hai năm. Lúc ấy anh đang đứng bên hồ nước, dự đám cưới con trai cửa một người bạn. Tiếng nhạc rộn ràng vang lên khi đám rước dâu vượt qua hồ nước một cách độc đáo: bằng một chiếc bè lớn.
    Chiếc bè đó được trang hoàng bằng rất nhiều hoa. Trên thân bè là số hiệu DCII - được sơn bằng chữ số La Mã, đầy vẻ tự hào.
    Không hiểu, Langdon hỏi bố của cô dâu:
    - Sao lại 602?
    - 602 nào?
    Langdon chỉ tay vào số hiệu:
    - DCII chính là cách viết theo kiểu La Mã của 602.
    - Ông ta cười lớn:
    - Không phải ký tự La Mã gì đâu. Chỉ là tên của chiếc bè này thôi mà.
    - Bè DCII à?
    Ông ta gật đầu:
    - Viết tắt của Dick và Connie II.
    Langdon tự nhận thấy rằng mình quả thật là ngô nghê. Dick và Connie chính là tên của đôi uyên ương trẻ. Chiếc bè đã được đặt tên theo hai bạn trẻ may mắn đó.
    - Thế còn DCI thì sao rồi?
    Ông ta rên rỉ:
    - Hôm qua nó bị chìm trong khi hạ thuỷ mất rồi.
    Langdon cười phá lên:
    - Tôi rất lấy làm tiếc. - Anh quay lại nhìn thân bè một lần nữa. Chẳng khác gì phiên bản thu nhỏ của QEII. Một giây sau, anh chợt nghĩ ra.
    Lúc này Langdon quay sang Vittoria:
    - Như tôi đã nói với cô, 503 là một loại mật mã. Đấy là cách mà hội Illuminati dùng để ám chỉ một chữ số La Mã. Dùng ký tự La Mã để viết thì 503 sẽ thành…
    - DIII.
    Langdon ngước mắt lên:
    - Cô nhanh trí thật đấy. Xin đừng nói với tôi là cô cũng là người của Illuminati.
    Cô gái cười phá lên:
    - Tôi vẫn thường xuyên dùng ký tự La Mã để đặt tên cho các vỉa địa tầng của đại dương mà.
    Thảo nào, Langdon thầm nghĩ. Chúng ta cũng khá giông nhau đấy.
    Vittoria ngước lên nhìn anh và hỏi:
    - Vậy thì DIII nghĩa là gì?
    - DI, DII, DIII là những cách viết tắt rất cổ. Các nhà khoa học thuở trước vẫn dùng những ký tự này để chỉ ba cuốn sách của Galileo mà mọi người hay nhầm lẫn với nhau.
    Vittoria hít một hơi thật sâu:
    - Dialogo... Discorsi… Diagramma.
    - D-một, D-hai, D-ba. Đều bàn về khoa học. Đều gây nhiều tranh cãi 503 chính là DIII. Diagramma. Cuốn sách thứ ba của ông ấy.
    Vittoria tỏ ra lo lắng:
    - Nhưng như thế vẫn chưa giải thích được điều gì. Nếu như segno, đầu mối, một kiểu truyền bá cho Con đường ánh sáng thực sự có trong cuốn sách đó thì tại sao Vatican lại không phát hiện ra khi họ tìm được cuốn sách?
    - Có thể họ đã đọc cuốn này rồi, nhưng không để ý. Cô hãy nhớ phương châm của Illuminati: Che giấu thông tin bằng hình thức công khai. Nguỵ trang. Segno chắc chắn cũng tuân theo tôn chỉ đó - công khai. Và những người không hiểu được nó sẽ chẳng nhận ra điều gì cả.
    - Nghĩa là sao?
    - Nghĩa là Galileo đã che giấu rất tài tình. Theo một số tài liệu sử học thì segno được thể hiện theo một cách thức mà hội Illuminati gọi là Linga Pura(8).
    Ngôn ngữ tinh tuý à?
    - Đúng thế.
    - Toán học phải không?
    - Tôi cũng đoán thế. Có vẻ khá rõ ràng. Galileo là một nhà khoa học và độc giả ông ấy hướng tới là các nhà bác học. Toán học chính là thứ ngôn ngữ lôgíc để chuyển tải chân lý. Tên của cuốn sách là Diagramma, cho nên rất có thể các sơ đồ toán học cũng là một phần của đầu mối.
    Vittoria có vẻ yên tâm hơn một chút:
    - Chắc là Galileo đã phát minh ra một loại ký hiệu toán học mà các tu sĩ không nhận ra được.
    - Cô không tin lắm thì phải. - Langdon hỏi, chân vẫn bước dọc thèo vòm kính.
    - Không. Cái chính là vì cả anh cũng có tin đâu. Nếu anh tin chắc rằng DIII chính là Diagramma thì sao không công bố? Để một người khác tiếp cận được với Nhà mái vòm Vatican có thể đến đây để kiểm chứng điều đó một cách nhanh chóng.
    - Tôi không thích công bố. Langdon đáp. - Tôi đã phải trải qua bao khó nhọc mới tìm được thông tin đó, cho nên… - Anh chợt im bặt, sượng sùng.
    - Anh muốn hưởng vinh quang.
    Langdon thấy máu dồn lên mặt:
    - Nói cách khác thì… cô nói đúng đấy.
    - Anh không cần phải ngượng về điều đó. Anh đang nói chuyện với một nhà khoa học cơ mà. Một là công bố, hai là diệt vong. Ở CERN, chúng tôi vẫn thường nói với nhau là "Chứng minh hay là bóp chết".
    - Không chỉ vì chuyện tôi muốn là người đầu tiên làm điều đó. Tôi sợ rằng nếu một người không thích hợp nào đó tìm thấy thông tin trong Diagramma thì đầu mối sẽ biến mất.
    - Những người không thích hợp chính là Vatican sao?
    - Không phải là họ không thích hợp, mà là toà thánh luôn xem thường những ảnh hưởng của Illuminati. Đầu thế kỷ XX, Vatican thậm chí còn tuyên bố rằng Illuminati chỉ là sản phẩm của những trí tưởng tượng viển vông. Giới tăng lữ cho rằng chẳng cần phải bận tâm đến trào lưu bài Thiên Chúa giáo đang len lỏi vào từng ngõ ngách của các nhà băng, trường đại học cũng như hệ thống chính trị của họ.
    Động từ thời hiện tại chứ, Robert Langdon tự nhắc bản thân. Hiện nay, trào lưu bài trừ Thiên Chúa giáo đang len lỏi vào từng ngõ ngách các nhà băng, trường đại học cũng như hệ thông chính trị của họ.
    Anh cho rằng rất có thể Vatican sẽ chôn vùi bất kỳ dấu hiệu nào liên quan đến các mối đe doạ từ hội Illuminati à?
    - Có thể lắm chứ. Bất kỳ mối đe doạ nào, dù là thật hay tưởng tượng, đều góp phần làm lung lay niềm tin vào sức mạnh của nhà thờ.
    - Một câu hỏi nữa nhé. - Bỗng nhiên Vittoria đứng lại và nhìn Langdon như thể anh là người ngoài hành tinh - Anh nói nghiêm túc không đấy?
    Langdon cũng dừng bước:
    - Ý cô là sao?
    - Tôi muốn hỏi có phải đây thực sự là kế hoạch cứu nguy cho toà thánh của anh hay không?
    Langdon không dám chắc anh vừa nhìn thấy gì trong ánh mắt của cô gái trẻ, sự thương hại đầy hài hước, hay cảm giác hốt hoảng thực sự.
    - Cô muốn nói đến việc tìm cuốn Diagramma à?
    - Không, tôi muốn hỏi việc tìm cuốn Diagramma, xác định vị trí của segno 400 năm tuổi, giải một số mã toán học, rồi lần theo dấu những tác phẩm điêu khắc cổ mà chỉ có những nhà khoa học ưu tú nhất trong lịch sử mới có thể lần ra được… tất cả những việc đó trong vòng bơn giờ đồng hồ à?
    Langdon nhún vai:
    - Nếu cô có ý kiến gì khác thì tôi rất sẵn lòng lắng nghe.
    Chú thích:
    (1) Archivio Vaticano: Nhà mái vòm Vatican.
    (2) Curatore, Padre Jaqui Tomaso: Người quản lý, cha Jaqui Tomaso.
    (3) Pietro l erenmita: Peter - thầy tu khổ hạnh.
    (4) Urbano: Thành phố.
    (5) Levant: Miền cận Đông của vùng Địa Trung Hải.
    (6) Dialogo: Đối thoại.
    (7) Discorsi: Những bài phát biểu.
    (8) Linga Pura: Ngôn ngữ thuần tuý.


    Chương 50


    Đứng bên ngoài vòm kính số 9, Robert Langdon đọc những tấm biển gài trên giá sách.
    BRAHE… CLAVIUS… COPERNICUS… KEPLER… NEWTON…
    Đọc lại những cái tên đó một lần nữa, anh thấy chột dạ. Các nhà khoa học đều ở đây cả. Còn Galileo thì sao không thấy?
    Anh quay sang nhìn Vittoria, cô gái đang xem xét một vòm kính khác gần đó.
    - Tôi tìm được đúng chủ đề rồi, nhưng chả thấy Galileo đâu cả.
    - Có đấy! - Cô gái đáp, nheo mắt chỉ tay vào vòm kính bên cạnh. Ông ấy trong này này. Hi vọng anh mang theo kính, vì toàn bộ vòm này đều là về Galileo hết.
    Langdon chạy lại. Vittoria nói đúng. Tất cả các biển chú thích trong vòm số 10 đều ghi cùng một cái tên.
    IL PROCESSO GALILEANO(1)
    Langdon à lên một tiếng, lúc này anh đã hiểu vì sao một mình Galileo chiếm trọn cả vòm kính.
    - Vụ án Galileo. - Langdon kinh ngạc nhìn những kệ sách đằng sau lớp kính. - Những thủ tục pháp lý dai dẳng và tốn kém nhất trong lịch sử Vatican. 14 năm và 600 triệu lia. Tất cả đều nằm ở đây.
    - Khá nhiều tài liệu pháp lý đấy chứ.
    - Đã mấy thế kỷ rồi mà các thủ tục loại này có thay đổi gì mấy đâu.
    - Giống như lũ cá mập ấy mà.
    Langdon sải bước đến bên một cái nút khá lớn màu vàng bên cạnh vòm kính. Anh ấn nút, một loạt bóng điện bên trong vòm kính nhấp nháy rồi sáng lên. Ánh sáng màu đỏ sẫm, khiến cho toàn bộ vòm kính biến thành một cái hộp toả sáng màu đỏ thắm… một mê cung những kệ sách đầy chất ngất.
    - Chúa ơi. - Vittoria có vẻ kinh hãi. - Chúng ta đang làm việc hay đang phơi nắng đây.
    - Giấy da cừu và da dê rất dễ mất màu, cho nên các bóng đèn lắp trong vòm kính lúc nào cũng tối màu.
    - Vào trong này thì phát điên lên mất.
    Còn hơn thấy chứ, Langdon thầm nghĩ, chân bước lại bên cánh cửa dẫn vào trong vòm.
    - Xin cảnh báo trước với cô là khí ôxi chính là chất ôxi hoá, cho nên các vòm kín kiểu này đều chứa rất ít ôxi. Bên trong vòm rất giống vùng chân không. Hô hấp sẽ khó khăn hơn đấy.
    - Này, các vị Hồng y Giáo chủ già cả mà còn chịu được nữa là.
    Đúng thế, Langdon thầm nghĩ. Hi vọng chúng ta cũng được may mắn giông họ.
    Cửa vào trong vòm là một cái cửa xoay điện tử loại đơn.
    Langdon đã để ý thấy bốn cái nút xếp thành hàng bên trong cánh cửa, từ mỗi vị trí chỉ có thể bấm được một nút. Khi có người ấn nút, cánh cửa này sẽ tự động quay ngược chiều nửa vòng trước khi dừng lại - chu trình chuẩn để cách ly bầu không khí bên trong vòm với bên ngoài.
    - Khi nào tôi vào xong thì cô hãy nhấn nút và theo tôi. - Anh dặn dò. - Trong đó độ ẩm chỉ là 8%, hãy chuẩn bị tinh thần là sẽ có cảm giác khô miệng.
    Langdon bước vào vị trí và nhấn nút. Cánh cửa kêu rì rì rồi bắt đầu quay. Chân bước theo cánh cửa quay vào trong, Langdon chuẩn bị tinh thần cho cảm giác sốc trong những giây đầu tiên khi bước vào vòm kính kín. Bước vào vòm kính kín kiểu này không khác gì bay lên đến độ cao trên 6000 mét tính từ mặt biển trong vòng một tích tắc. Nhiều người cảm thấy buồn nôn và đau đầu. Gấp đôi tầm nhidn, gấp đôi trở ngại, Langdon tự nhắc mình câu thần chú vẫn được các nhân viên lưu trữ rất ưa chuộng. Hai tai anh như muốn nổ tung. Có tiếng không khí rít mạnh, cánh cửa ngừng xoay.
    Langdon đã ở bên trong vòm.
    Điều trước tiên Langdon nhận thấy là không khí bên trong vòm loãng hơn anh tưởng. Có vẻ như Vatican nâng niu những vòm kính của họ hơn nhiều so với tất cả mọi kho lưu trữ khác. Anh cố kìm cảm giác muốn nôn oẹ, và thư giãn các cơ ***g ngực trong khi các mao dẫn trong cả hai lá phổi đang nở ra hết cỡ. Cảm giác nôn nao qua đi khá nhanh. Chẳng khác nào chui vào trong bụng cá voi, anh thầm nghĩ bài tập bơi 50 vòng quanh bể bơi ở trường đại học cũng có lúc phát huy tác dụng. Hơi thở đã trở lại bình thường, Langdon bắt đầu nhìn quanh. Dù lớp kính bao xung quanh hoàn toàn trong suốt anh vẫn thấy có cảm giác lo âu quen thuộc. Mình ở trong cái hộp kín, anh thầm nghĩ. Cái hộp kín đỏ như máu.
    Cánh cửa xoay lại kêu rì rì sau lưng Langdon, anh quay lại nhìn, Vittoria cũng đang vào trong vòm. Vừa vào đến nơi, cô lập tức bị chảy nước mắt và thở một cách nặng nhọc.
    - Chỉ mất một phút thôi. Nếu cô thấy choáng váng thì cúi đầu xuống.
    - Tôi… thấy… - Vittoria nói khó nhọc, - như mang nhầm bình khí lúc lặn xuống… biển.
    Langdon đợi cho cô gái trở lại bình thường, anh biết là Vittoria sẽ chịu đựng được. Trông cô gái trẻ này rất săn chắc và khỏe mạnh, khác hẳn bà cựu sinh viên ốm ho già lão mà dạo trước anh phải dẫn vào khu vòm kính lại thư viện trường Widener. Bà ta thở mạnh đến nỗi suýt văng cả mấy cái răng giả ra ngoài. Đến khi kết thúc chuyến đi thì Langdon gần như phải hô hấp nhân tạo cho bà già khổ sở đó.
    Đỡ hơn rồi chứ? - Anh hỏi.
    Vittoria gật đầu.
    - Tôi đã một lần đi thử chiếc máy bay đáng nguyền rủa của viện cô, nên thấy rất nể cô.
    Câu nói đùa của anh khiến cô gái mỉm cười:
    - Cảm động quá.
    Langdon với tay lên chiếc hộp gắn cạnh cánh cửa và lấy ra một dôi găng tay cô-tông màu trắng.
    - Lắm lệ bộ thế cơ à? - Vittoria hỏi.
    - Vì tay có axít. Nếu không có găng thì không thể sờ vào sách được Cô cũng phải đeo vào.
    Vittoria lấy găng.
    - Chúng ta còn bao nhiêu lâu nữa?
    Langdon kiểm tra chiếc đồng hồ đeo tay có hình chuột Mickey:
    - Giờ là 7 giờ.
    - Chỉ có khoảng một giờ để tìm quyển sách thôi.
    - Thực ra thì không được nhiều thế đâu. - Langdon chỉ tay vào thiết bị lọc khí trên nóc vòm:
    - Bình thường thì người quản lý sẽ bật hệ thống tái ôxi hoá mỗi khi có người vào trong vòm, nhưng hôm nay thì không. 20 phút thôi, lâu hơn thế thì chúng ta sẽ chết ngạt.
    Dưới ánh sáng màu đỏ, trông Vittoria nhợt nhạt hẳn đi.
    Langdon mỉm cười, vuốt thẳng chiếc găng trên tay:
    - Chứng minh hay là chết, Vittoria ạ. Chú Mickey này bắt đầu đếm thời gian rồi đấy.
    Chú thích:
    (1) Il processo Galileano: Vụ kiện của Galileo.


    Chương 51

    Phóng viên đài BBC Gunther Glick cứ chòng chọc nhìn ống nghe điện thoại đang cầm trên tay đến 10 giây rồi mới gác máy.
    Từ phía sau xe, Chinita Macri chăm chú quan sát anh:
    - Chuyện gì thế? Ai đấy?
    Glick quay lại, cảm giác như một đứa trẻ vừa nhận được quà Giáng sinh nhưng vẫn chưa dám tin đó thực sự là quà của mình.
    - Có người vừa báo tin. Trong toà thánh có chuyện. Chuyện đó xưa nay người ta vẫn gọi là Mật nghị Hồng y.
    Chinita đáp.
    - Có gì mà báo.
    - Không, chuyện khác cơ. - Chuyện tày trời. Anh tự hỏi không biết những gì người kia nói với anh có xảy ra thật không. Glick xấu hồ nhận thấy mình đang cầu cho nó xảy ra thật. - Nếu tôi nói là bốn Hồng y Giáo chủ đã bị bắt cóc và sẽ bị hành quyết tại bốn nhà thờ trong đêm nay thì sao?
    - Thì có kẻ rỗi hơi ở đài truyền hình muốn trêu anh cho đỡ buồn chứ sao.
    - Thế nếu tôi bảo là có người sẽ báo cho chúng ta biết chính xác địa điểm của vụ hành quyết đầu tiên thì sao?
    - Nói tôi nghe, anh vừa nói chuyện với gã phải gió nào thế?
    - Anh ta không chịu xưng tên.
    - Chắc vì anh ta báo tin vịt.
    Glick đã đoán từ trước rằng Chinita sẽ nghi ngờ, nhưng người phụ nữ này quên mất rằng suốt gần 10 năm làm việc cho tờ British Tattler, anh đã biết quá rõ những kẻ mất trí và dối trá. Người này không thuộc hai loại đó. Anh ta tỉnh táo đến mức lạnh lùng. Lôgíc lắm. Gần 8 giờ tôi sẽ gọi lại, và cho anh biết chính xác địa điểm hành quyết. Những hình ảnh ghi được sẽ khiến anh nổi tiếng ngay lập tức, anh ta đã nói đúng y như thế. Khi Glick hỏi vì sao anh ta lại báo tin cho anh, câu trả lời đặc giọng Trung Đông cũng thật lạnh lùng. Phương tiện truyền thông là cánh tay phải của tình trạng hỗn loạn.
    - Anh ta còn bảo tôi một điều nữa cơ. - Glick nói với Chinita.
    - Cái gì? - Bảo là Elvis Presley mới được bầu làm Giáo hoàng à?
    - Chị kết nối cho tôi cơ sở dữ liệu của đài đi. - Hoóc-môn adrenaline đang tăng lên rất nhanh trong cơ thể Glick. - Tôi muốn biết chúng ta đang đưa những tin gì liên quan đến anh chàng này.
    - Anh chàng nào?
    - Nối hộ đi mà.
    Macri thở dài và bắt đầu kết nối với cơ sớ dữ liệu.
    - Phải mất một phút đấy.
    Glick bắt đầu thấy đầu óc chao đảo. - Người vừa gọi đến còn hỏi bằng được liệu chúng ta có nhân viên quay phim không.
    - Kỹ thuật viên hình ảnh chứ.
    - Và liệu chúng ta có truyền hình trực tiếp được không.
    - Trên tần số 1.537 MHZ. Có chuyện gì nào? - Tiếng bíp, đã kết nối với cơ sở dữ liệu. - Rồi, đã nối xong. Anh cần biết về ai đây?
    Glick đọc từ khoá cho Chinita.
    Macri quay lại nhìn anh chằm chằm:
    - Anh đùa đấy à?


    Chương 52


    Cách sắp xếp bên trong vòm kính số 10 không giống như Langdon nghĩ, và cũng chẳng thấy cuốn Diagramma ở chỗ những cuốn sách cùng loại của Galileo. Không thể truy cập vào chương trình Biblion và danh mục tra cứu, Vittoria và Langdon lúc này đang lâm vào thế bế tắc.
    Có chắc là Diagramma ở trong thư viện này không? - Vittoria hỏi.
    Chắc mà. Tên cuốn sách còn có cả trong danh mục Uficcio delta Propaganda delle Fede(1)
    - Được rồi. Chỉ cần anh khẳng định chắc chắn. - Vittoria tìm bên phải, Langdon tìm bên trái.
    Langdon bắt đầu tìm theo cách thủ công. Anh phải cố nén lòng để không dừng lại và đọc tất cả những báu vật đang hiện ra trước mắt. Quả là một bộ sưu tập quý giá. Nhà phân tích… Người đưa tin Những bức thư… Bức thư của nữ công tước Christina… Lời xin lỗi gửi Galileo.
    Cuối cùng thì chính Vittoria lại là người tìm thấy vật báu ở gần cuối vòm. Cô kêu to:
    - Diagramma della Verita!(2)
    Từ đầu kia của vòm kính Langdon chạy ngay lại:
    - Đâu?
    Vittoria đưa tay chỉ, vã ngay lập tức Langdon hiểu vì sao trước đó họ không tên thấy cuốn sách. Bản thảo này được đựng trong một cái hộp chứ không nằm trên kệ. Những tài liệu không được đóng thành quyển vẫn thường được cất giữ trong hộp. Không còn chút nghi ngờ nào về tài liệu bên trong hộp nữa, bên ngoài hộp in dán nhãn đàng hoàng:
    DIAGRAMMA DELLA VERITA.
    Galileo Galilei, 1639
    Langdon quỳ xuống, tim đập thình thịch.
    - Diagramma. - Anh tươi cười nhìn Vittoria - Cừ lắm. Nào, giúp tôi lôi cái hộp ra!
    Vittoria cũng quỳ xuống cạnh Langdon, cả hai cùng lấy đà.
    Chiếc khay kim loại đỡ cái hộp lập tức quay hướng về phía họ, nắp hộp lộ hẳn ra ngoài.
    - Không có khoá sao? - Vittoria ngạc nhiên trước cái chết được thiết kế quá đơn giản.
    - Không bao giờ. Đôi khi cần phải sơ tán tài liệu một cách nhanh chóng. Do lụt lội hoặc hoả hoạn.
    - Thế thì mở ra thôi.
    Langdon không đợi phải giục đến lần thứ hai. Một phần vì giấc mơ khoa học bao lâu nay đang ở ngay trước mắt, phần vì không khí trong vòm rất loãng, anh không còn lòng dạ nào mà chần chừ. Langdon tháo chốt và nhấc nắp hộp ra. Có một cái túi nhỏ màu đen bằng vải thô nằm dưới đáy hộp. Độ thoáng khí của loại vải này là vô cùng quan trọng trong việc bảo quản cuốn sách. Dùng cả hai tay, Langdon nhẹ nhàng nâng cái túi vải lên theo đúng phương ngang, rồi nhấc ra khỏi hộp.
    - Cứ tưởng phải tìm được cả một hòm châu báu, hoá ra lại được một vật giống như cái vỏ gối bé tí hin thế này. - Vittoria nói.
    - Theo tôi!
    Langdon bảo cô gái. Hai tay nâng cái túi vải như thể trong đó là một lễ vật hiến tế linh thiêng nào đó. Langdon bước lại bên bàn kiểm tra bằng kính trong vòm. Chiếc bàn được để chính giữa vòm chủ yếu là để hạn chế việc di chuyển tài liệu lưu trữ, tuy nhiên hầu hết các học giả đều yêu thích vị trí kín đáo giữa các kệ sách này. Những phát kiến làm nên sự nghiệp đều được thực hiện tại những vòm kính lưu trữ hàng đầu thế giới kiểu này, và trong khi làm việc, không một học giả nào muốn để cho đối thủ nhòm qua kính và biết chính xác họ đang làm gì.
    Langdon đặt cái túi lên bàn và mở cúc cài. Vittoria đứng sát cạnh anh. Lục thùng dụng cụ ngay cạnh bàn, Langdon lấy ra một cái kẹp mà cánh nhân viên lưu trữ vẫn gọi đùa là chũm choẹ con một loại nhíp kẹp lớn có gắn những miếng kim loại mỏng hình tròn ở đầu hai tay kẹp. Vừa cảm thấy vô cùng phấn khích,
    Langdon vừa lo sợ, biết đâu đây chỉ là một giấc mơ và khi bất thình lình tỉnh dậy tại Cambridge, anh lập tức trông thấy một đống bài vở của sinh viên cần phải chấm ngay. Hít một hơi thật sâu Langdon mở túi. Tay run run, anh lùa kẹp vào trong túi.
    - Bình tĩnh nào. - Vittoria lên tiếng. - Giấy thôi, không phải bạch kim đâu.
    Langdon đưa kẹp vào cạnh xấp giấy, thận trọng dùng lực kẹp lại Sau đó, thay vì rút tập tài liệu ra, anh giữ yên nó tại chỗ rồi từ từ gỡ chiếc túi vải - một thủ tục bắt buộc đối với các nhân viên lưu trữ để giảm tối đa lực ma sát tác động lên tài liệu. Rút túi vải ra, bật đèn bàn lên xong, Langdon mới thôi không nín thở nữa.
    Luồng sáng từ chiếc đèn bàn dưới tấm kính hắt ngược lên, khiến cho Vittoria trông hao hao giống bóng ma.
    - Giấy cỡ nhỏ. - Cô gái nhận xét, giọng đầy thành kính.
    Langdon gật đầu. Xấp giấy trước mặt họ trông rất giống một cuốn tiểu thuyết bìa mềm đã bị long gáy. Có thể thấy rằng trang giấy được trang trí cầu kỳ trên cùng chính là bìa tác phầm, có tiêu đề ngày hoàn thành, và tên tác giả do chính tay Galileo tự viết.
    Trong khoảnh khắc này, Langdon hoàn toàn không còn nhớ đến khu chung cư chật chội của anh, sự mệt mỏi của bản thân, cũng như lình huống cấp bách và ngặt nghèo đã khiến anh có mặt ở nơi này. Langdon ngẩn ngơ ngắm nhìn cuốn sách. Trong những khoảnh khắc được chạm tay vào lịch sử như thế này,
    Langdon thường mụ mị đi vì một niềm thành kính đến tột cùng… giống như khi được ngắm nhìn những nét vẽ tài hoa trên khuôn mặt của nàng Mona Lisa.
    Xấp giấy nến màu vàng câm lặng trước mặt Langdon lúc này đúng là bản thảo viết tay của tác giả và đúng với niên đại giả định của nó. Nếu không kể đến độ bạc màu không thể tránh khỏi, cuốn sách rõ ràng đã được bảo quản một cách hoàn hảo. Có những vết rạn màu không đáng kể, độ mịn của giấy nến cũng không còn được hoàn hảo lắm. Nhưng nhìn một cách tổng quan thì quả là được bảo quản rất tốt. Langdon quan sát kỹ đường viền trang trí bằng tay quanh trang bìa, mắt anh bắt đầu mờ đi do độ ẩm quá thấp. Vittoria không thốt nên lời.
    - Đưa cho tôi con dao nhỏ nào. - Langdon chỉ cho Vittoria cái khay đựng đầy những dụng cụ dùng cho công tác lưu trữ làm bằng thép không rỉ. Vittoria lấy con dao cho anh. Langdon đưa tay đón lấy. Con dao thuộc loại tốt. Langdon dùng tay kiểm tra bề mặt của dao để đảm bảo rằng không có dị vật cứng nào mắc ở đó. Rất thận trọng, anh lách lưỡi dao dưới vỏ hộp rồi nậy nhẹ, chiếc nắp bật tung.
    Trang đầu tiên đầy những dòng chữ bay bướm cầu kỳ đến mức gần như không thể đọc nổi. Langdon nhận thấy ngay lập tức không có sơ đồ hay con số nào hết. Đây là một bài luận.
    - Thuyết nhật tâm. - Vittoria dịch tiêu đề trên tờ giấy đôi. Cô nhìn lướt khắp trang giấy. - Hình như Galileo muốn phàn đối bằng được thuyết địa tâm. Tiếng Ý cổ, cho nên tôi không thể dịch được.
    - Quên chuyện đó đi, chúng ta đang tìm kiếm toán học. Langdon đáp. - Ngôn ngữ thuần khiết.
    Anh lại dùng con dao giở sang trang tiếp theo. Một bài luận nữa. Không thấy toán học và sơ đồ Bàn tay đeo găng của Langdon bắt đầu nhơm nhớp mồ hôi.
    - Chuyển động của các hành tinh. - Vittoria lại tiếp tục dịch tiêu đề bài luận.
    Langdon nhíu mày. Giờ mà là một thời điểm nào khác thì Langdon đã say sưa dọc kỹ bài này; không thể tin được là mô hình chuyển động của các hành tinh mà NASA đang sử dụng, kết quả của quá trình quan sát bằng các loại kính thiên văn hiện đại nhất, lại giống y xì những phán đoán ban đầu của Galileo.
    - Không có toán học. - Vittoria nói - Bài này nói về chuyển động lùi và quỹ đạo hình e-líp hay cái gì đó tương tự.
    Quỹ đạo e-líp. Langdon nghĩ đến vô số những rắc rối mà Galileo đã phải đương đầu khi ông miêu tả rằng các hành tinh chuyển động theo quỹ đạo hình e-líp. Vatican ưa thích sự hoàn hảo của quỹ đạo hình tròn và khăng khăng cho rằng quỹ đạo di chuyển chuẩn xác phải là hình tròn. Trái lại, hội Illuminati của Galileo lại cho rằng hình e-líp cũng rất hoàn hảo, và tôn sùng đặc điểm đối ngẫu và nhị tâm của nó. Đến tận thời hiện đại, hình e- líp vẫn còn rất phố biến trong các phù điêu và biểu tượng của hội Tam Điểm.
    - Trang tiếp đi. - Vittoria nói.
    Langdon lật trang giấy.
    - Chu kỳ của mặt trăng và thuỷ triều. - Vittoria nói - Không có chữ số không thấy sơ đồ.
    Langdon lại giở tiếp. Không thấy gì. Anh tiếp tục lật thêm hơn chục trang nữa. Không thấy gì. Không thấy gì. Không thấy gì.
    - Tôì cứ tưởng ông ấy là nhà toán học chứ. - Vittoria nói - Ở đây thấy toàn chữ là chữ.
    Langdon thấy không khỉ bắt đầu loãng dần. Hi vọng cũng đang tiêu tan dần. Xấp giấy thì đang mỏng dần đi.
    - Trang này không có gì. - Vittoria nói - Không toán học. Có mấy ngày tháng, vài chữ số, nhưng không thấy gì có hơi hướng đóng vai trò đầu mối cả.
    Langdon lật nốt trang giấy cuối cùng và thở dài. Cũng vẫn chỉ là một bài luận.
    - Cuốn sách mỏng thật. - Vittoria nhíu mày.
    Langdon gật đầu.
    - Merdra. - Dân thành Rome vẫn thường nói thế.
    Chết tiệt, Langdon rủa thầm. Hình của anh phản chiếu trong lớp kính trông đầy mai mỉa, chẳng khác gì hình ảnh phản chiếu sáng nay nhìn anh từ bên ngoài cửa sổ máy bay. Con ma già khú đế.
    - Chắc chắn phải có cái gì chứ. - Langdon lên tiếng, chính anh cũng bị giật mình vì giọng nói khàn đặc của bản thân. - Segno chỉ ở quanh đâu đây thôi. Tôi biết mà.
    - Hay suy đoán của anh về DIII không chính xác?
    Langdon quay lại, chằm chằm nhìn cô gái.
    - Thôi được - Vittoria nhượng bộ. - Suy luận đó rất lôgíc. Hay đầu mối không phải dưới dạng toán học?
    - Ngôn ngữ thuần khiết. Còn là cái gì khác được đây?
    - Nghệ thuật thì sao?
    - Cả cuốn sách không có sơ đồ hay tranh minh hoạ nào.
    - Tôi chỉ biết là ngôn ngữ thuần khiết tức là không phải tiếng Ý.
    - Lôgíc nhất vẫn là toán học.
    - Tôi cũng thấy thế.
    Langdon không thể chấp nhận thất bại nhanh chóng đến vậy.
    - Chắc các con số được viết bằng chữ. Toán học được diễn tả bằng lời thay vì bằng các phương trình.
    - Tôi sẽ dành thời gian đọc tất cả các trang vậy.
    - Chúng ta làm gì có thời gian. Phải chia đôi việc ra. - Langdon lật xấp giấy lại trang đầu. - Tôi biết chút ít tiếng Ý nên đọc được các con số. - Anh dùng dao gạt xấp giấy ra làm hai, kiểu như những người chơi bạc chia đôi xấp bài, rồi đặt gần chục trang trước mặt Vittoria. - Chắc chắn ở trong này. Tôi biết mà.
    Vittoria cúi xuống và dùng tay lật trang giấy đầu tiên.
    - Dùng dao! - Langdon nói ngay: Anh lấy một con dao nữa trong khay và đưa cho cô gái. - Phải dùng dao!
    - Tôi đeo găng rồi còn gì. - Vittoria làu bàu. - Làm sao mà hỏng được cơ chứ!
    - Thì cô cứ dùng dao đi.
    Vittoria cầm lấy con dao.
    - Anh có đang cảm thấy giống tôi không?
    - Căng thẳng á?
    - Không. Thiếu không khí.
    Rõ ràng là Langdon cũng đã bắt đầu cảm nhận thấy điều đó.
    Không khí hết nhanh hơn anh tưởng. Họ phải khẩn trương lên.
    Những vấn đề hóc búa thuộc lĩnh vực lưu trữ kiểu này không có gì xa lạ đối với anh, nhưng vẫn cần phải có thời gian. Không nói thêm một lời, Langdon cúi xuống dịch trang giấy đầu tiên.
    Hiện ra đi quỷ tặc, hiện ra đi nào.
    Chú thích:
    (1) Uficcio delta Propaganda delle Fede: Văn phòng quảng cáo.
    (2) Diagramma della Verita: Biểu đồ chân lý


    Chương 53


    Ở một địa điểm trong thành Rome, có một bóng đen lảng vảng quanh một con dốc lát đá dẫn xuống ga tàu điện ngầm. Lối đi cổ được thắp sáng bằng đuốc, khiến cho bầu không khí càng nóng nực và ngột ngạt. Từ trên đỉnh dốc vang lên tiếng nói hoảng hốt của những người đã có tuổi, vang vọng trong không gian chật hẹp tù túng.
    Vào đến trong ngách nhỏ, hắn nhìn thấy họ vẫn y nguyên như lúc hắn bỏ họ lại đó - bốn ông già trong trạng thái khiếp đảm, bị giam phía sau những song sắt rỉ ngoét của một căn phòng nhỏ.
    - Ngươi là ai? - Một người hỏi bằng tiếng Pháp. - Ngươi muốn gì ở chúng ta?
    - Này! - Một người khác nói tiếng Đức. - Thả chúng ta ra!
    - Ngươi có biết chúng ta là ai không? - Một người nữa hỏi bằng tiếng Anh, chất giọng Tây Ban Nha.
    - Tất cả im mồm! - Hắn ra lệnh, giọng rít lên đầy đã tâm.
    Một trong bốn ông già ấy, ông già người Ý nhìn sâu vào khoảng trống đen ngòm trong mắt hắn và quả quyết rằng vừa trông thấy địa ngục. Chúa hãy cứu giúp chúng con, ông cầu nguyện.
    Tên sát thủ xem đồng hồ một lần nữa và quay lại nhìn những nạn nhân của hắn.
    - Đến lúc rồi. - Hắn tuyên bố. - Lão nào đầu tiên đây?

  2. #12
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 54


    Trong vòm lưu trữ số 10, Robert Langdon đang săm soi từng chữ trên trang giấy trước mật, miệng lẩm nhẩm các số đếm bằng tiếng Ý. Ngàn… trăm… một hai, ba… năm mươi.. Anh cần những gì liên quan đến các con số. Bất kì thứ gì!
    Dò đến hết trang, anh dùng con dao lật trang giấy qua một bên.
    Trong khi gài sẵn lưỡi dao vào trang giấy tiếp theo, Langdon luống cuống, không cầm vững nổi con đao nữa. Mấy phút sau, anh cúi xuống và thấy con dao trong tay đã bị quẳng sang một bên từ lúc nào, anh đang dùng tay để lật các trang giấy. Ôi! Langdon kêu thầm, cảm thấy mình thật không phải phép chút nào. Khả năng kiểm soát bản thân của anh đang giảm đi nhanh chóng do thiếu ôxi. Sau khi chết chắc mình sẽ bị thiêu trong hoả ngục dành riêng cho các nhân viên lưu trữ mật thôi.
    - Thế có phải tiện hơn hẳn không. - Vittoria thốt lên khi thấy Langdon dùng tay để lật tài liệu. Cô cũng quẳng con dao sang một bên và làm hệt như vậy.
    - Thấy gì không?
    Vittoria lắc đầu:
    - Chẳng có dấu vết nào của toán học cả. Tôi đang đọc lướt đây… nhưng chẳng tìm thấy gì giống đầu mối cả.
    Langdon tiếp tục đọc xấp tài liệu, cảm thấy mỗi lúc một khó khăn hơn. Khả năng đọc tiếng Ý của anh vốn đã kém, lại thêm chữ viết nhỏ, ngôn ngữ cổ nên rất chậm. Vittoria đọc xong trước, đang lật trang cuối cùng với vẻ thất vọng. Rồi đột nhiên lại đặt tờ giấy xuống để xem xét một cách kỹ lưỡng. Xem xong trang cuối cùng, Langdon vừa rủa thầm trong bụng vừa ngước mắt lên nhìn Vittoria. Cô gái đang nheo mắt, chăm chú nhìn vào một điểm trên trang giấy.
    - Gì thế? - Anh hỏi.
    Vittoria không ngẩng lên:
    - Các trang của anh có chú thích ở dưới không?
    - Không thấy có. Sao?
    - Trang này có chú thích. Rất mờ, lại đúng vào chỗ giấy nhàu.
    Langdon nhìn sang xem cô gái thấy cái gì, nhưng chỉ thấy mỗi số trang ghi ở góc trên bên phải của tờ giấy. Trang 5. Phải sau giây lát anh mới nhận ra sự trùng lặp ngẫu nhiên của con số 5.
    Trang số 5. Năm, môn đồ của thuyên Pitago, sao năm cánh, hội Illuminati. Langdon băn khoăn không hiểu có phải hội Illuminati đã chọn đúng trang 5 để gài đầu mối vào hay không. Trong ánh sáng màu đỏ sẫm mờ mờ ảo ảo đang phủ trùm lên cả hai người,
    Langdon chợt thấy lóe lên một tia hi vọng mong manh.
    - Chú thích đó có phải toán học không?
    Vittoria lắc đầu:
    - Chữ viết. Chỉ có một dòng. Khổ chữ nhỏ vô cùng. Gần như không đọc nổi.
    Hi vọng tiêu tan.
    - Đáng ra phải là toán học chứ. Ngôn ngữ thuần khiết cơ mà.
    - Đúng thế, tôi cũng biết thế. - Cô gái lưỡng lự - Nhưng mà rất có thể anh muốn nghe nội dung chú thích này đấy.
    Vittoria có vẻ khá hào hứng.
    - Đọc đi!
    Dí sát mặt vào tờ giấy, Vittoria đọc lo:
    - Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng.
    - Con đường ánh sáng à? - Langdon thấy các cơ bắp căng lên. - Lại xem nào?
    - Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng.
    Nghe xong, Langdon lại thấy tràn trề hi vọng. Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng. Chưa thể biết ngay dòng chữ này sẽ giúp gì cho họ, nhưng rõ ràng là nó đề cập trực tiếp đến Con đường ánh sáng. Con đường ánh sáng. Thử thách linh thiêng. Đầu óc anh như một cỗ máy phải hoạt động hết tốc lực nhưng lại không được cấp đủ năng lượng.
    - Dịch chính xác chưa đấy?
    Vittoria chần chừ:
    - Thật ra thì… - Cô gái ngước lên nhìn anh,
    Ánh mắt là lạ:
    - Thực ra thì tôi không hề dịch. Dòng này viết bằng tiếng Anh.
    Trong thoáng chốc, Langdon tưởng vòm kính quá kín đã ảnh hưởng đến thính lực của mình.
    - Tiếng Anh à?
    Vittoria đẩy tờ giấy tới trước mặt anh, Langdon đọc dòng chữ nhỏ xíu ở lề dưới.
    Con đường ánh sáng thử thách linh thiêng.
    - Tiếng Anh à? Tiếng Anh đóng vai trò gì trong một cuốn sách viết bằng tiếng Ý nhỉ?
    Vittoria nhún vai. Có vẻ như cả cô gái cũng đang cảm thấy choáng váng.
    - Hay chính tiếng Anh là cái mà họ cho là ngôn ngữ thuần khiết? Nó là ngôn ngữ quốc tế của khoa học mà. Ở CERN chúng tôi chỉ sử dụng mỗi thứ tiếng này thôi.
    - Nhưng đây là từ thế kỷ 17 cơ mà. - Langdon phản bác. - ở Ý hồi đó làm gì có ai nói tiếng Anh, thậm chí cả… -. Chợt nhận ra điều mình sắp nói, anh ngừng lời. - Thậm chí cả…giới tăng lữ nữa.
    Trí não Langdon căng ra như sợi dây đàn, và những lời nói của anh mỗi lúc một gấp gấp hơn.
    - Vào thế kỷ 17, tiếng Anh chính là ngôn ngữ mà Vatican chưa để mắt tới. Họ giao tiếp với nhau bằng tiếng Ý, tiếng La-tinh, tiếng Đức, thậm chí cả tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha, nhưng trong toà thánh không một ai biết tiếng Anh. Họ coi đó là thứ ngôn ngữ uế tạp nên chỉ phù hợp với những kẻ phàm phu tục tử như Chaucer và Shakespeare.
    Langdon chợt nghĩ tới bốn phân nhóm của hội Illuminati: Đất, Nước, Khí và Lửa. Truyền thuyết về những cái tên bằng tiếng Anh của các nhóm này bất giác trở nên sáng rõ lạ kỳ. Anh cho rằng tiếng Anh được Galileo coi là ngôn ngữ thuần khiết là vì Vatican không sử dụng ngôn ngữ này à?
    - Đúng thế. Hoặc là bằng cách dùng tiếng Anh để chỉ đầu mối, Galileo muốn bịt mắt Vatican một cách kín đáo.
    - Nhưng có thấy đầu mối nào đâu. - Vittoria không đồng tình. - Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng. Câu này có ý nghĩa quái quỷ gì vậy?
    Đúng thế thật, Langdon ngẫm nghĩ. Dù sao thì dòng chữ này cũng chẳng mang lại lợi ích gì. Nhưng rồi anh chợt nhận ra một chi tiết kỳ lạ khi lặp đi lặp lại những từ ngữ ấy trong đầu. Lạ thật, Langdon nghĩ. Nếu thế thật thì sao đây?
    - Phải ra khỏi đây ngay. - Vittoria nói, giọng hổn hển.
    Langdon chẳng nghe thấy gì. Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng.
    - Đây là một dòng thơ ngũ âm viết theo nhịp Iambic(1). Bất thình lình anh nói lớn. - Năm cặp gồm những âm có trọng âm và không có trọng âm.
    Vittoria không hiểu:
    - Iambic là thế nào?
    Trong thoáng chốc, tâm trí Langdon chợt trở về với những buổi sáng chủ nhật ngồi trong lớp học Anh ngữ tại Học viện Phillips Exeter. Địa ngục trần gian. Hôm đó ngôi sao bóng rổ của trường Peter Greer không thể nào nhớ được những cặp âm cần thiết trong một dòng thơ viết theo thể Iambic của Shakespeare.
    Thầy Bissel, một giáo viên rất nhiệt tình và sôi nổi, đã nhảy lên bàn và gào to lên:
    - Greer, năm âm tiết! Hãy nghĩ đến những cái đĩa trong chạn bát nhà em mà xem! Lầu Năm góc! Năm cạnh! Năm! Năm! Năm! Thế!
    Năm cặp âm, Langdon nhớ lại. Theo định nghĩa thì mỗi cặp có hai âm tiết. Không ngờ sự nghiệp của anh lại dựa trên những liên tưởng kỳ lạ đến vậy. Iambic là một thể thơ rất cân đối dựa trên hai con số thiêng của hội Illuminati: số 5 và số 2!
    Tìm thấy rồi! Langdon muốn gạt ý nghĩ ấy ra khỏi tâm trí. Chỉ là sự trùng lặp ngẫu nhiên thôi mà! Nhưng nó vẫn cứ bám lấy anh. Năm… liên quan đến Pitago và ngôi sao năm cánh. Hai… chỉ sự tồn tại song song của mọi hiện tượng.
    Trong thoáng chốc, một ý nghĩ nữa khiến Langdon sững sờ.
    Thể thơ Iambic, do sự đơn giản của nó, vẫn được mệnh danh là thể thơ thuần khiết. Ngôn ngữ thuần khiết? Không lẽ đây chính là ngôn ngữ thuần khiết mà hội Illuminati vẫn nhắc đến? Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng…
    - Chà chà. - Vittoria thét lên.
    Langdon quay lại và thấy cô gái đang xoay ngược tờ giấy.
    Langdon chột dạ. Lại nữa à?
    - Câu thơ này không thể là biểu tượng đối xứng hai chiếu được đâu!
    - Không, không phải biểu tượng đối xứng hai chiều… nhưng mà… - Cô gái tiếp tục xoay xoay tờ giấy theo những góc vuông.
    - Cái gì thế!
    Vittoria ngẩng lên:
    - Đó không phải là dòng thơ duy nhất.
    - Còn dòng nữa à?
    Mỗi lề có một dòng. Trên, dưới, phải, trái. Có vẻ là một bài thơ.
    - Bốn dòng à? - Langdon xúc động đến nỗi nổi cả gai ốc. Galileo là nhà thơ ư? - Để tôi xem nào.
    Vittoria không chịu rời tờ giấy. Cô vẫn tiếp tục xoay tờ giấy theo những góc 90 độ.
    - Ban nãy tôi không nhìn thấy là vì chúng được in ở ngoài lề. - Cô gái dí sát mặt xuống tờ giấy - Chà, anh biết không, Galileo không tự viết những vần thơ này đâu.
    - Cái gì?
    - Thấy có chữ ký của John Milton.
    - John Milton à?
    Nhà thơ nổi tiếng người Anh, người đã viết tuyệt tác Thiên đường đã mất là người cùng thời với Galileo, và là người đầu tiên trong danh sách những người bị tình nghi có dính líu đến Illuminati. Từ lâu Langdon đã cho rằng những giai thoại về mối liên hệ giữa Milton và hội Illuminati của Galileo là đúng.
    Milton không những đã hành hương đến Rome năm 1638 để "tiếp kiến những người khai sáng", một chuyến đi được rất nhiều người biết tới mà ông còn có những buổi gặp gỡ với Galileo trong suốt thời gian nhà khoa học vĩ đại này bị giam lỏng tại gia. Những cuộc gặp này đã được ghi lại trong các bức hoạ Phục Hưng, đặc biệt là bức Galileo và Milton của Annibale Gatti hiện vẫn được trưng bày tại bảo tàng IMSS ở Florence.
    - Milton có biết Galileo, phải thế không? - cuối cùng thì Vittoria cũng chịu đưa cho Langdon tờ giấy. - Biết đâu vì lòng ái mộ mà ông ấy đã viết tặng Galileo bài thơ này.
    Môi bặm lại, Langdon đón lấy tờ giấy. Đặt trang giấy phầng phiu trên mặt đất, anh bắt đầu đọc dòng thơ ở lề trên. Rồi quay tờ giấy 90 độ, anh đọc hàng chữ in dọc theo lề phải. Xoay một lần nữa, anh đọc hàng chữ ở lề dưới, và cuối cùng là lề trái. Tất cả có bốn dòng. Dòng đầu tiên Vittoria phát hiện được thực ra là dòng thứ ba của bài thơ. Kinh ngạc đến sững sờ, anh đọc đi đọc lại bốn dòng chữ, xoay theo chiều kim đồng hồ: trên, phải, dưới, trái. Đọc xong, Langdon thở phào. Không còn nghi ngờ gì nữa.
    - Cô đã tìm ra, thưa cô Vetra.
    Cô gái khẽ cười:
    - Bây giờ chúng ta ra ngoài được chưa?
    - Tôi phải chép lại những dòng này cái đã. Cần phải tìm một cái bút chì và một tờ giấy.
    Vittoria lắc đầu:
    - Quên ý nghĩ đó đi thôi, thưa giáo sư. Làm gì có thời gian mà chép. Chuột Mickey đang kêu tích tắc kia kìa. - Cô gái giằng lấy tờ giấy trên tay Langdon và lao ra ngoài.
    Langdon đứng phắt dậy:
    - Không được mang tờ giấy ra ngoài! Làm thế thì…
    Nhưng Vittoria đã ra khỏi vòm kính.
    Chú thích:
    (1) Iambic: Một kiểu nhịp điệu trong văn vắn tiếng Anh gồm có sự xen kẽ giữa những âm tiết có trọng âm và không có trọng âm trong một dòng thơ.


    Chương 55


    Langdon và Vittoria chạy như bay ra khoảng sân trước cửa Nhà mái vòm bí mật. Không khí trong lành ùa mạnh vào hai lá phổi Langdon. Cảm giác hoa mắt nhanh chóng biến mất. Tuy nhiên, cảm giác tội lỗi thì không. Anh vừa đồng loã với hành động lấy cắp một thứ tài sản vô giá vốn được bảo vệ trong những vòm kính tốt nhất trên thế giới. Giáo chủ Thị thần vừa mới nói ban nãy, ta hoàn toàn tin tưởng ở con.
    - Nhanh chân lên. - Vittoria vừa nói vừa đi như chạy qua Via Borgia để về văn phòng của Tổng Tư lệnh Olivetti, tay vẫn cầm tờ giấy.
    - Nếu không khí ẩm bám vào tờ giấy nến đó thì…
    - Bình tĩnh nào. Khi nào giải mã xong, chúng ta sẽ trả tờ giấy thiêng số 5 này về vòm kính ngay lập tức.
    Langdon sải bước thật nhanh để theo cho kịp. Vượt qua cảm giác tội lỗi, anh vẫn thấy vô cùng kinh ngạc về những thông tin vừa có được. Hoá ra John Milton là thành viên của hội Illuminati. Chính ông ấy đã sáng tác bài thơ trong trang sách thiêng số 5 của Galileo mà Vatican không hề hay biết.
    Đi hết khoảng sân rộng, Vittoria đưa cho Langdon tờ giấy.
    - Có chắc là anh sẽ giải mã được bài thơ này không? Hay chúng ta vừa mất toi mấy nơ-ron thần kinh trong cái vòm kính ấy rồi?
    Langdon cẩn thận đón lấy tờ giấy rồi nhanh chóng đút vào túi áo khoác rộng nhất của mình, để tránh ánh mặt trời và hơi ẩm.
    - Tôi giải mã xong rồi.
    Vittoria dừng phắt lại:
    - Anh làm sao?
    Langdon vẫn đi tiếp. Vittoria hối hả bước theo:
    - Anh mới đọc có một lần mà! Tôi tưởng giải mã phải kỳ công lắm chứ!
    Langdon biết cô gái nói không sai, nhưng chỉ đọc một lần duy nhất là anh đã giải mã segno được ngay. Một khổ thơ viết theo nhịp Iambic vô cùng hoàn hảo, và bàn thờ đầu tiên của khoa học đã hiện ra rõ mồn một. Thật lòng mà nói thì thành công quá dễ dàng này khiến Langdon cảm thấy hơi bất ổn. Từ bé anh đã được giáo dục đức tính chăm chỉ lao động của người Thanh giáo.
    Trong tâm trí anh vẫn còn vang lên câu cách ngôn vùng New England mà cha anh rất hay đọc: Không khó khăn gian khổ mà vẫn đạt được tức là đã sai đường. Hi vọng câu nói này không phải lúc nào cũng đúng.
    - Tôi đã giải mã xong. - Anh vừa nói vừa rảo bước. -Tôi biết vụ hành quyết đầu tiên sẽ diễn ra ở đâu. Chúng ta phải cảnh báo cho Olivetti ngay lập tức.
    Vittoria gạn hỏi:
    - Làm thế nào mà anh biết ngay được thế? Cho tôi xem lại tờ giấy cái nào? - Cô gái nhanh nhẹn thò cánh tay mềm mại vào túi áo của Langdon rồi lôi tờ giấy ra ngoài.
    - Cẩn thận! Đừng có… - Langdon phản ứng.
    Vittoria mặc kệ. Tay mở rộng tờ giấy, cô nhẹ nhàng bước đi bên anh, cố tận dụng ánh sáng để xem cho kỹ. Cô gái bắt đầu ngâm nga đọc, Langdon giơ tay định lấy lại tờ giấy, nhưng lập tức bị cuốn hút bởi chất giọng trầm trầm êm ái đến không ngờ của Vittoria.
    Trong thoáng chốc, những vần điệu nhịp nhàng như đưa Langdon ngược về quá khứ… tưởng chừng như mình trở thành người cùng thời với Galileo, và đang nghe bài thơ lần đầu trong đời. biết rằng đây là một bước kiểm tra, là sơ đố, là đầu mối dẫn đến những bàn thờ khoa học… bốn cột mốc đánh dấu con đường. bí mật xuyên qua thành Rome. Những vần thơ đang được ngân lên từ đôi môi của Vittoria:
    Từ nấm mồ trần tục của Santi, lăng mộ hang quỷ
    Nguyên tố huyền bí hiển nhiên khắp thành Rome
    Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng
    Thiên thần dẫn lối trên hành trình cao cả.
    Vittoria đọc bài thơ hai lần, như thể muốn để cho những câu chữ kia tự ngân vang trong tĩnh lặng.
    Từ nấm mồ trần tục của Santi, lăng mộ hang quỷ
    Nguyên tố huyền bí hiển nhiên khắp thành Rome
    Nguyên tố huyền bí. Rõ quá rồi. Đất, Khí, Lửa, Gió. Các thành tố của khoa học, bốn mốc chỉ đường của hội Illuminati được nguỵ trang thành những tượng đài tôn giáo.
    - Mốc đầu tiên dường như là lăng mộ của Santi. - Vittoria nói.
    Langdon mỉm cười:
    - Tôi đã bảo là không đến nỗi quá khó mà lại!
    - Santi là ai? - Vittoria hào hứng hỏi. - Và mộ của ông ấy nằm ở đâu?
    Langdon cười một mình. Thật lạ, rất ít người biết đến Santi, họ của một trong những nghệ sĩ Phục Hưng nổi tiếng nhất. Tên riêng của ông thì cả thế giới đều biết đến… mới 25 tuổi, người nghệ sĩ có tài năng thiên bầm này đã được Giáo hoàng Julius đệ nhị tin cậy, và đến khi từ giã cõi đời ở tuổi 38, ông đã để lại cho hậu thế một di sản độc nhất vô nhị gồm những bức hoạ tuyệt tác trên tường. Santi là một vĩ nhân trong giới nghệ sĩ, và chỉ những nhân vật thật tầm cỡ mới được biết đến bằng tên riêng: Napoleon, Galileo, Jesus… và dĩ nhiên là những vị á thánh mà tên tuổi luôn được nhắc đến trong khuôn viên đại học Harvard như Sting, Madonna, Jewel, và cả một nghệ sĩ vốn tên là Prince, sau đổi thành XXX - biểu tượng mà Langdon đặt tên là "Hình chữ thập chìa khoá lưỡng tính".
    Langdon nói:
    - Santi là họ của nghệ sĩ Phục Hưng bậc thầy Raphael.
    Vittoria có vẻ ngạc nhiên:
    - Raphael à? Có thật là Raphael không?
    - Không thể có người nào khác. - Langdon tiếp tục sải bước về phía văn phòng của đội lính gác Thuỵ Sĩ.
    - Tức là con đường bắt đầu từ lăng mộ của Raphael à?
    - Hoàn toàn hợp lý. - Langdon vẫn bước tiếp. - Hội Illuminati vẫn thường coi các hoạ sĩ và nghệ sĩ điêu khắc vĩ đại là những thành viên danh dự của phong trào Khai sáng. Rất có thể họ đã chọn lăng mộ của Raphael như một cách để tôn vinh người nghệ sĩ này.
    Langdon còn biết rằng, cũng giống như nhiều nghệ sĩ bậc thầy khác, Raphael đã từng bị nghi ngờ có liên quan đến chủ nghĩa vô thần.
    Vittoria cẩn thận trả tờ giấy vào trong túi áo khoác của Langdon.
    - Raphael được chôn cất ở đâu?
    Langdon hít một hơi thật sâu:
    - Nghe có vẻ khó tin, nhưng ông ấy được an táng trong điện Pantheon.
    Vittoria hoài nghi:
    - Điện Pantheon à?
    - Raphael được chôn cất lại điện Pantheon.
    Quả thật Langdon hơi thất vọng, không ngờ điểm đầu tiên của con đường ánh sáng lại chính là điện Pantheon. Anh những tưởng bàn thờ số một của khoa học phải là một nơi nào đó yên tĩnh, khác hẳn các nhà thờ, nó phải là một nơi nào đó rất thanh tịnh. Ngay từ thế kỷ XVII, điện Pantheon được thiết kế với một mái vòm cực lớn có lỗ ở giữa, đã trở thành một trong những địa danh nổi tiếng nhất ở thành Rome.
    - Mà Pantheon có phải là nhà thờ không nhỉ? - Vittoria thắc mắc.
    - Nhà thờ Thiên Chúa cổ kính nhất ở Rome đấy.
    Vittoria lắc đầu:
    - Anh có thực sự tin rằng vị Hồng y Giáo chủ đầu tiên sẽ bị hành quyết ở điện Pantheon không? Đó đâu phải là một trong những điểm du lịch đông đúc nhất ở Rome.
    Langdon nhún vai:
    - Illuminati đã tuyên bố là họ muốn cả thế giới phải trông thấy. Hành quyết một vị Hồng y Giáo chủ ở Pantheon thì dĩ nhiên sẽ gây chú ý rồi.
    - Nhưng làm gì có kẻ nào dám táo tợn giết người ở điện Pantheon rồi tẩu thoát trót lọt được cơ chứ? Không thể có chuyện đó.
    - Không thể giống như việc bắt cóc bốn vị Hồng y Giáo chủ ngay tại Vatican chứ gì? Bài thơ này đã nêu chính xác địa điểm đó.
    - Và anh tin chắc là Raphael được an táng tại Pantheon à?
    - Tôi đã trông thấy mộ của ông ấy nhiều lần rồi.
    Vittoria gật đầu, nhưng có vẻ vẫn chưa tin tưởng lắm:
    - Mấy giờ rồi?
    Langdon xem đồng hồ:
    - 7 giờ 30 phút.
    - Điện Pantheon có xa không?
    - Khoảng độ một dặm. Còn kịp.
    - Bài thơ nói đến nấm mồ trần tục của Santi. Anh nghĩ xem còn có ý nghĩa gì khác nữa không?
    Langdon phăm phăm băng qua khoảng sân rộng của thánh đường Sentinel:
    - Trần lục à? Thực ra thì khắp thành Rome chẳng có nơi nào trần tục hơn điện Pantheon. Cái tên của nó bắt nguồn từ tên của một giáo phái vốn vẫn tiến hành các nghi lễ của họ tại đó: Pantheism, họ thờ tất cả các thần, đặc biệt là Mẹ Đất.
    Hồi còn học kiến trúc ở trường đại học, Langdon đã vô cùng kinh ngạc khi biết rằng kích thước của gian chính trong cung điện này liên quan đến nữ thần đất Gaia. Kích thước chính xác đến mức mái vòm hình cầu khống lồ vừa khít với cung điện, không lệch một li.
    - Được rồi. - Vittoria nói, có vẻ đã bị thuyết phục. - Thế còn cái hang quỷ? Từ nấm mồ trần tục của Santi, lăng mộ hang quỷ?
    Về điều này thì Langdon không được rõ lắm.
    - Rất có thể hang quỷ chính là oculus, - anh phỏng đoán - Là cái giếng trời hình tròn nổi tiếng trên mái điện Pantheon.
    Nhưng đấy là nhà thờ cơ mà. - Vittoria vừa nói vừa bước thoăn thoắt. - Sao họ lại gọi nó là hang quỷ?
    Chính bản thân Langdon cũng đã đắn đo về chi tiết này. Anh chưa bao giờ nghe nói tới cái tên hang quỷ, nhưng đã từng đọc một bài luận viết từ thế kỷ thứ VI, nội dung của nó lúc này bỗng trở nên thích hợp kỳ lạ. Thiên tài Bede đã từng viết rằng cái lỗ tròn trên mái điện Pantheon là do một con quỷ đã đục ra để thoát khỏi toà nhà sau khi được đức thánh cha Baniface đệ tử phong thánh.
    - Tại sao hội Illuminati lại dùng cái tên Santi trong khi hoạ sĩ này nổi tiếng khắp nơi với cái tên Raphael? - Vittoria hỏi khi hai người đi đến một khoảng sân nhỏ.
    - Cô hỏi nhiều thật đấy.
    - Cha tôi vẫn thường bảo thế.
    - Có thể là vì hai lí do. Thứ nhất, Raphael có quá nhiều âm tiết, và không hợp với nhịp thơ Iambic.
    - Có vẻ hơi suy diễn.
    Langdon đồng ý:
    - Thôi được, rất có thể dùng tên "Santi" là để cho đầu mối trở nên khó hiểu hơn, để đảm bảo rằng chỉ có người của phong trào Khai sáng mới hiểu được.
    Cách giải thích này cũng không thuyết phục được Vittoria:
    - Chắc chắn cả cái tên Santi cũng rất nổi tiếng khi Raphael còn sống.
    - Không nổi tiếng mới hay chứ. Phải rất danh giá mới được gọi bằng tên riêng. Raphael không thích người ta nhắc đến họ của mình, giống hệt các ca sĩ nhạc pop thời nay. Như Madonna chẳng hạn, cô ta có bao giờ dùng cái họ Ciccone của mình đâu.
    Vittoria có vẻ khoái trá:
    - Hoá ra anh biết họ của Madonna.
    Langdon hơi ngượng. Khi phải chung sống với 10.000 đứa trẻ vị thành niên, đầu óc con người ta rất dễ trở thành một mớ hổ lốn.
    Khi Langdon và Vittoria đang vượt qua cánh cổng cuối cùng để vào Văn phòng của đội lính gác Thuỵ Sĩ thì họ bất thần bị chặn lại.
    - Fennatevi!(1) Tiếng hô dõng dạc vang lên ngay sau lưng họ.
    Langdon và Vittoria quay lại, một khẩu súng trường đang chĩa thẳng vào cả hai.
    - Attento(2)! - Vittoria vừa lùi lại vừa thét lên. - Cẩn thận…
    - Non spostatevi(3) - Người lính gác ngắt lời, lách cách lên cò súng.
    - Soldato(4)! - Từ bên kia khoảng sân có người lên tiếng. Olivetti xuất hiện trước cửa trung tâm an ninh. - Để họ vào!
    Người lính gác có vẻ bối rối:
    - Ma, Signore, è una donna…
    - Cho vào! - Olivetti quát.
    - Signore, non posso(5)…
    - Ngay lập tức! Anh vừa được lệnh mới rồi đấy. Hai phút nữa đại tá Rocher sẽ thông báo tình hình với cả đội. Chúng ta phải tổ chức truy lùng.
    Với vẻ bối rối, người lính gác sải bước vào trung tâm an ninh.
    Olivetti từ từ tiến lại bên Langdon và Vittoria, vẻ rất nóng nảy:
    - Vào tận Nhà mái vòm bí mật của chúng tôi cơ à? Tôi muốn có một lời giải thích.
    - Chúng tôi có một tin tốt đây. - Langdon đáp.
    Olivetti nhíu mày:
    - Còn chưa biết có tốt thật hay không.
    Chú thích:
    (1) Fennatevi: Đứng lại.
    (2) Attento: Cấn thận.
    (3) Non spostatevi: Đứng im.
    (4) Soldato: Người lính.
    (5) Signore, non posso: Thưa ngài, không thể…


    Chương 56


    Bốn chiếc xe Alfa Romeo 155 T-Sparks rú ga lao như bay dọc con đường Via Dei Coronari chẳng khác gì máy bay phản lực đang cất cánh từ đường băng. Trên xe là hơn chục lính gác Thuỵ Sĩ mặc thường phục được trang bị súng lục bán tự động Cherchi-Pardini, hộp hơi cay, súng gây mê nòng dài. Ba xạ thủ mang súng laze.
    Từ ghế của mình cạnh người lái xe trên chiếc xe dẫn đầu, Olivetti quay lại nhìn Langdon và Vittoria, ánh mắt đầy giận dữ.
    - Các vị hứa hẹn với tôi là sẽ giải thích rõ ràng cặn kẽ, vậy mà chỉ có thế?
    Trong chiếc xe chật chội, Langdon cảm tưởng như bị bỏ tù:
    - Tôi hiểu là ông đang…
    - Này làm sao mà ông hiểu nổi cơ chứ! - Olivetti không bao giờ cao giọng, nhưng lúc này ông ta đang gằn từng lời nói - Ngay trong đêm diễn ra Mật nghị Hồng y, thế mà tôi phải cử những người lính được việc nhất đi ra khỏi phạm vi thành Vatican. Và giờ tôi lại còn phải bao vây điện Pantheon chỉ vì những lời phỏng đoán của một tay người Mỹ lạ hoắc sau khi gã đọc một bài thơ được sáng tác từ 400 năm trước. Đã thế tôi lại còn phải giao việc tìm kiếm phản vật chất cho những sĩ quan hạng hai nữa chứ!
    Langdon phải hết sức kìm chế mới ngăn được ý định lôi tờ giấy trong túi áo ra và dúi vào tận mặt Olivetti.
    - Tôi chỉ biết là những thông tin tôi tìm được nhắc đến mộ của Raphael, mà mộ của Raphael thì ở trong Pantheon.
    Người sĩ quan đang lái xe gật đầu:
    - Anh ấy nói đúng đấy, thưa chỉ huy. Tôi đã cùng với vợ…
    - Lái xe đi. - Olivetti cộc cằn. Ông ta lại quay về phía Langdon - Làm sao tên sát thủ có thể giết người rồi tẩu thoát ở một địa điểm đông đúc như thế được cơ chứ?
    - Tôi không biết. - Langdon đáp - Nhưng rõ ràng là hội Illuminati vô cùng cao tay. Họ đã đột nhập được vào CERN và Vatican. Phải nhờ vận may chúng ta mới được biết địa điểm hành quyết đầu tiên. Điện Pantheon là cơ hội duy nhất để ông có thể tóm được kẻ sát nhân.
    - Lại càng thêm mâu thuẫn. - Olivetti lớn tiếng. - Cơ hội duy nhất là sao? Ông vừa mới nói là có hẳn một con đường kia mà. Hàng loạt tín hiệu chỉ đường cơ mà. Nếu điện Pantheon là đúng thì chúng ta có thể lần theo các dấu hiệu đó. Chúng ta có bốn cơ hội để tóm cổ hắn.
    - Ban nãy tôi cũng có hi vọng đó. - Langdon đáp. - Và cách đây một thế kỷ thì… chúng ta cũng đã có cơ hội đó.
    Phát hiện ra bàn thờ khoa học đầu tiên chính là Pantheon là một sự kiện buồn vui lẫn lộn. Lịch sử quả là có lắm trò ma mãnh để trêu ngươi những người đeo đuổi nó. Khả năng những tác phẩm điêu khắc phong phú trong điện Pantheon còn y nguyên như cũ sau bao thế kỷ thật là mong manh. Bao lâu nay, Langdon vẫn khát khao được tìm thấy con đường này và được đặt chân đến thánh địa của hội Illuminati. Nhưng buồn thay, điều này giờ đây là không thể.
    - Cuối thế kỷ XVII, Vatican đã di chuyển và phá huỷ hầu hết các tác phầm điêu khắc trong điện Pantheon.
    Vittoria kinh ngạc:
    - Tại sao?
    - Vì chúng là tượng các vị thần Olympia. Đáng tiếc là đầu mối đầu tiên cũng đã bị mất… cùng với nó là…
    - Liệu còn có hi vọng tìm được con đường ánh sáng và những đầu mối khác hay không? - Vittoria hỏi.
    Langdon lắc đầu:
    - Chúng ta chỉ có một vận may duy nhất: điện Pantheon. Sau đó thì con đường ánh sáng bị mất dấu hoàn toàn.
    Olivetti trừng trừng nhìn hai người một hồi, rồi quay lên phía trước.
    - Quay lại! - ông ta gắt gỏng bảo người lái xe.
    Anh lái xe đánh xe sang vệ đường và nhấn phanh. Ba chiếc Alfa Romeo sau lưng họ cũng lập tức dừng lại. Cuộc truy lùng của đội lính gác Thuỵ Sĩ bỗng nhiên ngừng lại.
    - Ông làm cái gì thế? - Vittoria chất vấn.
    - Việc của tôi chứ còn cái gì. - Olivetti đáp, vẫn ngồi nguyên trên ghế, giọng ông ta lạnh như băng:
    - Thưa ông Langdon, khi ông hứa hẹn sẽ giải thích trên đường đến điện Pantheon, tôi tưởng là sẽ có một lời giải thích rõ ràng vì sao đội lính gác của chúng tôi phải có mặt ở đó. Nhưng sự thật không phải vậy. Vì để đến đây, tôi đã phải bỏ dở những công việc khác vô cùng quan trọng, và cũng vì những lời giải thích của ông về những vật hiến tế trinh tiết cũng như bài thơ cổ kia không hề rõ ràng, tôi không thể tiếp tục làm việc này được nữa. Tôi sẽ cho đừng điệp vụ này ngay lập tức.
    Ông ta rút máy bộ đàm, nhấn nút bật máy.
    Vittoria chộp lấy cánh tay Olivetti:
    - Ông không được làm thế.
    Olivetti dập máy bộ đàm, trợn cặp mắt vằn đỏ và nhìn Vittoria chòng chọc:
    - Cô đã bao giờ đến điện Pantheon chưa, thưa cô Vetra?
    - Chưa bao giờ, nhưng mà…
    Thế thì để tôi nói cho mà nghe, Pantheon là một căn phòng duy nhất. Căn phòng hình tròn xây bằng đá và xi măng. Chỉ có một lối vào. Không cửa sổ, chỉ có một lối vào duy nhất rất hẹp.
    Và lúc nào cũng có ít nhất bốn lính gác La Mã đứng canh ở đó để giữ cho điện thờ khỏi bị phá hoại bởi những kẻ khủng bố ngoại đạo và đám khách du lịch Gypsy láu cá.
    - Kết luận? - Vittoria lạnh lùng hỏi.
    Kết luận à? - Những ngón tay của Olivetti ghì chặt nệm ghế. - Kết luận là không thể có những chuyện như cô vừa nói! Cô có thể cho tôi ví dụ về khả năng có một Hồng y Giáo chủ bị sát hại ngay trong Pantheon được không? Làm thế nào mà kẻ xấu có thể qua mặt lính gác để đưa con tin vào bên trong điện? Olivetti nhoài hẳn người về phía sau, hơi thở sực mùi cà phê của ông ta lúc này phả thẳng vào mặt Langdon:
    - Bằng cách nào hả ông Langdon? Cho tôi một kịch bản xem nào.
    Langdon cảm tưởng như chiếc xe chật chội đang thu hẹp lại.
    - Làm sao mà biết được! Tôi có phải là kẻ sát nhân đâu mà biết hắn ta sẽ hành động kiểu nào! Tôi chỉ biết là…
    - Một kịch bản à?
    Vittoria đốp lại, giọng vô cùng điềm tĩnh:
    - Ông nghe thử nhé. Hắn dùng máy bay trực thăng, thả vị Hồng y Giáo chủ đã bị khắc dấu nung đỏ trên người qua lỗ tròn trên mái vòm. Nạn nhân thét lên thất thanh, rồi rơi xuống sàn đá cẩm thạch và chết.
    Tất cả mọi người trong xe đều quay đầu lại nhìn Vittoria chằm chằm. Langdon chẳng còn biết nói gì. Trí tưởng tượng của cô đáng sợ thật, cô gái ạ, lại còn nhanh nữa chứ.
    Olivetti nhíu mày:
    - Có thể, tôi thừa nhận… nhưng khó có thể…
    - Hay kẻ sát nhân cho Hồng y Giáo chủ uống thuốc, rồi đặt ông ấy lên xe lăn, đầy vào như kiểu người ta đẩy một vị khách du lịch cao tuổi. Vào đến bên trong, hắn dùng dao cắt cổ nạn nhân, rồi bước ra ngoài.
    Giả thuyết này khiến Olivetti thay đổi thái độ.
    Không tồi chút nào! Langdon thầm nghĩ.
    - Hoặc là kẻ sát nhân có thể… - Vittoria nói tiếp.
    - Tôi nghe rồi. - Olivetti ngắt lời. - Đủ rồi.
    Ông ta thở một hơi thật sâu. Có tiếng gõ côm cốp vào cửa sổ xe khiến mọi người giật nảy mình. Hoá ra là một sĩ quan ngồi trên chiếc xe theo sau.
    Olivetti hạ kính cửa sổ xuống.
    - Ổn cả chứ, thưa chỉ huy? - Người lính gác này mặc thường phục.
    Anh ta vén tay áo lên, để lộ ra chiếc đồng hồ nhà binh màu đen đeo trên cổ tay. - 7 giờ 40 rồi sếp ạ, chúng ta cần thời gian để vào đúng vị trí
    Olivetti trầm ngâm gật đầu, im lặng một hồi. Ông ta đi đi ngón tay trên kính cửa sổ, vẽ thành một vệt dài trên tấm kính phủ đầy bụi, mắt chăm chú nhìn hình ảnh của Langdon phản chiếu trong gương xe. Langdon thấy mình bị săm soi tỉ mỉ.
    Cuối cùng ông ta quay lại nói với người lính bên ngoài cửa sổ, giọng đầy miễn cưỡng:
    - Chia cả đội thành các nhóm độc lập. Các xe theo thứ tự đi về Piazza Della Rotunda, Via Degli Orfani, Piazza Sant Ignazio, và Sant Eustachio. Cự li là hai toà nhà tính từ mục tiêu. Vào đúng vị trí, nổ máy sẵn sàng và đợi lệnh tôi. Ba phút.
    - Tốt lắm, thưa chỉ huy. - Anh lính nói và quay về xe của mình.
    Langdon gật đầu nhìn Vittoria đầy tán thưởng. Cô gái cũng mỉm cười với anh. Trong thoáng chốc, Langdon cảm nhận thấy một sức hút mạnh mẽ, như thể một thỏi nam châm nào đó đang hút hai người lại gần nhau.
    Vẫn ngồi nguyên trên ghế, viên chỉ huy quay lại nhìn Langdon chòng chọc:
    - Thưa ông Langdon, mong rằng những phỏng đoán của ông là chính xác.
    Langdon mỉm cười, không được thoải mái lắm. sao mà sai được cơ chứ?


    Chương 57

    Cảm thấy chất cromolyn và leukotriene mát lạnh đang toả ra khắp cơ thể, làm giãn hai thanh quản và các mao mạch phổi, Maximilian Kohler, giám đốc của CERN mở mắt ra. Ông đã thở được bình thường. Kohler thấy mình đang nằm ở một phòng riêng trong khu trạm xá của CERN, chiếc xe lăn ở ngay cạnh giường.
    Kohler nhận thấy người ta đã mặc cho ông chiếc áo bệnh nhân bằng giấy, quần áo ông mặc lúc trước giờ được gấp gọn ghẽ và để ngay đầu giường. Từ ngoài cửa vọng vào tiếng nói chuyện của các cô y tá. Nằm im, nghe ngóng trong một phút, rồi hết sức nhẹ nhàng, ông trườn lên đầu giường, đưa tay với bộ quần áo. Vật lộn với hai cẳng chân bị liệt, Kohler tự mặc quần áo, sau đó trườn sang xe lăn.
    Cố nén cơn ho, ông dùng lay đẩy xe lăn ra cửa, thận trọng không dùng động cơ. Đến sát cánh cửa, Kohler nhòm ra ngoài.
    Sảnh ngoài không có ai.
    Lặng lẽ, Maximilian Kohler lẻn ra khỏi khu trạm xá.


    Chương 58

    17 giờ 46 phút… và 30 giây.
    Mặc dù đang nói chuyện qua máy bộ đàm, Olivetti cũng chỉ nói rất khẽ.
    Mặc chiếc áo khoác vải tuýt, ngồi ở ghế sau của chiếc xe Alfa Romeo đang đỗ tại quảng trường Concorde, cách điện Pantheon ba toà nhà, Langdon toát mồ hôi. Cạnh anh, Vittoria đang chăm chú theo dõi Olivetti ra những mệnh lệnh cuối cùng cho đội lính gác Thuỵ Sĩ.
    - Dàn quân thành vòng vây tám điểm. - Ông ta nói - Bao vây kín lối vào. Đối tượng có thể đã biết mặt các anh, nên phải nấp kín. Chỉ dùng vũ khí không sát thương. Bố trí một người cảnh giới mái vòm. Ưu tiên một là mục tiêu. Ưu tiên hai là tài sản.
    Lạy chúa tôi, Langdon cảm thấy ớn lạnh khi nghe Olivetti nói đến khả năng vị Hồng y Giáo chủ có thể bị hại. Ưu tiên hai là tài sản.
    - Nhắc lại. Vũ khí không sát thương. Bắt sống đối tượng. Bắt đầu hành động. - Olivetti ngắt máy bộ đàm.
    Vittoria có vẻ ngạc nhiên và giận dữ.
    - Thưa chỉ huy, không có ai vào bên trong à?
    Olivetti quay lại:
    - Vào trong à?
    - Vào trong Pantheon chứ sao! Vào địa điểm hành quyết ấy!
    - Cô nghe đây. - Olivetti nói, ánh mắt sắc lạnh. - Nếu trong đội lính của tôi đã có người bị mua chuộc thì chắc chắn hung thủ đã biết mặt tất cả đội. Đồng nghiệp của cô vừa cảnh báo với tôi rằng đây là cơ hội duy nhất để tóm cổ đối tượng. Tôi không có ý định cho người của tôi vào trong để đánh động hung thủ.
    - Thế nhỡ hắn đã có mặt ở trong đó sẵn rồi thì sao?
    Olivetti xem đồng hồ:
    - Hắn đã báo hiệu thời điểm: 8 giờ. Chúng ta còn 15 phút.
    - Hắn nói là sẽ sát hại vị Hồng y đầu tiên vào lúc 8 giờ. Nhưng rất có thể hắn đã đưa nạn nhân vào trong đó trước rồi. Nhỡ người của ông thấy hắn đi ra nhưng không biết hắn là hung thủ thì sao? Phải có người vào đó để chắc chắn là trong điện không có gì chứ.
    - Thế thì quá mạo hiểm!
    - Không hề, nếu người vào trong đó không bị nhận ra.
    - Cải trang lúc này sẽ là quá mất thì giờ và…
    - Tức là tôi đây này. - Vittoria nói.
    Langdon quay lại, chằm chằm nhìn cô gái. Olivetti lắc đầu:
    - Không thể được.
    - Hắn đã giết cha tôi.
    - Chính xác. Hắn có thể nhận ra cô.
    - Ông đã nghe hắn nói trên điện thoại rồi đấy. Hắn không hề biết rằng Leonardo Vetra có một cô con gái. Chắc chắn hắn không biết tôi là ai. Tôi có thể giả làm khách du lịch và vào trong. Nếu thấy có gì khả nghi thì tôi sẽ bước ra giữa quảng trường và ra hiệu cho người của ông vào ngay.
    - Tôi rất tiếc, nhưng làm thế là không được.
    - Báo cáo. - Máy bộ đàm của Olivetti kêu khọt khẹt. - Chúng tôi đã vào vị trí ở hướng Bắc, nhưng bị đài phun nước chặn mất tầm nhìn. Chúng tôi chỉ nhìn thấy lối vào nếu chuyển đến đứng nấp ở quảng trường. Ý chỉ huy thế nào? Chấp nhận không nhìn thấy gì hay là mạo hiểm ạ?
    Rõ ràng là Vittoria không thể chịu đựng thêm được nữa.
    - Thấy chưa? Để tôi vào! - Cô gái mở cửa xe và lao ra ngoài.
    Olivetti vứt ngay máy bộ đàm xuống ghế, chạy vòng ra trước đón đầu cô gái.
    Langdon cũng lao ra khỏi xe. Vittoria định làm cái quái gì thế không biết!
    Olivetti chặn Vittoria lại:
    - Cô Vetra, cô có trực giác rất tốt, nhưng tôi không thể để thường dân can thiệp vào chuyện này được.
    - Can thiệp à? Ông đang chơi trò mạo hiểm. Hãy để tôi giúp ông.
    - Tôi cũng muốn bố trí trinh sát bên trong, nhưng mà…
    - Nhưng mà làm sao? - Vittoria căn vặn nhưng mà tôi là đàn bà phải không?
    Olivetti làm thinh.
    - Tốt nhất là ông đừng bao giờ nói ra điều đó, ông chỉ huy ạ.
    - Ông biết quá rõ rằng ý kiến đó là đúng, và nếu ông để những quan điểm kỳ quặc cổ xưa…
    - Hãy để yên cho chúng tôi làm việc.
    - Hãy để tôi giúp các ông một tay.
    - Quá nguy hiểm. Chúng tôi sẽ không thể giữ liên lạc với cô. Không thể để cô cầm theo máy bộ đàm được. Lộ ngay.
    Vittoria thò tay vào túi áo, lôi ra chiếc điện thoại cầm tay:
    - Vô số khách du lịch vẫn mang theo cái này đấy.
    Olivetti nhíu mày.
    Vittoria mở máy điện thoại và giả gọi một cuộc:
    - Chào anh yêu. Em đã ở trong Pantheon rồi. Anh cũng nên vào ngay đi. - Cô dập máy và nhìn thẳng vào Olivetti - Ai mà biết được nào? Tinh huống này thì nguy hiểm thế nào được? Để tôi làm trinh sát cho các ông!
    Cô gái đưa tay chỉ chiếc máy bộ đàm giắt trên thắt lưng Olivetti:
    - Số của ông là gì?
    Olivetti không trả lời.
    Trong lúc hai người đang tranh luận, anh lái xe chăm chú quan sát và dường như có những suy nghĩ riêng. Anh ta ra khỏi xe và kéo viên chỉ huy sang một góc. Họ thì thào trao đổi khoảng mười giây, rồi Olivetti gật đầu và quay lại bên Vittoria:
    - Cô hãy ghi số này vào máy. - Rồi ông ta bắt đầu đọc số.
    Vittoria ghi số vào máy của mình.
    - Giờ thì gọi thử xem!
    Vittoria bấm nút gọi tự động. Điện thoại của Olivetti đổ chuông. Ông ta mở máy, nói dõng dạc:
    - Hãy vào trong toà nhà, cô Vetra, nhìn quanh, rồi ra khỏi đó và gọi về báo lại nhúng gì cô trông thấy.
    Vittoria dập mạnh điện thoại:
    - Rõ, thưa chỉ huy.
    Langdon chợt thấy lo cho sự an toàn của cô gái.
    - Từ từ đã.
    Anh nói với Olivetti:
    - Ông định cử cô ấy vào trong đó một mình hay sao?
    Vittoria từ mắt nhìn anh:
    - Robert, tôi sẽ không sao đâu mà.
    Người lái xe của đội lính gác Thuỵ Sĩ lại kéo Olivetti sang một góc.
    - Làm thế quá nguy hiểm. - Langdon bảo Vittoria.
    - Đúng thế đấy. - Olivetti nói - Thậm chí nhân viên cừ nhất của tôi cũng không bao giờ tác chiến một mình. Anh trung uý này vừa mới thuyết phục tôi rằng để cả hai người cùng vào vai thì sẽ thích hợp hơn.
    - Cả hai chúng tôi à? - Langdon do dự. - Thực ra ý tôi là…
    - Cả hai người hãy vào cùng nhau, - Olivetti đề nghị. - Như thế các vị sẽ giống như một đôi uyên ương đang đi du lịch. Và như thế thì người nọ sẽ hỗ trợ cho người kia. Được thế thì tôi yên tâm hơn.
    Vittoria nhún vai:
    - Được thôi, nhưng chúng ta phải nhanh chân lên.
    Langdon rên lên. Ý tưởng hay ho lắm, thưa các vị.
    Olivetti chỉ tay xuống cuối đường:
    - Đi hết phố này là đến Via Degli Orfani. Rẽ trái. Đi thẳng là đến Pantheon. Hai phút đi bộ là đến nơi. Tôi sẽ ở đây để bao quát chung và đợi tin của hai người.
    - Các vị cũng cần có vũ khí để tự vệ. - Ông ta rút ra một khẩu súng lục - Có ai biết bắn không?
    Tim Langdon đập thình thịch. Chúng tôi không cần đến súng đâu.
    Vittoria chìa tay ra:
    - Từ cách xa 40 mét, trên boong tàu đang lắc lư tôi có thể bắn trúng một con cá heo đang nhảy nước.
    - Tốt lắm. - Olivetti đưa khẩu súng cho cô gái. - Giấu đi.
    Vittoria liếc nhìn chiếc quần soóc cô đang mặc. Rồi quay sang nhìn chiếc áo khoác của Langdon.
    - Ồ xin đừng! Langdon thầm nghĩ, nhưng nhanh như cắt, Vittoria mở nắp túi áo ngực của Langdon rồi cất khẩu súng vào đó. Ý như có người vừa thả tảng đá vào trong áo. Niềm an ủi duy nhất của Langdon là Diagramma được cất ở túi áo kia.
    - Thế này trông hoàn toàn vô hại. Chúng tôi đi luôn đây.
    Vittoria nói rồi khoác tay Langdon đi xuống cuối phố.
    Người lái xe gọi với theo:
    - Cầm tay nhau được thì càng tốt. Nhớ rằng các vị là khách du lịch. Thậm chí còn đang hưởng tuần trăng mật cơ đấy. Hãy thử cầm tay nhau xem nào?
    Đi đến cuối phố, Langdon thấy rõ ràng Vittoria đang cố giấu nụ cười trên mặt.

  3. #13
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 59

    Phòng tác chiến của đội lính gác Thuỵ Sĩ cạnh doanh trại Corpo Di Vigilanza thường là nơi sắp xếp lực lượng an ninh để bảo vệ Đức Thánh Cha khi người xuất hiện trước công chúng trong các sự kiện quan trọng của Vatican. Nhưng hôm nay, căn phòng này được dùng vào một mục đích khác.
    Người đang đứng trước mặt đội lính tác chiến lúc này là đại tá Elias Rocher, sĩ quan chỉ huy số hai của đội lính gác Thuỵ Sĩ.
    Rocher có khuôn ngực rộng, dáng khoan thai. Ông ta mặc bộ quân phục màu xanh lam truyền thống của sĩ quan cấp tá, trên đầu là chiếc mũ bê-rê đỏ chói đội lệch. Giọng nói của ông ta nghe thanh thoát và du dương lạ lùng so với vẻ ngoài to lớn. Dù ăn nói lưu loát và mạch lạc, ánh mắt của Rocher lúc nào cũng mờ đục y như mắt những loài thú ăn đêm. Lính của Rocher vẫn gọi đùa ông ta là "Orso" - chàng gấu mít ướt. Đôi khi họ còn nói đùa rằng Rocher là "chú gấu lặc lè mượn oai rắn độc". Chỉ huy trưởng Olivetti chính là rắn độc. Rocher cũng có nọc độc chết người y như con rắn kia, nhưng ít ra còn nghe tiếng bước chân mỗi khi ông ta đến gần.
    Tất cả binh lính của Rocher đều đang đứng nghiêm, mọi cơ bắp trên cơ thể họ đều im phắc, mặc dù những tin tức họ đang được cập nhật khiến cho huyết áp của toàn đội đang tăng dần lên.
    Đứng tận cuối hàng thiếu uý tân binh Chartrand thầm ước giá như anh được là một trong 99% những người đã nộp đơn nhưng không đủ điều kiện để được nhận vào đội ngũ này. Mới 20 tuổi đầu, Chartrand là người ít tuổi nhất trong đội lính gác Thuỵ Sĩ. Anh mới phục vụ ở Vatican được ba tháng. Giống như tất cả các thành viên khác của đội, Chartrand được quân đội Thuỵ Sĩ huấn luyện, rồi phục vụ hai năm tại Bern, sau đó mới được tham gia vào các cuộc sàng lọc cửa Vatican tại các căn cứ bí mật đặt ở ngoại vi thành Rome. Tuy nhiên, không một bài huấn luyện nào trong suốt quá trình dài đó đế cập đến một tình huống nguy kịch đến mức này.
    Lúc đầu, Chartrand tưởng những gì đang được thông báo chỉ là một bài tập huấn luyện mà thôi. Vũ khí của tương lai? Giáo phái cổ xưa? Các vị Hồng y Giáo chủ bị bắt cóc? Sau đó Rocher cho cả đội xem thứ vũ khí đó do camera truyền về. Rõ ràng đây không phải là tập dượt.
    - Chúng ta sẽ buộc phải cắt điện ở một số khu vực để loại trừ những sóng từ nhiễu không cần thiết. Cả đội chia thành các nhóm bốn người, đeo kính hồng ngoại để nhìn trong đêm tối. Tiến hành rà soát bằng máy dò thiết bị nghe lén truyền thống, hiệu chỉnh đối với những từ trường dưới 3Ω (Omega). Có ai thắc mắc gì không?
    Không.
    Thần kinh Chartrand căng như sợi dây đàn.
    - Lỡ chúng ta không tìm thấy kịp thời thì sao? - Anh lên tiếng, và ngay lập tức thấy hối tiếc vì đã hỏi câu đó.
    Gấu mít ướt đội mũ bê-rê đỏ nhìn anh chằm chằm, sau đó ông ta buồn bã ra lệnh giải tán:
    - Nhanh chân lên, các bạn.


    Chương 60

    Cách điện Pantheon hai khu phố, Vittoria và Langdon đi lướt qua hàng dãy xe tải đang đỗ, cánh lái xe đa số đang gà gật ngủ.
    Trong thành phố Vĩnh Cửu này, thời gian ngủ trưa dường như dài vô tận. Đâu đâu cũng thấy cảnh người ta gà gật ngủ giữa nơi công cộng, một tập quán có từ xa xưa ở Tây Ban Nha.
    Langdon cố tập trung tư tưởng, nhưng tình huống này kỳ quặc ngoài sức tưởng tượng. Cách đây có sáu giờ đồng hồ, anh còn đang ngon giấc ở Cambridge. Nhưng lúc này đây, anh đang ở châu Âu và bất đắc dĩ phải tham gia vào một cuộc tỉ thí giữa những gã khổng lồ, mang một khẩu súng lục bán tự động trong túi áo ngực, nắm tay một cô gái mà anh chỉ vừa mới gặp.
    Langdon quay sang nhìn Vittoria. Cô gái đang tập trung quan sát phía trước. Vittoria siết tay anh rất chặt, biểu hiện của một phụ nữ độc lập và kiên quyết. Những ngón tay của cô gái đan trong tay anh một cách tự nhiên và thân mật. Không một chút do dự. Langdon mỗi lúc một cảm thấy bị cuốn hút. Phải thật tỉnh táo, anh tự nhắc nhở bản thân.
    Dường như Vittoria đọc được suy nghĩ của anh:
    - Hãy thư giãn đi nào. - Cô gái nói với anh, nhưng mặt vẫn hướng thẳng ra phía trước Chúng ta phải đóng giả làm một đôi uyên ương đấy.
    - Tôi vẫn thư giãn đấy chứ.
    - Anh bóp nát tay tôi đến nơi rồi đây này.
    Langdon đỏ mặt, anh nới lỏng các ngón tay.
    - Anh hãy thở qua mắt đi. - Cô gái khuyên.
    - Gì cơ?
    - Để giúp cơ bắp được thư giãn. Tên gọi của bài tập này là Pranayama.
    - Piranha hả?
    - Không phải loài cá ăn thịt đó. Pranayama cơ. Nhưng cái đó không quan trọng.
    Họ băng qua góc phố và rẽ vào Piazza Della Rotunda, điện Pantheon đã hiện ra trước mắt. Như bao lần trước, Langdon chiêm ngưỡng cung điện với nỗi kinh sợ. Pantheon. Đền thờ tất cả các vị chúa. Các vị chúa của người vô thần. Chúa của tự nhiên và trái đất. Nhìn từ bên ngoài, cấu trúc của toà nhà có vẻ vuông và thấp.
    Phần lớn mái vòm hình tròn bị những cây cột cao và những mảng trang trí lớn hình tam giác che khuất. Tuy nhiên, hàng chữ phô trương và kiêu ngạo khắc trên lối vào khẳng định rằng họ đã đến đúng chỗ. M. AGRIPPA L F COS TERTIUM FECIT. Langdon thầm dịch hàng chữ sang tiếng Anh, như bao nhiêu lần trước, lòng đầy hứng khởi. Marcus Agrippa, quan tổng trấn nhiệm kỳ 3, đã cho xây ngôi đền này.
    Thật là khiêm tốn, Langdon thầm nhận xét và đưa mắt ngắm khu vực xung quanh. Lác đác có mấy người khách du lịch vai đeo máy ảnh đang đi tha thẩn trong điện. Mấy người khác đang ngồi thưởng thức cà phê đá tại quầy cà phê ngoài trời La Tazza di D oro s. Ngay ngoài lối vào điện Pantheon có bốn người lính đang đứng gác, đúng như Olivetti dự đoán.
    - Trông có vẻ yên tĩnh. - Vittoria nhận xét.
    Langdon gật đầu, nhưng lòng cảm thấy vô cùng bất ổn. Giờ đây anh đã đến tận nơi, anh mới thấy tình huống này quả là không thực tế. Bất chấp thái độ tin tưởng tuyệt đối của Vittoria, anh cảm thấy tất thảy mọi người đã bị anh đặt vào một tình huống thật bấp bênh. Bài thơ của hội Illuminati vang lên trong tâm trí. Từ nấm mồ trần tục của Santi, lăng mộ hang quỷ. ĐÚNG RỒI, Langdon tự nhủ. Đây chính là chỗ đó. Nấm mồ của Santi. Đã rất nhiều lần anh đến nơi này, đứng dưới mái vòm hình tròn có lỗ trổ ở chính giữa, và ngắm nhìn nấm mồ của Raphael vĩ đại.
    - Mấy giờ rồi? - Vittoria hỏi.
    Langdon xem đồng hố:
    - 7 giờ 55. Còn 10 phút nữa.
    - Hi vọng mấy anh chàng kia bắn chuẩn xác. - Vittoria vừa nói vừa đưa mắt nhìn những du khách đứng rải rác trong điện. - Nếu xảy ra chuyện trong điện này thì chúng ta dễ bị bắn chéo cánh sẻ lắm.
    Đến gần lối vào, Langdon thở một cách nặng nhọc. Khẩu súng trong túi áo khoác nặng trĩu xuống. Anh thầm e ngại nhỡ những người lính gác này chặn hai người lại và lục soát rồi phát hiện ra khẩu súng thì không biết sẽ thế nào. Nhưng những người lính nây chẳng buồn nhìn họ đến lần thứ hai. Rõ ràng là cả hai đang đóng giả rất đạt.
    Langdon thì thào bảo Vittoria:
    - Chắc cô cũng chưa bao giờ dùng súng trừ trường hợp bắn chỉ thiên, đúng thế không?
    - Anh không tin tôi à?
    - Tin á? Tôi đã biết cô là ai đâu!
    Vittoria nhíu mày:
    - Thế mà tôi lại nghĩ rằng chúng ta là một cặp uyên ương cơ đấy!


    Chương 61


    Đặc quánh chất lịch sử, bầu không khí trong điện Pantheon có vẻ lạnh lẽo và ẩm ướt. Trên đầu họ, khoảng trần đồ sộ thoải rộng như thể không trọng lượng - với vòm thoải dài tới 42 mét không có cột đỡ trần cung điện này còn rộng hơn cả mái vòm của nhà thờ St. Peter. Như bao lần khác, Langdon thấy rờn rợn khi bước vào căn phòng thênh thang này. Tại đây, kỹ thuật và nghệ thuật hoà quyện vào nhau thật tuyệt vời. Từ trên cao, những tia nắng hoàng hôn đang chiếu xuyên qua giếng trời hình tròn trứ danh. Oculus, Langdon thầm nghĩ, hang quỷ.
    Họ đã vào đến nơi.
    Langdon dõi mắt theo nhịp cuốn của trần nhà thoải dần xuống những mảng tường rất nhiều cột, thoải xuống đến tận nền đá hoa cương dưới chân họ. Thấy có tiếng nói chuyện rì rầm hoà lẫn với tiếng chân bước của các du khách, Langdon đưa mắt nhìn một lượt khoảng hơn chục người khách du lịch đang tha thẩn trong toà nhà chạng vạng tối. Hắn đã đến chưa nhỉ?
    - Có vẻ khá yên ắng. - Vẫn cầm tay Langdon, Vittoria nhận xét.
    Langdon gật đầu.
    - Mộ của Raphael ở đâu?
    Langdon cố xác định phương hướng. Anh đưa mắt nhìn khắp gian điện hình tròn. Những ngôi mộ. Những bàn thờ. Những cây cột. Các hốc tường. Anh đưa tay chỉ mộ phần được trang trí lộng lẫy bên tay trái.
    - Tôi nghĩ mộ của Raphael nằm ở góc kia kìa.
    Vittoria nhìn một lượt khắp gian phòng lớn.
    - Tôi chả thấy có kẻ nào giống một tên sát thủ sắp hành quyết vị Hồng y Giáo chủ ở đây cả! Hay chúng ta đi một vòng xem thế nào?
    Langdon gật đầu.
    - Trong điện này thì hắn chỉ có thể trốn ở một nơi duy nhất. Chúng ta nên kiểm tra các hốc tường.
    - Các hốc tường à?
    - Đúng thế. - Langdon chỉ tay. - Các hốc xây lõm vào trong tường kia kìa.
    Rải rác khắp căn phòng tròn, xen giữa những ngôi mộ là những hốc được xây lõm vào trong tường. Dù không lớn lắm, nhưng những hốc này đủ để một người có thể nấp kín bên trong.
    Những hốc này một thời từng là nơi đặt tượng các vị thánh Olympia, nhưng buồn thay, chúng đã bị phá huỷ khi Vatican quyết định biến Pantheon thành nhà thờ Thiên Chúa. Langdon cảm thấy công phẫn, anh đang đứng ngay tại bàn thờ khoa học đầu tiên, nhưng tất cả các đầu mối đều đã biến mất. Không hiểu xưa kia bức tượng đó được đặt ở đâu, và không hiểu nó chỉ tay về hướng nào. Đối với Langdon, không gì tuyệt vời bằng tìm được pho tượng với cánh tay kín đáo chỉ về hướng con đường ánh sáng - manh mối của hội Illuminati. Và không hiểu người nghệ sĩ vô danh của hội Illuminati là ai nhỉ?
    - Tôi sẽ đi về mạn trái, - Vittoria chỉ tay sang bên trái. - Anh đi về bên phải nhé. Hẹn gặp nhau sau 180 độ.
    Langdon gật đầu đồng ý.
    Vittoria đi về bên trái, và lập tức tính chất cấp thiết và mức độ nguy hiểm của thực tại choán lấy tâm trí của anh. Anh quay người, đi về bên phải. Giọng nói của kẻ sát nhân như văng vẳng khắp đại diện lạnh lẽo. Đúng 8 giờ. Những vật tế trinh tiết sẽ được dâng trước bàn thờ khoa học. Vào những thời điểm hết sức chính xác. Tám, chín, mười, mười một giờ, rồi nửa đêm. Langdon xem đồng hồ: 7 giở 52 phút. Còn 8 phút.
    Hướng đến hốc tường đầu tiên, Langdon phải băng qua mộ một vị vua theo đạo Thiên Chúa của ý. Nhưng giống như nhiều ngôi mộ khác ở Rome, chiếc quan tài bằng đá này không nằm thẳng bức tường, mà tạo thành những góc xiên lệch kì dị. Một nhóm du khách có vẻ như đang thắc mắc về điều này. Nhưng Langdon không thể dừng lại để giải thích cho họ. Quan quách của nhiều người theo đạo Thiên Chúa chính thống không được đặt ngay ngắn so với kiến trúc chung, và mục đích là để đảm bảo rằng người quá cố được đặt quay đầu về hướng Đông. Vừa mới tháng trước, Langdon đã thảo luận về tập tục mang đậm màu sắc mê tín này với các sinh viên ở lớp biểu tượng học khoá 212.
    - Thật là phi lý hết sức! - Một nữ sinh ngồi bàn đầu đã thốt lên sau khi nghe Langdon thuyết giảng về những ngôi mộ quay về hướng Đông. - Tại sao những người theo đạo Thiên Chúa lại phải bố trí ngôi mộ quay đầu về phía mặt trời mọc cơ chứ? Chúng ta đang bàn về đạo Thiên Chúa cơ mà… có phải những giáo phái thờ mặt trời đâu?
    Langdon mỉm cười, vừa đi đi lại lại trên bục giảng vừa ăn một trái táo.
    - Mời anh Hitzrot! - Anh nói lớn.
    Một chàng thanh niên đang gà gật ở bàn cuối giật nảy mình:
    - Sao? Em ạ?
    Langdon chỉ tay vào một bức tranh Phục Hưng dán trên tường:
    - Ai đang quỳ trước chúa kia?
    - Dạ… một vị thánh ạ.
    - Tốt lắm. Làm sao anh biết đó là thánh?
    - Vì có một vầng hào quang ạ.
    - Tốt. Và vầng hào quang có gợi cho anh nghĩ tới cái gì không?
    - Hitzrot cười toét miệng:
    - Có ạ. Những đồ tạo tác của người Ai Cập học từ kỳ trước. Những… những… đĩa mặt trời!
    - Cảm ơn Hitzrot. Mời anh ngủ tiếp. - Langdon quay lại nói với cả lớp - Những vầng hào quang này giống như hầu hết các biểu tượng khác của Thiên Chúa giáo, được du nhập từ tín ngưỡng thờ mặt trời của người Ai Cập cổ đại. Chúng ta thấy rất nhiều ví dụ của tín ngưỡng thờ mặt trời trong Thiên Chúa giáo.
    - Nhưng thưa thầy, - cô gái ngồi bàn đầu lên tiếng - Tuần nào em cũng đi nhà thờ, nhưng có thấy thờ thần mặt trời đâu?
    - Thế à? Thế ngày 25 tháng 12 hàng năm là ngày gì thế?
    - Lễ giáng sinh ạ. Ngày sinh của chúa Giê-su.
    - Nhưng theo kinh thánh, chúa sinh vào tháng 3, vậy ta kỷ niệm cái gì vào cuối tháng 12 đây?
    Im lặng.
    Langdon mỉm cười:
    - Thưa các bạn, ngày 25 tháng 12 là ngày những người ngoại đạo cổ xưa thờ Mặt trời Bất khuất, trùng với ngày đông chí. Đó là một thời khắc rất tuyệt diệu trong năm, khi mặt trời trở lại, và ngày bắt đầu dài ra.
    Langdon gặm thêm một miếng táo nữa.
    - Các tôn giáo trên con đường chinh phục các giáo phái khác, thường duy trì những ngày lễ cũ để đỡ gây sốc. Hiện tượng này được gọi là sự chuyển hoá. - Langdon giảng giải. - Điều này giúp người ta nhanh quen với đức tin mới. Họ vẫn kỷ niệm những ngày lễ thánh như trước, vẫn cầu nguyện ở những thánh địa cũ, vẫn giữ nguyên các biểu tượng… và người ta chỉ đơn giản thay các vị chúa khác vào.
    Lúc này cô sinh viên ngồi bàn đầu có vẻ đã phát cáu:
    - Thầy nói rằng đạo Thiên Chúa chỉ là một hình thức tân trang lại tín ngưỡng thờ mặt trời hay sao?
    - Không phải thế. Thiên Chúa không chỉ vay mượn các biểu tượng từ độc nhất tín ngưỡng thờ mặt trời. Nghi lễ phong thánh của chúng ta cũng bắt nguồn từ nghi lễ "tôn thánh" của người Euhemerus cổ xưa. Nghi lễ "bữa ăn thánh" - tức Lễ ban Thánh thể cũng có nguồn gốc từ nền văn minh của người Aztecs. Thậm chí cả khái niệm chúa hi sinh thân mình để chịu tội thay cho loài người cũng không phải là thuần tuý cơ đốc giáo; sự hi sinh của một chàng trai trẻ vì tội lỗi của những người khác trong tộc của mình là tập tục cổ xưa của người Quetzacoatl.
    Cô gái trợn tròn mắt:
    - Thế thì có bất cứ cái gì thực sự xuất phát từ đạo Thiên Chúa không?
    - Trong bất kỳ tôn giáo lớn có tổ chức nào, rất ít nghi lễ thực sự được sinh ra bởi chính tôn giáo ấy. Chẳng có tôn giáo nào bắt đầu từ vạch xuất phát cả. Mỗi tôn giáo đều kế thừa các tôn giáo khác. Những tôn giáo hiện nay đều là một tập hợp những nỗ lực của loài người trong nỗ lực chung nhằm tìm hiểu về đấng tối linh.
    - Nhưng mà… thưa thầy, - Hitzrot đánh bạo lên tiếng, có vẻ đã tỉnh ngủ. - Em biết có một thứ chắc chắn là có nguồn gốc Thiên Chúa giáo. Đó là hình tượng Chúa, đúng không ạ? Các nghệ sĩ theo đạo Thiên Chúa không bao giờ vẽ đức Chúa giống như hình tượng con chim ưng cửa người Aztec, hay bất kỳ hình tượng kỳ quặc nào khác. Chúa luôn được vẽ trong hình hài một ông già có chòm râu trắng. Vậy hình tượng đức Chúa của chúng ta có phải là sản phẩm của chính Thiên Chúa giáo không ạ?
    Langdon mỉm cười. Những người mới chuyển sang đạo Thiên Chúa từ bỏ những vị thần mà trước đây họ tôn thờ như các vị chúa vô thần, Chúa của người La Mã, người Hi Lạp, Thần mặt trời, Mithraic… Họ hỏi nhà thờ rằng đức Chúa trời mới trông như thế nào. Một cách rất khôn ngoan, nhà thờ đã chọn khuôn mặt quen thuộc nhất, uy lực nhất và đáng sợ nhất trong lịch sử.
    Hitzrot có vẻ hoài nghi:
    - Là một ông già có chòm râu dài bạc trắng ạ?
    Langdon đưa tay chỉ một loạt ảnh những vị thần cổ đại dán trên tường. Trên cùng là bức vẽ một ông già có chòm râu dài bạc trắng trong tư thế ngồi.
    - Thần Zeus trông có quen không nào?
    Đúng lúc đó giờ học kết thúc.
    ***
    - Xin chào. - Một người đàn ông nói.
    Langdon giật bắn người. Tâm trí anh trở lại với điện Pantheon.
    Quay lại, Langdon thấy một ông già mặc áo khoác màu xanh lam có chữ thập đỏ trước ngực. Ông già mỉm cười, phô ra hàm răng xám xịt.
    - Anh chắc là người Anh? - Ông ta nói đặc giọng vùng Tuscan.
    Langdon chớp mắt, một lúc mới hiểu được câu hỏi của ông già:
    - À… không. Tôi là người Mỹ.
    Ông ta có vẻ hơi ngượng:
    - Lạy chúa, anh ăn mặc lịch sự quá, tôi cứ tưởng… xin được lượng thứ.
    - Tôi giúp gì được cho ông? - Langdon hỏi, trống ngực đập thình thịch.
    - Thực ra thì tôi đang nghĩ rằng có thể giúp anh được chút gì đó. Tôi là hướng dẫn viên ở đây. - Ông ta kiêu hãnh chỉ tay vào tấm phù hiệu gắn trên ngực. - Công việc của tôi là làm cho chuyến thăm quan thành Rome của anh trở nên hấp dẫn hơn.
    Hấp dẫn hơn! Chắc chắn là bản thân chuyến thăm này đã đủ hấp dẫn lắm rồi.
    - Trông anh có vẻ rất đặc biệt, - người hướng dẫn viên đưa đẩy. - Chắc là anh rất quan tâm đến lĩnh vực văn hoá. Cho phép tôi giới thiệu với anh lịch sử của cung điện này.
    Langdon lịch sự mỉm cười:
    - Ông tử tế quá. Nhưng tôi là một giáo sư về lịch sử nghệ thuật, và…
    - Thế thì tuyệt! - Mắt ông già sáng lên như thể vừa vớ được món hời. - Chắc chắn anh sẽ rất thích nơi này!
    - Có lẽ tôi thích được…
    Ông già bắt đầu thao thao bài diễn văn đã học thuộc sẵn:
    - Điện Pantheon được Marcus Agrippa cho xây dựng từ năm 27 trước công nguyên.
    - Đúng thế! - Langdon ngắt lời. - Và được Hadrian cho xây dựng lại năm 119 sau công nguyên.
    - Cho đến tận năm 1960, nó là toà nhà mái vòm không cột đỡ lớn nhất thế giới. Nhưng toà nhà vòm Superdome ở New Orleans giờ đã chiếm mất kỷ lục đó.
    Langdon rên lên. Không thể làm thế nào cho ông ta im đi được.
    - Và vào thế kỷ thứ 5, một nhà thần học đã gọi điện Pantheon là Ngôi nhà của Quỷ dữ, ông ta cảnh báo rằng lỗ trổ hình tròn trên nóc vòm sẽ là lối để quỷ dữ nhập vào cung điện!
    Langdon cố không nghe. Anh hướng mắt lên lỗ tròn lớn trên nóc vòm, và nhớ lại giả thuyết lạnh sống lưng mà Vittoria đưa ra lúc nãy. Một vị Hồng y bị đóng dấu sắt nung, rồi bị thả cho rơi qua lỗ vòm, rơi xuống sàn đá cẩm thạch. Nếu thế thì quỷ là một sự kiện để giới truyền thông đổ xô đến. Langdon nhìn quanh tìm cánh nhà báo. Không thấy ai. Anh hít một hơi thật sâu. Thật là một ý tưởng kỳ quặc. Khâu hậu kỳ cho sự kiện động trời này quả là không chu đáo chút nào.
    Langdon bước đi, tiếp tục cuộc tìm kiếm, và hướng dẫn viên kia vẫn tiếp tục thao thao bất tuyệt bên tai anh. y như một kẻ gàn dở. Khiếp thật, Langdon thầm nghĩ trong bụng, không gì đáng sợ hơn một sử gia sốt sắng đến mức thái quá.
    Phía bên kia cung điện, Vittoria cũng đang ra sức tìm kiếm. Lần đầu tiên kể từ khi nghe tin cha mất, cô gái ở một mình. Những sự kiện ảm đạm dồn dập trong 8 tiếng đồng hồ vừa qua giờ đây đang tái hiện lại trong tâm trí cô gái trẻ. Cha cô mới bị sát hại bất thình lình, vô cùng dã man. Một điều không kém phần đau đớn là phát minh của cha cô đã bị phá hỏng - giờ thì nó đã trở thành một loại phương tiện của bọn khủng bố. Nỗi ân hận dâng đầy trong tâm trí Vittoria - chính phát minh của cô đã tạo ra khả năng đưa phản vật chất ra khỏi phòng thí nghiệm… lúc này cái hộp của cô đang chờ nổ ở một góc nào đó trong toà thánh. Vì sốt sắng muốn giúp cha chứng minh bằng được một chân lý giản đơn, cô gái đã vô tình gây ra tai hoạ.
    Nhưng cũng thật kỳ lạ, sự có mặt của một người hoàn toàn xa lạ lại đang khiến cho cô gái cảm thấy vô cùng yên tâm. Robert Langdon. Trong đôi mắt của anh, cô gái cảm nhận được sự bình yên… y như mặt biển hiền hoà mà cô vừa phải rời bỏ sáng sớm hôm nay. Thật hạnh phúc vì Langdon đang ở đây. Anh không chỉ là nguồn sức mạnh, là tia hi vọng của cô, mà còn dùng bộ óc sắc bén của mình để vạch ra phương án truy bắt kẻ sát nhân.
    Hít thở thật sâu, Vittoria tiếp tục tìm kiếm dọc theo bức tường uốn tròn. Chính bản thân cô gái cũng phải kinh ngạc khi nhận thấy niềm khát khao muốn báo thù đang dâng lên ngùn ngụt trong lòng mình suốt từ sáng đến giờ. Dù đã nguyện một lòng yêu thương tất cả mọi chúng sinh… cô vẫn muốn kẻ sát nhân phải chết. Không một lời giáo huấn nào về nghiệp báo có thể khiến Vittoria chìa nốt bên má kia ra để nhận thêm một cái tát nữa. Bị kích động, đầy cảnh giác, lần đầu tiên trong đời Vittoria cảm nhận một luồng ý chí ngùn ngụt trong dòng máu Italy của mình… lời thề sẽ dùng sức mạnh công lý để bảo vệ danh dự gia đình của tổ tiên Sicili. Báo thù. Vittoria thầm nhắc nhở bản thân, và lần đầu tiên trong đời, cô thật sự hiểu ý nghĩa của hai âm tiết ấy. Ý nghĩ về sự báo thù khiến cô gái trở nên mạnh mẽ hơn.
    Vittoria đến bên ngôi mộ của Raphael Santi. Từ đằng xa đã thấy ngay đây là mộ phần của một nhân vật đặc biệt. Khác với những mộ phần khác, quan tài của ông được đặt thụt vào trong tường và có một tấm chắn Plexiglas bảo vệ đằng trước. Đứng bên ngoài lan can, Vittoria có thể trông thấy đòng chữ ở mặt trước của chiếc quan tài đá. Cô xem xét mộ phần, rồi đọc những dòng chữ khắc trên một tấm biển cạnh quan tài của Raphael.
    RAPHAEL SANTI, 1483-1520.
    Vittoria đọc lại lần nữa.
    Rồi lại đọc lại.
    Một tích tắc sau, Vittoria lao vụt đi như tên bắn.
    - Robert! Robert!


    Chương 62

    Người hướng dẫn viên vẫn bám theo sát gót khiến Langdon phải hết sức vất vả mới kiểm tra hết được phần bên phải của cung điện. Anh đang chuẩn bị kiểm tra nốt hốc tường cuối cùng thì ông già lại bắt đầu thao thao bất tuyệt.
    - Anh có vẻ thích mấy cái hốc tường này ghê nhỉ! - Ông ta nói đầy hào hứng. - Anh biết không, tường ở đây khá dày, cho nên mới không cần cột đỡ cái mái vòm trên kia đấy.
    Langdon gật đầu, chẳng buồn nghe, và tiếp tục xem xét cái hốc tường tiếp theo. Đội nhiên có ai đó ở đằng sau túm chặt lấy anh. Đó là Vittoria. Thở không ra hơi, cô gái đang túm chặt lấy cánh tay Langdon. Ánh mắt hoảng sợ của Vittoria khiến cho anh không thể nghĩ đến bất kỳ tình huống nào khác. Đã tìm thấy thi thể của nạn nhân. Langdon chợt cảm thấy sợ hãi.
    - A… vợ anh đây rồi! - Ông già hướng dẫn viên reo lên, sung sướng vì có thêm một vị khách nữa. Ông ta chỉ đôi giày đi bộ và chiếc quần soóc của Vittoria:
    - Nhìn thì biết ngay cô là người Mỹ!
    Vittoria nheo mắt:
    - Tôi là người Ý.
    Nụ cười của ông ta tắt ngấm:
    - Thế à?
    - Robert này, - Vittoria thì thào, cố quay lưng về phía ông già hướng dẫn viên. - Diagramma của Galileo đâu. Đưa tôi xem cái nào.
    - Diagramma à? - Ông già hỏi, giọng lấy lòng. - Chà chà, hai vị chắc hẳn rất am hiểu lịch sử đây! Tiếc thay, không thể xem tài liệu đó được đâu. Nó được bí mật cất giữ trong Nhà mái vòm…
    - Xin lỗi ông một chút. - Langdon nói, lúng túng trước sự sợ hãi của Vittoria. Kéo cô sang một bên, anh cẩn thận rút tờ giấy từ trong túi áo ra. - Chuyện gì thế?
    - Ngày tháng ghi ở đây là bao giờ? - Vittoria vừa săm soi tờ giấy vừa hỏi.
    Ông già hướng dẫn viên đã đứng ngay cạnh họ, mắt chăm chăm nhìn tờ giấy, miệng há hốc:
    - Này, đây… không phải là…
    - Bản sao dành cho khách du lịch thôi mà. - Langdon nói chặn trước. - Cảm ơn ông đã giúp đỡ, hai vợ chồng chúng tôi muốn nói chuyện riêng một lúc.
    Ông già lùi lại một chút, mắt vẫn không rời tờ giấy.
    - Ngày... tháng? - Vittoria nhắc lại. - Galileo xuất bản cuốn này bao giờ.
    Langdon chỉ tay vào những chữ số La Mã ở cuối trang giấy:
    Ngày xuất bản đây. Chuyện gì thế?
    Vittoria đọc con số.
    - 1639 à?
    - Ừ. Sao thế?
    Ánh mắt Vittoria đầy vẻ lo lắng:
    - Lôi thôi rồi, Robert ạ. Tôi thôi to rồi. Ngày tháng không khớp nhau.
    - Ngày tháng nào không khớp nhau?
    Ngày trên mộ phần của Raphael. Mãi đến năm 1759 ông ấy mới được đưa về chôn cất ở đây. Một thế kỷ sau khi Diagramma được xuất bản.
    Langdon trợn tròn mắt, không hiểu cô gái vừa nói gì.
    - Không. Raphael mất năm 1520, trước Diagramma rất lâu đấy chứ.
    - Đúng thế, nhưng mà mãi sau này ông ấy mới được đưa về an táng tại đây.
    Langdon lại không hiểu gì.
    - Cô vừa nói cái gì thế?
    - Tôi vừa đọc thấy mà. Di hài của Raphael được chuyển về Pantheon năm 1758, trong một dự án tôn vinh các nhân vật kiệt xuất của nước Ý.
    Hiểu ra những lời ấy, Langdon thấy đất dưới chân như sụp xuống.
    - Khi bài thơ này được sáng tác thì phần mộ của Raphael được đặt ở một địa điểm khác. - Vittoria tuyên bố. - Vào thời đó, Pantheon chẳng liên quan gì đến Raphael cả!
    Langdon như nghẹt thở.
    - Nhưng điều đó… có nghĩa là…
    - Đúng vậy! Có nghĩa là chúng ta đến nhầm địa điểm rồi!
    Langdon thấy đầu óc quay cuồng. Không thể nào…rõ ràng là…
    Vittoria chạy lại và túm tay ông già hướng dẫn viên, kéo lại:
    - Thưa ông, xin hãy cho chúng tôi biết, vào thế kỷ 17 thì mộ phần của Raphael được đặt ở đâu?
    - Ở Urb… Urbrino, - Ông ta lắp bắp vẻ bối rối. - Ở quê hương của ông ấy.
    - Không thể nào! - Langdon lầm bầm nói một mình. - Bàn thờ khoa học của hội Illuminati ở Rome, chắc chắn là thế!
    - Illuminati à? - Ông già há hốc miệng lại một lần nữa đưa mắt nhìn tờ giấy Langdon đang cầm trên tay. - Các vị là ai thế?
    Vittoria lại hỏi tiếp:
    - Chúng tôi đang tìm một địa danh được gọi là lăng mộ trần tục của Santi. Ở Rome. Ông có biết nó ở đâu không?
    Ông ta có vẻ băn khoăn:
    - Đây chính là lăng mộ duy nhất của Raphael ở Rome.
    Langdon cố tập trung suy nghĩ, nhưng đầu óc cứ đờ ra. Nếu vào năm 1655, mộ phần của Raphael không được đặt tại Rome thì bài thơ nói đến nơi nào nhỉ? Từ nấm mồ trần tục của Santi, lăng mộ hang quỷ? Nghĩa là sao nhỉ? Nghĩ đi nào!
    - Thế có nghệ sĩ nào khác tên là Santi không? - Vittoria hỏi.
    Ông hướng dẫn viên nhún vai:
    - Theo tôi biết thì không có.
    - Thế có bất kỳ ai nổi tiếng có tên như thế không? Ví dụ một nhà thơ, nhà thiên văn học, hay nhà khoa học nào đó tên là Santi, có không?
    Lúc này thì hình như ông già hướng dẫn viên lại muốn bỏ đi.
    - Không có đâu cô ạ. Santi duy nhất mà tôi biết chính là kiến trúc sư Raphael.
    - Kiến trúc sư à? - Vittoria hỏi vặn. - Tôi tưởng ông ấy là hoạ sĩ chứ!
    - Ông ấy là cả hai chứ. Tất cả họ đều thế cả, Michelangelo, Da Vinci, Raphael.
    Không hiểu là nhờ có những lời nói của ông già, hay vì những mộ phần trang trí cầu kỳ xung quanh khiến cho Langdon nghĩ ra, nhưng điều đó không quan trọng, anh bỗng nảy ra ý ấy. Santi là kiến trúc sư. Từ ý tưởng, những ý nghĩ khác lần lượt hiện ra như trong một thế cờ đô-mi-nô. Các kiến trúc sư thời Phục Hưng sống chỉ để làm hai việc: tôn vinh chúa trong các nhà thờ lớn, và tôn vinh những nhân vật đức cao vọng trọng bằng những mộ phần lộng lẫy. Mộ phần của Santi. Lẽ nào lại là thế? Những suy nghĩ lúc này nảy ra nhanh hơn nữa…
    Mona Lisa của Da Vinci
    Hoa huệ nước của Monet
    David của Michelangelo.
    Lăng mộ trần tục của Santi…
    - Santi đã thiết kế lăng mộ đó. - Langdon lên tiếng.
    Vittoria quay phắt lại:
    - Gì cơ?
    - Bài thơ không nhắc đến mộ phần của Santi, mà một mộ phần do ông ấy thiết kế.
    - Anh nói gì cơ?
    - Tôi đã nhầm. Không phải là phần mộ nơi Santi được chôn cất mà là mộ phần Santi thiết kế cho người khác cơ. Một nửa các công trình kiến trúc ở Rome thời Phục Hưng và Ba-rốc là các mộ phần. - Langdon vừa nói vừa mỉm cười - Chắc Raphael phải thiết kế đến hàng trăm lăng mộ!
    Vittoria có vẻ khổ sở:
    - Hàng trăm cơ à?
    Nụ cười của Langdon tắt ngấm:
    - Ối trời đất ơi.
    - Có cái nào trong số đó trần tục không, thưa giáo sư?
    Langdon chợt thấy rối bời. Anh biết quá ít về các tác phẩm của Raphael. Michelangelo thì còn đỡ, chứ anh đã bao giờ để ý đến các tác phẩm của Raphael đâu. Anh nhớ tên một vài lăng mộ nổi tiếng nhất của Raphael, nhưng không biết hình dạng chúng thế nào.
    Thấy Langdon lúng túng, Vittoria quay sang hỏi ông hướng dẫn viên, khi ông ta đang định bỏ đi. Cô gái túm tay ông ta lôi lại:
    - Tôi cần tìm một lăng mộ do Raphael thiết kế. Một lăng mộ có thể coi là trần tục.
    Ông già lúc này cũng lúng túng:
    - Một lăng mộ của Raphael à? Tôi cũng không biết đâu. Ông ấy thiết kế nhiều lắm. À, có thể các vị cũng biết một nhà nguyện nhỏ do ông ấy thiết kế, nhà nguyện chứ không phải lăng mộ. Các kiến trúc sư thường thiết kế các nhà nguyện thông với lăng mộ.
    Langdon chợt nhận ra điều đó.
    - Thế có lăng mộ hay nhà nguyện nào của Raphael mà trần tục không?
    Ông già nhún vai:
    - Tiếc quá. Cái đó thì tôi không hiểu gì cả. Tôi chẳng thấy cái nào có thể coi là trần tục hết. Có lẽ tôi phải đi đây.
    Vittoria túm tay ông ta, rồi đọc dòng đầu tiên của bài thơ. "Từ nấm mồ trần tục của Santi, lăng mộ hang quỷ". Ông có hiểu thế là sao không?
    - Tôi chẳng hiểu gì cả.
    Đột nhiên Langdon ngẩng phắt lên. Vừa rồi anh quên biến mất phần sau của câu thơ. Hang quỷ?
    - Đúng rồi! - Langdon hỏi ông già hướng dẫn viên - Đúng rồi! Có nhà nguyện nào của Raphael có giếng trời hình tròn không?
    Ông ta lại lắc đầu lần nữa:
    - Theo như tôi biết thì chỉ có ở mỗi điện Pantheon này thôi. - Ngừng một lát. - Nhưng mà…
    - Nhưng sao? - cả Vittoria lẫn Langdon cùng đồng thanh.
    Lúc này ông già lại ngẩng cao đầu và tiến lại bên họ.
    - Hang quỷ… - ông ta tự lẩm bẩm một mình. - Hang quỷ… thì là… buco diavolo phải không nhỉ?
    Vittoria gật đầu:
    - Hiểu theo nghĩa đen thì đúng là thế.
    Ông già khẽ mỉm cười:
    - Có một thuật ngữ mà lâu rồi không thấy ai nhắc đến. Nếu tôi không nhầm, thì buco diavolo nghĩa là cái hầm.
    - Cái hầm à? - Langdon hỏi lại. - Giống như hầm mộ phải không?
    - Đúng, nhưng là một dạng hầm mộ đặc biệt. Chắc hang quỷ là một từ cổ để nói đến một hầm mộ lớn đặt trong nhà nguyện, bên dưới một mộ phần khác.
    - Một cái hầm mộ đào thêm à? - Langdon hỏi ngay, anh đã hiểu ông già định nói đến cái gì.
    Người hướng dẫn viên già có vẻ rất nể phục:
    - Đúng rồi, tôi định dùng từ ấy đấy.
    Langdon phân vân. Hầm mộ đào thêm là một giải pháp rẻ tiền của nhà thờ trong một số tình huống rất khó xử. Khi nhà thờ muốn thể hiện sự tôn vinh với một thành viên của mình bằng cách đặt mộ phần của người đó trong nhà nguyện, những người còn lại trong gia tộc thường yêu cầu phải chôn các thành viên khác của gia đình họ chung vào một chỗ… để đảm bảo rằng họ cũng sẽ được mai táng trong nhà thờ. Tuy nhiên, nhiều nhà thờ không có đủ tiền bạc và diện tích để xây mộ phần cho cả một gia tộc như thế, nên họ cho đào những hầm mộ đào thêm - một cái hố để chôn những thành viên khác của hoàng tộc nhưng không phải là những người thực sự kiệt xuất - gần mộ phần ban đầu. Sau đó, người ta đặt lên trên miệng hố một cái nắp mà các nghệ sĩ thời Phục Hưng gọi là cái nắp cống, không hơn. Tuy tiện lợi, nhưng trào lưu xây hầm mộ đào thêm nhanh chóng hết thời vì người ta rất hay ngửi thấy mùi thối trong nhà thờ. Hang quỷ, Langdon thầm nghĩ. Anh chưa bao giờ nghe thấy thuật ngữ này. Nhưng nó phù hợp đến mức lạ lùng.
    Lúc này thì trống ngực Langdon đập thình thịch. Từ nấm mồ trần tục của Santi, lăng mộ hang quỷ. Chỉ còn một chi tiết duy nhất cần phải hỏi cho rõ.
    - Raphael có thiết kế lăng mộ nào có hang quỷ loại này không?
    Người hướng dẫn viên gãi gãi đầu:
    - Thực ra thì… tiếc quá… tôi chỉ nghĩ ra được có một thôi.
    Chỉ một? Langdon không mong ước gì hơn.
    - Ở đâu? - Vittoria gần như hét lên.
    Ông già hướng dẫn viên ngạc nhiên nhìn họ:
    - Đó là nhà nguyện Chigi. Lăng của Agostino Chigi và anh trai ông ấy, nhà Mạnh Thường Quân giàu có của khoa học và nghệ thuật.
    - Khoa học à? - Langdon vừa đưa mắt sang Vittoria vừa hỏi lại.
    - Ở đâu? - Vittoria lại hỏi.
    Ông già phớt lờ câu hỏi đó, lại sung sướng được làm nhiệm vụ hướng dẫn. - Cũng không thể khẳng định chắc chắn là nó có trần tục hay không, nhưng chắc chắn là rất khác biệt.
    - Khác biệt à? - Langdon hỏi. - Khác thế nào?
    Khác biệt trong cách kiến trúc. Một nghệ sĩ khác đảm nhiệm phần trang trí nội thất, tôi không nhớ rõ người đó là ai.
    Langdon lúc này đã sốt sắng lắm rồi. Một nghệ sĩ vô danh của hội Illuminati à? Có thể lắm.
    - Nhưng dù người đó là ai đi nữa thì phần nội thất cũng không được xuất sắc lắm. - Ông già nói tiếp - Làm gì có ai muốn bị chôn dưới một cái Kim tự tháp cơ chứ!
    Langdon gần như không dám tin vào tai mình:
    - Kim tự tháp à? Trong nhà nguyện có cả Kim tự tháp à?
    - Tôi biết, thật chẳng hợp chút nào. - Ông già đáp.
    Vittoria túm chặt cánh tay ông ta:
    - Thưa ông, nhà nguyện Chigi ở chỗ nào?
    - Cách đây một dặm về hướng Bắc. Ở thánh đường Santa Maria Del Popolo.
    Vittoria thở phào:
    - Cảm ơn ông. Nào…
    - Này, tôi vừa nghĩ ra, đúng là tôi ngốc thật.
    Vittoria đứng phắt lại:
    - Xin đừng nói là ông lại nhầm nữa nhé.
    Ông ta lắc đầu:
    - Không đâu, nhưng đáng ra tôi phải nghĩ ra sớm hơn mới phải. Nhà nguyện Chigi còn có một cái tên nữa, trước đây người ta gọi nó là Capella Della Tera.
    - Nhà thờ Đất à? - Langdon hỏi.
    - Không. - Vittoria vừa trả lời vừa lao ra cửa. - Nhà thờ Trái Đất.
    Vừa lao ra khỏi Piazza Della Rotunda, Vittoria Vetra vừa lôi điện thoại di động ra.
    - Chỉ huy Olivetti, không phải ở đây rồi!
    Olivetti có vẻ ngỡ ngàng:
    - Sao? Cô nói gì?
    - Bàn thờ khoa học đầu tiên là nhà nguyện Chigi cơ!
    - Ở đâu? - Olivetti bắt đầu cáu. - Nhưng mà ông Langdon nói là…
    - Santa Maria Del Popolo! Một dặm về phía Bắc! Đưa người của ông sang đấy ngay. Còn 4 phút nữa!
    Nhưng người của tôi vào vị trí ở đây hết rồi! Làm sao có thể…
    - Đi ngay đi! - Vittoria dập điện thoại.
    Sau lưng cô gái, Langdon cũng vừa hổn hển lao ra khỏi điện Pantheon.
    Cô gái túm tay Langdon, kéo anh chạy ra dãy xe tải trông như không người lái đang đợi san. Vittoria đấm ầm ầm vào mui chiếc xe đầu tiên. Người lái xe đang ngủ gật giật bắn người, và ngồi thẳng dậy, đầy sợ hãi. Vittoria mở ngay cửa sau, ấn Langdon vào trong xe, rồi cô cũng nhảy nốt vào.
    - Santa Maria Del Popolo. - Cô hô to. - Nhanh lên!
    Nửa sợ hãi, nửa thụ động, người lái xe gạt cần số, chiếc xe trườn ra giữa đường.


    Chương 63

    Gunther Glick đã giằng con chuột máy tính từ tay Chinita Macri, và giờ chị ta đang đứng lom khom ở cuối chiếc xe hòm chật chội của BBC, nhìn qua vai Glick.
    - Thấy chưa. - Glick vừa nói vừa gõ thêm vài ký tự vào bàn phím.
    - Có phải mỗi British Tattler cho đăng bài về những gã này đâu?
    Macri cúi xuống gần hơn. Glick nói đúng. Cơ sở dữ liệu của BBC cho thấy rằng họ đã cho đăng sáu bài báo cả thảy trong vòng 10 năm qua về một hội kín tên là Illuminati. Trời ơi không thể tin nổi, Macri thầm nghĩ.
    - Tay nào viết những bài đó thế? Mấy tay ba hoa chích chòe chứ gì?
    - BBC đâu có thuê những đồ rác rưởi đó.
    - Họ thuê anh đấy thôi.
    Glick gầm gừ:
    - Sao cô lại đa nghi thế không biết! Có rất nhiều tài liệu chứng minh sự tồn tại của Illuminati trong một giai đoạn lịch sử dài đấy.
    - Thì mấy mụ phù thuỷ vật thể bay không xác định, rồi cả thuỷ quái hồ Loch Ness nữa chứ.
    Glick đọc tên những bài báo được liệt kê.
    - Cô đã bao giờ biết có người tên là Winston Churchill chưa?
    - Tên kêu gớm nhỉ.
    - BBC đã từng đăng một loạt phóng sự về cuộc đời của ông ta. Mà là tín đố Cơ đốc giáo trung thành đấy nhé. Cô có biết là năm 1920, Churchill cũng đã lên án hội Illuminati và cảnh báo người dân Anh về một âm mưu toàn cầu chống lại lương tri không?
    Macri vẫn chưa tin:
    - Báo nào đăng tuyên bố đó? British Tattler à?
    Glick cười mỉm:
    - London Herald. Ngày 8 tháng 2 năm 1920.
    - Không thể nào.
    - Cô nhìn cho kỹ đi!
    Macri nhìn chằm chằm vào màn hình máy tính. London Herald, ngày 8 tháng 2 năm 1920. Sao mình lại không biết nhỉ?
    - Thế thì chắc Churchill bị bệnh hoang tưởng rồi.
    - Không phải mỗi mình ông ấy đâu. - Glick vừa đọc tiếp vừa nói - Có vẻ như năm 1921 thì Woodrow Wilson cũng đã cho phát đi ba lời cảnh báo trên đài phát thanh về nguy cơ hội Illuminati khống chế hệ thống ngân hàng của Mỹ. Có cần tải nguyên văn những lời đó xuống cho cô xem không?
    - Thôi khỏi cần.
    Nhưng Glick vẫn tải về một bản phát thanh.
    - Ông ấy nói đây nhé: "Có một thế lực được tổ chức rất chặt chẽ, rất tinh vi, rất hoàn hảo. Nó có mặt ở hầu hết mọi nơi, đến nỗi người ta chỉ dám thì thầm thật khẽ mỗi khi cả gan chỉ trích nó".
    - Tôi chưa bao giờ nghe nói đến chương trình phát thanh đó.
    - Chắc là vì năm 1921 thì cô còn vắt mũi chưa sạch.
    - Hay đấy. - Macri lại thấy thích lời châm chọc này. Cô biết tuổi tác đang ngày một hiện rõ trên khuôn mặt của mình. Ở tuổi 43, những lọn tóc đen dày của cô đã bắt đầu ngả sang màu muối tiêu. Nhưng quá kiêu hãnh, Macri không bao giờ nhuộm tóc. Mẹ của Macri, một tín đồ Baptist ở miền Nam, đã dạy cô biết tự bằng lòng và tôn trọng bản thân. Vì con là một phụ nữ da đen, mẹ cô dặn dò, đừng bao giờ cố che giấu bản thân. Ngày con làm điều đó cũng là ngày con chết. Hãy đứng thật thẳng, mỉm cười rạng rỡ, và để mọi người phải băn khoăn không hiểu điều bí mật nào đã khiến con cười rạng rỡ đến thế.
    - Đã nghe nói đến Cecil Rhodes bao giờ chưa? - Glick hỏi.
    Macri nhìn lên:
    - Nhà tài chính người Anh đó hả?
    - Đúng rồi. Người thành lập quỹ học bổng Rhodes đấy. Đừng nói với tôi là…
    - Người của Illuminati.
    - Báo nào?
    - BBC, thật đấy. Ngày 16 tháng 11 năm 1984.
    - Báo mình đăng tin Rhodes là người của Illuminati á?
    - Chứ sao. Và theo thông tin của chúng ta thì quỹ học bổng Rhodes được thành lập từ nhiều thế kỷ nay để tuyển mộ những bộ óc lỗi lạc nhất cho hội Illuminati.
    - Thật lố bịch! Bác tôi ngày xưa cũng nhận học bổng Rhodes đây!
    Glick nháy mắt:
    - Cả Bill Clinton cũng thế.
    Macri lúc này đã thật sự phát điên. Chưa bao giờ chị chấp nhận những bài báo nhăng nhít kiểu này. Nhưng Macri cũng biết rằng BBC luôn cho thẩm định kỹ lưỡng tất cả những thông tin mà hãng công bố.
    - Sự kiện này thì chắc cô biết. - Glick đọc - BBC, ngày 5 tháng 3 năm 1998. Chủ tịch Uỷ ban hạ viện, Chris Mullin, yêu cầu tất cả các nghị sĩ Anh là thành viên hội Tam Điểm phải công khai mối quan hệ đó.
    Macri còn nhớ sự kiện này. Rốt cuộc thì hội kín đó hoá ra lại có liên quan đến các nhận viên cảnh sát, thậm chí cả quan toà.
    - Nhưng để làm gì thế?
    Glick đọc tiếp:
    - Lo lắng rằng có thể những chi nhánh bí mật của hội Tam Điểm sẽ khống chế toàn bộ thể chế chính trị và hệ thống tài chính.
    - Đúng thế.
    - Gây ra bao nhiêu là ầm ỹ. Hội Tam Điểm trong nghị viện đã tỏ ra công phẫn. Mà thế là phải thôi. Hoá ra đa số họ chỉ là những người ngây thơ gia nhập hội Tam Điểm để làm các công việc từ thiện. Họ không hề biết gì về những mối liên hệ trong quá khứ của hội đó.
    - Những liên hệ chưa được chứng minh rõ ràng.
    - Thế cả thôi - Glick đọc lướt các bài báo. - Xem đây này. Thông tin cho thấy Illuminati liên quan đến cả Galileo, hội Guerenets ở Pháp, hội Alumbrados ở Tây Ban Nha. Thậm chí cả Karl Max và cách mạng Nga.
    - Rất có thể lịch sử bị bóp méo lắm chứ.
    - Được rồi. Cô muốn những sự kiện gần đây chứ gì? Xem đi. Đây là bài trên tờ Wall Street Journal nhắc đến Illuminati nhé.
    Tên tờ báo khiến Macri chú ý.
    - Journal à?
    - Đoán xem trò chơi điện tử được ưa thích nhất ở Mỹ hiện nay là gì nào?
    - Sex với Pamela Anderson chứ gì?
    - Gần đúng. Tên của nó là Illuminati: trật tự thế giới mới.
    Macri nhìn qua vai Glick để đọc phần giới thiệu trò chơi: "Steve Jackson Games đã thành công ngoài sức tưởng tượng… một cuộc thám hiểm có tính lịch sử. Trong đó một hội kín xấu xa ở Bavaria rắp tâm muốn thông trị cả thế giới. Hãy lên mạng để tham gia…"
    Macri ngước mắt lên như sắp sửa phát ốm đến nơi:
    - Mấy gã hội viên Illuminati này thì có liên quan gì đến Thiên Chúa giáo đây?
    - Không chỉ mỗi Thiên Chúa giáo đâu nhé. - Glick nói - Mà là mọi tôn giáo nói chung! - Glick ngẩng mặt lên, cười toe toét. - Nhưng qua cuộc gọi ban nãy thì có thể đoán rằng họ quan tâm đặc biệt tới Vatican đấy.
    - Ồ thôi đi! Anh không thật sự tin vào những lời tự giới thiệu của gã đó đấy chứ?
    - Rằng gã là sứ giả của Illuminati ư? Chuẩn bị hành quyết bốn Hồng y Giáo chủ ư? - Glick mỉm cười. - Tôi hi vọng đó là sự thật.

  4. #14
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 64

    Chiếc taxi đưa Vittoria và Langdon chạy hết một vòng qua Via Della Scrofa chỉ trong một phút. Xe dừng lại ở phía Nam của Piazza Del Popolo, sát 8 giờ. Không có đồng lia nào trong túi, Langdon trả người lái xe bằng tiền đô la một cách hết sức hậu hĩnh. Cả hai lao vội ra khỏi xe. Quảng trường khá yên ắng, chỉ nghe thấy tiếng nói cười của mấy người dân địa phương vọng ra từ một quán cà phê Rosati gần đó vốn rất được giới trí thức Ý ưa chuộng. Không khí thoảng mùi cà phê và bánh ngọt.
    Langdon vẫn chưa hết choáng váng vì những phán đoán sai lầm của mình ở Pantheon. Tuy nhiên, chỉ cần nhìn lướt qua quảng trường một lượt là giác quan thứ sáu của anh đã cảm nhận được ngay. Quảng trường này được thiết kế với khá nhiều biểu tượng quan trọng của Illuminati. Không những được xây hình e-líp, mà ở chính tâm của nó còn có một cột tháp kiểu Ai Cập - một cây cột bằng đá hình Kim tự tháp. Những cột tháp kiểu này, vốn là chiến lợi phẩm thu được sau những chuyến viễn chinh của đế chế Rome, ngày nay vẫn còn nằm rải rác khắp thành Rome, và được các nhà biểu tượng học gọi là Kim tự tháp cao quý - luôn luôn vươn thẳng lên trời.
    Ngước mắt nhìn lên đỉnh cây cột tháp bằng đá nguyên khối, Langdon nhận ra một thứ khác nữa, một thứ rất đặc biệt.
    - Chỗ này đúng rồi đấy. - Anh nói khẽ, cảm thấy mọi lo lắng vừa tiêu tan hết. - Cô nhìn xem. - Langdon đưa tay chỉ Porta Del Popolo - cổng vòm bằng đá phía cuối quảng trường. Suốt bao thế kỷ nay, nó vẫn đứng đó. Trên đỉnh vòm có một biểu tượng được khắc vào đá. - Có thấy quen không?
    Vittoria ngước lên nhìn.
    - Một ngôi sao toả sáng trên đỉnh cột đá hình tam giác phải không?
    Langdon lắc đầu:
    - Một luồng ánh sáng toả xuống từ đỉnh Kim tự tháp.
    Vittoria quay lại, tròn mắt kinh ngạc:
    - Giống hệt như… hình quốc huy của nước Mỹ kìa.
    - Chính xác. Biểu tượng của hội Tam Điểm trên tờ bạc một đô la.
    Vittoria hít thở thật sâu và đưa mắt nhìn khắp quảng trường một lượt. - Thế cái nhà thờ quái quỷ ấy đâu?
    Thánh đường Santa Maria Del Popolo trông như một chiến thuyền bị đặt sai chỗ, đứng xiên xẹo dưới chân một ngọn đồi ở phía Đông Nam của quảng trường. Với một lô giàn giáo xây dựng choán hết mặt tiền, công trình kiến trúc từ thế kỷ 11 này trông lại càng kỳ dị hơn.
    Cùng Vittoria tiến thẳng đến nhà thờ nhỏ này, Langdon cảm tưởng như đang đi trên mây. Anh ngước lên nhìn toà nhà, thầm băn khoăn. Chẳng lẽ một vụ án mạng lại sắp xảy ra đằng sau những bức tường này thật sao? Ước gì Olivetti nhanh chân lên một chút. Khẩu súng trong túi áo ngực của Langdon tụ nhiên trở nên thật vô dụng.
    Cầu thang ở mặt tiền của thánh đường nhỏ này có kiểu dáng khá thân thiện. Nhưng tấm biển treo ở giàn giáo thì lại đề: "NGUY HIỀM - CẤM VÀO", thật chẳng hợp nhau chút nào.
    Một thánh đường trong thời kỳ đóng cửa để sửa chữa thế này quả là lý tưởng đối với kẻ sát nhân. Khác với ban nãy ở điện Pantheon, hai người chẳng cần bày đặt đóng vai làm gì, chỉ cần tìm một lối vào.
    Không do dự, Vittoria len ngay vào khe hở giữa hai giàn giáo, định leo lên cầu thang.
    - Vittoria! Biết đâu hắn vẫn còn ở trong đấy! - Langdon gọi to.
    Vittoria làm như không nghe thấy gì. Cô gái bước tới sát cánh cửa gỗ dẫn vào trong nhà thờ. Langdon vội chạy theo sát gót Vittoria. Anh chưa kịp nói gì thì Vittoria đã nắm cánh cửa rồi kéo ra. Langdon nín thở. Cánh cửa không nhúc nhích.
    - Chắc phải có một lối vào khác. - Vittoria nói.
    - Có thể lắm, nhưng chỉ một phút nữa là Olivetti có mặt ở đây. - Langdon nói - Bây giờ mà vào trong luôn thì quá nguy hiểm. Chúng ta nên đứng đây mà đợi cho đến khi…
    Vittoria quay sang nhìn Langdon, mắt tóe lửa:
    - Nếu có một lối vào nữa thì cũng có một lối ra nữa. Gã này mà thoát thân được là chúng ta cầm chắc thất bại.
    Langdon hiểu điều đó.
    Lối đi nhỏ bên phải nhà thờ vừa hẹp vừa tối hai bên đều có tường cao. Không khí nồng nặc mùi nước giải - thứ mùi thường gặp ở thành phố này, nơi mà số lượng quán bar lớn gấp 20 lần số nhà vệ sinh công cộng.
    Langdon và Vittoria hối hả bước đi trên lối nhỏ nồng nặc mùi khai đó. Đi xuống được khoảng 15 mét thì Vittoria giật giật cánh tay Langdon rồi chỉ về phía trước.
    Langdon cũng đã trông thấy. Trước mặt họ là một cánh cửa gỗ nặng nề, đúng là một lối đi điển hình dành riêng cho các tu sĩ. Từ nhiều năm nay, hầu hết những lối đi kiểu này không còn được sử dụng nữa vì đất đai chật hẹp cộng với những công trình mới được xây dựng sát bên cạnh nhà thờ đã khiến cho những lối đi này trở nên bất tiện.
    Vittoria tiến ngay về phía cánh cửa. Đến nơi, cô gái bối rối nhìn quả đấm cửa. Phía sau Vittoria mấy bước, Langdon trông thấy một cái đai bằng sắt lủng lẳng ở chỗ đáng ra phải có quả đấm cửa.
    - Cái đai đấy mà! - Langdon khẽ thì thào và nhẹ nhàng đưa tay kéo nó lên. Cái đai bật đánh tách. Vittoria đứng né sang một bên, vẻ lo lắng. Khẽ khàng, Langdon quay cái đai theo chiều kim đồng hồ. Cái vòng sắt quay đủ một vòng 360 độ, chẳng thấy gì. Nhíu mày, Langdon xoay theo chiều ngược lại, vẫn y như thế.
    Vittoria nhìn xuống cuối lối đi.
    - Liệu còn lối vào nào khác không?
    Langdon nghĩ là không. Hầu hết các thánh đường thời Phục Hưng đều được thiết kế như những pháo đài để đế phòng trường hợp thành phố bị cướp phá. Càng ít lối vào càng tốt. Anh nói:
    - Nếu có một lối nữa thì chắc phải ở đằng sau. Là lối thoát ra ngoài thì đúng hơn là lối vào.
    Chân Vittoria đã xăm xăm bước tới.
    Langdon theo cô gái đi sâu thêm vào trong. Hai bên là hai bức tường cao ngất. Chuông nhà thờ đâu đó điểm 8 giờ…
    ***
    Vittoria gọi anh, nhưng Langdon không nghe thấy. Anh đang dừng chân bên một khung cửa sổ bụi bặm, và cố nhòm vào bên trong.
    - Robert! - Cô gái thì thào rất khẽ.
    Langdon ngẩng lên. Vittoria đã đi đến cuối ngõ hẹp. Cô gái đứng lại đợi anh, tay chỉ về phía sau nhà thờ. Langdon phải chạy mới theo kịp. Dưới chân bức tường đằng sau thánh đường, một chiếc cổng được trố trên một mảng tường bao bằng đá - một lối đi hẹp dẫn xuống tầng hầm của nhà thờ.
    - Lối vào đây có phải không? - Vittoria hỏi.
    Langdon gật đầu. Thực ra là lối ra, nhưng không cần thiết phải tranh luận về chi tiết nhỏ này làm gì.
    Vittoria quỳ xuống, nhòm vào con đường hầm.
    - Thử vào xem thế nào, biết đâu cửa mở.
    - Đợi đã! - Langdon nói.
    Cô gái quay lại nhìn Langdon, vẻ sốt ruột.
    Langdon thở dài:
    - Để tôi đi trước.
    Vittoria tỏ ra ngạc nhiên:
    - Lại một cử chỉ nghĩa hiệp nữa ư?
    - Tuổi tác nên dẫn đường cho cái đẹp.
    - Đây có phải là lời ngợi khen không nhỉ?
    Langdon cười mỉm, vượt lên trước cô gái, và bước vào vùng tối trước mặt.
    - Cẩn thận cầu thang đấy.
    Anh dò dẫm từng bước một trong bóng tối, một tay lần dọc theo bức tường, đầu ngón tay chạm vào một mảng tường xù xì.
    Trong khoảnh khắc, Langdon chợt nhớ lại huyền thoại về Daedalus, cậu bé đã dùng một bàn tay để lần theo bức tường, thế mà có thể ra khỏi mê cung, chỉ vì biết rằng nếu chạm được vào bức tường là sẽ không bị lạc lối. Langdon tiến lên phía trước, dù trong thâm tâm không hề muốn một chút nào.
    Càng đi càng thấy dường hầm dần dần hẹp lại, Langdon cũng bước chậm hơn. Vittoria vẫn theo sát gót anh. Bức tường ngoặt sang bên trái, và họ thấy một cái hốc hình bán nguyệt. Thật lạ, ở đây có ánh sáng mờ. Langdon lờ mờ trông thấy một khung cửa bằng gỗ nặng nề.
    - Ái chà. - Anh thốt lên.
    - Khoá à?
    - Trước đây thôi.
    - Sao lại trước đây thôi? - Vittoria đã đứng ngay cạnh anh.
    Langdon đưa tay chỉ. Từ bên trong, một luồng sáng hắt ra, soi rõ cánh cửa mở hé… bản lề cửa đã bị bật tung ra, và thanh sắt được dùng làm dụng cụ vẫn còn dựng ngay cạnh đó.
    Hai người lặng đi trong giây lát. Rồi trong bóng tối, Langdon thấy Vittoria lần tay vào ngực anh, sờ soạng trong túi áo khoác.
    - Thư giãn đi nào, giáo sư. - Cô gái nói - Tôi chỉ lấy khẩu súng ra thôi mà.
    Cũng vào lúc ấy, trong Bảo tàng Vatican, một đội lính gác Thuỵ Sĩ đang toả ra khắp mọi hướng. Bảo tàng tối om, và cả đội đều đeo loại kính nhìn xuyên bóng tối bằng tia hồng ngoại của hải quân Hoa Kỳ. Đeo cặp kính này vào, tất cả mọi vật đều chuyển thành một thứ màu xanh rất kỳ quái. Họ đeo những chiếc tai nghe gắn với một máy dò có hình ăng-ten đang đu đưa nhịp nhàng trước mặt - loại thiết bị họ vẫn dùng hai tuần mỗi lần để tìm máy nghe lén trong toà thánh. Cả nhóm di chuyển một cách trật tự và nhịp nhàng, kiểm tra từng bức tượng, từng hốc tường, từng ngăn tủ, thậm chí cả dưới gầm tủ. Những chiếc ăng-ten này sẽ phát tín hiệu báo động nếu phát hiện từ trường, dù vô cùng yếu.
    Tuy nhiên, đêm nay họ chưa phát hiện được gì.


    Chương 65


    Được chiếu bởi một luồng ánh sáng yếu ớt, bên trong nhà thờ Santa Maria Del Popolo trông như một cái hang âm u. Nền điện chính đang bị lật tung lên để sửa, ngổn ngang những đất đá; bàn xoa, cuốc, và cả xe cút kít - thánh đường lúc này trông chẳng khác gì một nhà ga tàu điện ngầm chưa thi công xong. Những cây cột khổng lồ sừng sững chống đỡ cho mái vòm trên cao. Dù ánh sáng rất yếu, họ vẫn nhìn thấy vô số hạt bụi đang lởn vởn trong không khí. Langdon và Vittoria đứng giữa khung cảnh ngổn ngang, nhìn điện thờ đang bị cày xới tơi tả.
    Không gian lặng ngắt. Sự yên ắng đầy chết chóc.
    Vittoria dùng cả hai tay để giương khẩu súng lên. Langdon xem đổng hồ: 8 giờ 4 phút. Vào đây thế này thì đúng là mất trí thật rồi. Nguy hiểm quá, Langdon thầm nghĩ. Tuy nhiên, anh biết rằng nếu kẻ sát nhân có còn ở đây đi chăng nữa thì hắn cũng có thể ra ngoài bằng bất cứ cửa nào, và cuộc tập kích một súng của họ sẽ chẳng có tác dụng gì. Cách duy nhất là bắt quả tang đúng lúc hắn đang hành động… nhưng đấy là trong trường hợp hắn vẫn còn ở đây. Langdon cảm thấy thật áy náy, vì sai lầm của anh mà họ đã đến Pantheon và lỡ mất cơ hội. Lúc này anh chẳng còn tư cách gì để bàn đến chuyện có an toàn hay không nữa, chính anh đã đẩy mọi người vào tình thế bất lợi này.
    Vittoria đưa mắt nhìn khắp nhà thờ một lượt, vẻ mặt khổ sở.
    - Đây chính là nhà nguyện Chigi đấy à? - Cô thì thào hỏi.
    Nhìn xuyên qua bầu không khí âm u ma quái, Langdon nhìn về phía cuối điện thờ và những mảng tường bao ngoài. Không như nhiều người vẫn lầm tưởng, các nhà thờ thời Phục Hưng đều gồm có nhiều nhà nguyện nhỏ, những nhà thờ lớn như Notre Damme còn có hơn chục nhà nguyện bên trong. Các nhà nguyện này trông giống những cái hốc hơn là những căn phòng thực thụ - chúng là những hốc tường hình bán nguyệt, kết nối các mộ phần xung quanh với bức tường ngoài của thánh đường.
    Tin xấu rồi, Langdon thầm nghĩ khi trông thấy mỗi bên tường có tới bốn cái hốc. Ở đây có 8 nhà nguyện tất cả. Dù 8 chưa phải là một con số quá lớn, nhưng vì đang trong quá trình tu sửa, nên tất cả 8 nhà nguyện đều được phủ một lớp nilông trong suốt ở bên ngoài - chắc chắn là để tránh không cho bụi lọt vào những mộ phần bên trong.
    - Có thể là bất cứ nhà nguyện phủ nilông nào trong số này. - Langdon đáp. - Nếu không nhìn vào bên trong từng hốc một thì không có cách gì xác định được đâu là nhà nguyện Chigi. Có lẽ chúng ta nên đợi đến khi Oli…
    - Cái nào là nhà nguyện thứ hai bên trái? - Cô gái hỏi.
    Langdon nhìn Vittoria, anh thấy ngạc nhiên về thuật ngữ ngành kiến trúc mà cô vừa nói - Nhà nguyện thứ hai bên trái á?
    Vittoria đưa tay chỉ mảng tường sau lưng Langdon. Có một phiến đá được gắn trên tường được khắc những hình y hệt như anh vừa thấy ở bên ngoài nhà thờ: Kim tự tháp dưới ánh sao.
    Cạnh đó là một tấm biển phủ đầy bụi với dòng chữ:
    GIA HUY CỦA ALEXANDER CHIGI
    MỘ PHẦN THỨ HAI BÊN TRÁI
    Langdon gật đầu. Gia huy của Chigi cũng có hình Kim tự tháp và một ngôi sao à? Anh chợt băn khoăn, biết đâu nhà Mạnh Thường Quân giàu có Chigi cũng là người của hội Illuminati. Anh gật đầu với Vittoria:
    - Giỏi lắm, Nancy Drew ạ.
    - Gì cơ?
    - Không có gì, tôi chỉ…
    Một tấm kim loại bất chợt rơi xuống ngay sát chỗ họ đang đứng. Tiếng loảng xoảng ầm ỹ vang khắp cả nhà thờ. Vittoria chĩa ngay súng về phía có tiếng động, còn Langdon thì kéo cô gái vào sau một cây cột lớn. Im lặng. Họ đợi. Lại thấy động nữa, lần này là tiếng sột soạt. Langdon nín thở. Đáng ra mình không nên vào trong này mới phải! Tiếng động dần trở nên rõ hơn, từng chặp một như thể tiếng người đi cà nhắc. Rồi đối tượng của họ bất thắn xuất hiện từ sau một cây cột.
    - Figlio di puttana!(1) - Vittoria vừa làu bàu vừa nhảy lùi lại.
    Langdon cũng giật bắn người.
    Cạnh cây cột con chuột cống khổng lồ đang tha cái bánh mì ai đó bỏ dở. Nhìn thấy họ, nó dừng lại hồi lâu, đưa mắt nhìn dọc theo nòng súng trên tay Vittoria, sau đó, rõ ràng là chẳng có cảm giác gì đặc biệt, nó tiếp tục tha chiến lợi phẩm của mình ra phía sau nhà thờ.
    - Đồ chết dẫm! - Langdon thở hắt ra, trống ngực đập liên hồi.
    Vittoria hạ súng xuống, nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.
    Langdon nhìn về phía cây cột ban nãy và trông thấy một hộp đồ nghề của thợ mộc nằm xiên xẹo trên sàn, rõ ràng là vừa bị con chuột kia kéo rơi từ trên giá để đồ xuống.
    Langdon đưa mắt quan sát thánh đường dài và sâu, rồi thì thầm:
    - Nếu hắn vẫn còn ở trong này thì chắc chắn cũng nghe thấy tiếng loảng xoảng vừa xong. Có chắc là cô không muốn đợi Olivetti đến không?
    - Mộ phần thứ hai bên trái là chỗ nào? - Vittoria lặp lại câu hỏi lúc trước.
    Langdon đành phải miễn cưỡng quay lại để xác định phương hướng, các nhà thờ luôn được bài trí rất giống sân khấu, không thể dùng trực giác mà đoán hướng được. Anh quay mặt về phía điện thờ chính. Trung tâm sân khấu. Rồi Langdon chỉ tay ra sau vai.
    Cả hai cùng quay lại và nhìn về hướng anh vừa chỉ.
    Hình như nhà nguyện Chigi là cái thứ ba trong số bốn hốc tưởng bên phải. Tin tốt là Langdon và Vittoria đang ở đúng bên tay phải của thánh đường rộng. Tin xấu là họ ở tận đầu kia so với mộ phần đó. Họ sẽ phải đi dọc theo thánh đường, đi qua ba mộ phần khác, mà cái nào cũng được phủ một tấm nilông ở ngoài y hệt mộ phần của Chigi.
    - Đợi đã! - Langdon bảo cô gái. - Để tôi đi trước.
    - Không được.
    - Tôi là người đã phạm sai lầm ở Pantheon.
    Cô gái quay sang nhìn anh:
    - Nhưng tôi lại là người đang cầm súng.
    Nhìn vào mắt cô gái, Langdon có thể đoán được Vittoria đang nghĩ gì… Tôi là người vừa bị mất người cha yêu quý. Tôi chính là người góp phần tạo nên thứ vũ khí chết người đó. Da đầu của hắn phải thuộc về tôi…
    Langdon thấy rằng nếu cố ngăn cản cũng chẳng ích lợi gì, nên để mặc cô gái. Anh đi dọc theo thánh đường, sát bên Vittoria.
    Ngang qua mộ phần che nilông đầu tiên, anh cảm thấy căng thẳng như thể đang tham gia vào một trò chơi siêu thực nào đó. Mình sẽ vén bức màn thứ ba, anh thầm nghĩ.
    Nhà thờ thật yên ắng, những bức tường đá dày đã chặn hết mọi âm thanh của thế giới bên ngoài. Trong khi hai người vượt qua hết mộ phần này đến mộ phần khác, những bóng người ốm yếu hiện lên trên những tấm nilông trong phủ dầy bụi, trông như ma. Đá cẩm thạch chạm khắc, Langdon tự nhủ, hi vọng lần này không nhầm lẫn nữa. Giờ đã là 8 giờ 6 phút tối. Không hiểu kẻ giết người có hành động chính xác và thoát ra ngoài trước khi anh và Vittoria vào đây không nhỉ? Hay hắn vẫn còn ở đây? Langdon cũng không biết anh thích tình huống nào hơn.
    Trong thánh đường mỗi lúc một tối dần hốc tường thứ hai trông khá rùng rợn. Những cánh cửa kính mốc meo, phủ dầy bụi bặm càng tạo cảm giác đêm xuống nhanh hơn. Đúng lúc họ đi qua, tấm rèm nhựa ngay sát hai người bỗng nhiên bay phấp phới, như thể một luồng gió vừa bất ngờ thốc vào. Langdon băn khoăn, không biết có phải một người nào đó vừa mở một cánh cửa hay không.
    Gần đến nơi, Vittoria bước chậm lại. Có gái chĩa thẳng súng về phía trước, gật đầu ra hiệu bảo Langdon đọc tấm bia đá cạnh mộ phần. Có mấy chữ được khắc trên đá cẩm thạch:
    NHÀ NGUYỆN CHIGI
    Langdon gật đầu. Không một tiếng động, họ di chuyển vào trong hốc tường, nấp sau một cây cột lớn. Vittoria giương súng lên, chĩa vào tấm nilông trước mặt, xăm soi một hồi. Rồi cô ra hiệu bảo Langdon kéo tấm nilông ra.
    Đây mới là lúc nên cầu nguyện đây. anh thầm nghĩ. Một cách miễn cưỡng, anh với tay qua vai cô gái. Hết sức thận trọng, Langdon kéo tấm nilông sang một bên. Được khoảng 2 cm thì tấm nilông bắt đầu kêu sột soạt. Cả hai cứng người lại. Lặng phắc. Một lát sau, Vittoria chậm rãi, nhoài người về phía trước, nhòm qua khe hở. Langdon nhìn qua vai Vittoria.
    Trong thoáng chốc, cả hai đều nín thở.
    - Trống không. - Cuối cùng Vittoria lên tiếng, cô hạ khẩu súng xuống. - Chúng ta muộn mất rồi.
    Langdon không nghe thấy gì. Anh cảm thấy vô cùng kinh ngạc và như vừa mới lạc vào một thế giới hoàn toàn khác lạ. Anh chưa bao giờ tưởng tượng được một nhà nguyện đẹp đến thế này. Với từng màu chủ đạo là nâu hạt dẻ, nhà nguyện Chigi có một vẻ đẹp thật độc đáo. Con mắt sành sỏi của Langdon được thoả thê ngắm nghía. Nhà nguyện này không thể nào trần tục hơn được nữa, dường như chính Galileo và hội Illuminati đã trang trí cho mộ phần này.
    Trên cao, mái vòm của nhà nguyện được chiếu sáng bởi những ngôi sao và bày hành tinh của hệ mặt trời đang phản chiếu ánh sáng. Dưới đó là 12 biểu tượng của hoàng đạo - những biểu tượng phi Thiên Chúa giáo và trần tục bắt nguồn từ thiên văn học. Hoàng đạo là một khái niệm gắn bó chặt chẽ với Đất, Khí, Lửa và Nước. Bốn cung phần tư tượng trưng cho quyền lực, trí tuệ nhuệ khí và cảm xúc. Đất tượng trung cho quyền lực, Langdon nhớ lại.
    Trên tường, sâu vào trong, là biểu tượng của bốn mùa trong năm - xuân, hạ, thu, đông. Nhưng đáng kinh ngạc hơn cả chính là hai cấu trúc khổng lồ choán gần hết căn phòng.
    Langdon lặng đi, say sưa chiêm ngưỡng. Không thể tưởng tượng được, anh thầm nghĩ. Không thể tưởng tượng được! Nhưng hoàn toàn có thật. Hai bên nhà nguyện là hai Kim tự tháp bằng đá cẩm thạch cao 3 mét.
    - Không thấy vị Hồng y nào cả. - Vittoria thì thào. - Cũng chẳng thấy hung thử. Cô gái kéo tấm nilông sang một bên rồi bước vào trong.
    Langdon say sưa ngắm hai toà Kim tự tháp bằng đá cầm thạch. Chúng có chức năng gì trong một nhà nguyện Thiên chúa giáo nhỉ? Và không thể tin nổi, đó chưa phải là tất cả. Ở chính tâm của hai Kim tự tháp này là hai tấm phù hiệu bằng vàng… những tấm phù hiệu mà chưa bao giờ Langdon nhìn thấy… hình e-lip hoàn hảo. Hai chiếc đĩa bóng loáng này phản chiếu ánh mặt trời rọi xuống từ trên mái vòm. Phải chăng là hình e-lip, Kim tự tháp, và cả chòm sao của Galileo? Căn phòng này chứa trong nó nhiều biểu tượng của hội Illuminati hơn bất kỳ căn phòng nào Langdon có thể tưởng tượng được.
    - Robert! - Vittoria kêu lên, giọng khiếp đảm - Nhìn kìa!
    Langdon quay lại, nhìn theo hướng tay cô gái đang chỉ, quay về với thực tại.
    - Quỷ thần ơi! - Anh thét lên, lùi ra xa.
    Trên sàn nhà, một bộ khung xương đang chòng chọc nhìn hai người - một bức khảm chi tiết, cầu kỳ trên nền cầm thạch, mô phỏng thần chết đang bay. - Bộ khung xương này đang cầm một tấm bảng khắc những hình biểu tượng mà họ vừa trông thấy bên ngoài. Tuy nhiên, không phải những biểu tượng ấy làm máu trong người Langdon đông cứng lại mà vì hình chạm khắc này được thực hiện trên một phiến đá tròn đã được nhấc sang một bên y như một cái miệng cống, và giờ được để ghếch lên bên cạnh miệng hố hình tròn trên sàn.
    - Hang quỷ đây rồi. - Langdon hổn hển nói. Quá mải mê với những trang trí trên trần nhà, anh đã không trông thấy nó. Mùi thối bốc lên nồng nặc.
    Vittoria đưa hai tay lên che miệng.
    - Kinh quá.
    - Khí từ dưới xông lên đấy. - Langdon giải thích khí thoát ra từ các thi hài đang phân huỷ.
    Anh lấy ống tay áo bịt mũi và cúi xuống miệng hố, nhìn xuống dưới. Đen ngòm.
    - Chẳng trông thấy gì cả.
    - Liệu dưới đó có người không nhỉ?
    - Chỉ có trời mới biết.
    Vittoria đưa tay chỉ một cái thang gỗ đã mọt dẫn xuống dưới, được ghếch lên miệng hố.
    Langdon lắc đầu:
    - Chẳng khác gì địa ngục.
    - Biết đâu trong đống đồ nghề ngoài kia lại có cái đèn pin nào đó.
    Dường như Vittoria muốn lấy cớ để chạy khỏi nhà nguyện hôi thối này:
    - Để tôi ra xem sao.
    - Cẩn thận đấy. - Langdon nói với theo. - Không biết chừng hung thủ vẫn còn…
    Nhưng Vittoria đã chạy ra ngoài.
    Quả là một phụ nữ mạnh mẽ, Langdon thầm nhận xét.
    Anh quay lại miệng hố, mùi hôi thối nồng nặc đến mức Langdon thấy choáng váng. Nín thở, anh cúi đầu xuống dưới miệng hố để nhòm vào bóng tối mịt mùng bên dưới. Dần dần, khi mắt đã quen với bóng tối, Langdon bắt đầu trông thấy những hình bóng lờ mờ. Cái hố này hoá ra là một căn phòng nhỏ. Hang quỷ. Không hiểu bao nhiêu thế hệ nhà Chigi đã được lặng lẽ mai táng tại căn phòng này. Langdon nhắm mắt lại và đợi cho hai đồng tử giãn ra để nhìn được rõ hơn. Mở mắt ra, anh thấy một hình bóng câm lặng nhảy múa bên dưới. Langdon run lên, nhưng tụ ép bản thân không được ngồi nhỏm dậy. Mình trông thấy một cái gì đó. Không biết có. phải là xác chết không nhỉ? Hình bóng ấy mờ đi. Langdon lại nhắm mắt lần nữa và đợi, lần này lâu hơn, để cho hai mắt có thể thu nhận được những tia sáng yếu ớt nhất.
    Bắt đầu có cảm giác chóng mặt, và tâm trí Langdon không thể tập trung nổi. Chỉ vài giây nữa thôi mà. Không hiểu vì nhịn thở và hít phải mùi thối hay vì chúi đầu xuống quá lâu mà Langdon bắt đầu thấy buồn nôn. Cuối cùng anh mở mắt ra, và cảnh tượng bày ra trước mắt thật không thể tin nổi.
    Anh đang thấy một hầm mộ nhỏ tràn ngập thứ ánh sáng xanh kỳ quái Nghe có tiếng xì xì quanh đây. Ánh sáng lập lòe trên những mảng tường quanh miệng hố. Đột nhiên một bóng den dài xuất hiện ngay trước mặt Langdon. Giật bắn người, anh ngồi phắt dậy.
    - Cẩn thận! - Có người kêu lên ngay sau lưng anh.
    Chưa kịp quay lại, Langdon đã cảm thấy đau nhói sau gáy.
    Vittoria đang quay đầu cây đèn xì ra khỏi gáy Langdon, ánh sáng xanh ma quái cùng với tiếng xì xì tràn ngập khắp nhà nguyện nhỏ.
    Langdon chụp tay lên gáy:
    - Cô đang làm cái quái gì thế hả?
    - Tôi chiếu sáng cho anh mà. - Cô gái đáp. - Anh nhổm lên trúng vào cây đèn.
    Langdon nhìn cây đèn xì trên tay Vittoria.
    - Tôi tìm mãi mới được đấy. Không có đèn pin. - Cô gái nói.
    Vittoria đưa cho anh cây đèn xì, mặt nhăn lại vì mùi thối.
    - Loại khí này có bắt lửa không nhỉ?
    - Hi vọng là không.
    Anh cầm cây đèn và chầm chậm tiến lại bên miệng hố. Cẩn thận, Langdon đứng bên miệng hố, chĩa cây đèn xuống dưới, soi sáng mảng tường bên phải hầm mộ. Chiếu đèn sang hướng khác, anh trông thấy những bậc cầu thang dẫn xuống dưới.
    Hầm mộ này có hình tròn, bán kính khoảng 6 mét. Cách mặt sàn 10 mét là nền hầm. Sàn của nó màu sẫm và không bằng phẳng. Trần tục. Rồi Langdon trông thấy một người.
    Bản năng mách bảo anh hãy lùi lại.
    - Đây rồi. - Langdon nói, tự ép mình đứng nguyên tại chỗ. Trên mặt sàn màu sẫm, người này có vẻ khá xanh xao.
    - Hình như ông ấy đã bị lột hết quần áo.
    Langdon rọi đèn vào thi thể trần trụi.
    - Có phải một trong bốn vị Hồng y đây không?
    Langdon chưa thể khẳng định chính xác, nhưng còn có thể là ai khác được nữa cơ chứ. Anh chăm chú quan sát khuôn mặt tái nhợt ấy. Bất động. Không còn sự sống. Nhưng mà… Langdon ngập ngừng. Tư thế của người này có cỏ vẻ gì đó rất lạ. Hình như là…
    Langdon nói vọng xuống:
    - Xin chào!
    - Anh nghĩ rằng ông ấy còn sống à?
    Không thấy người bên dưới trả lời.
    - Không thấy cử động, - Langdon nói với Vittoria. - Nhưng mà trông ông ấy… Không thể nào.
    - Trông ông ấy làm sao? - lúc này Vittoria cũng bắt đầu nhòm xuống dưới.
    Langdon cố căng mắt nhìn:
    - Trông như là ông ấy đang đứng.
    Vittoria nín thở, cúi xuống để nhìn vào trong hầm mộ. Thoáng sau, cô lùi lại.
    - Anh nói đúng. Ông ấy đang đứng! Biết đâu ồng ấy còn sống và đang cần chúng ta giúp đỡ! - Cô gọi xuống - Xin chào! Mi puó sentire?(2)
    Không thấy có tiếng vọng nào trong hầm mộ ẩm thấp. Yên lặng hoàn toàn.
    Vittoria quay sang cái thang gỗ ọp ẹp:
    - Tôi xuống xem thế nào.
    Langdon túm tay cô gái:
    - Đừng! Nguy hiểm lắm. Để tôi xuống!
    Lần này thì Vittoria không phản đối.
    Chú thích:
    (1) Figlio di puttana: Con trai của kẻ ăn chơi.
    (2) Mi puó sentire? - Có nghe thấy tôi nói không?


    Chương 66

    Chinita Macri tức phát điên. Cô đang ngồi trên hàng ghế sau, chiếc xe hòm của hãng BBC đang đỗ ở góc phố Via Tomacelli.
    Gunther Glick đang săm soi bản đồ thành Rome, rõ ràng là đã bị mất phương hướng. Đúng như cô e ngại, người báo tin bí hiểm kia đã gọi lại, và lần này họ đã có thông tin cụ thể.
    - Piazza Del Popolo. - Glick lẩm bẩm. - Đó là nơi chúng ta cần đến. Ở đó có nhà thờ, và bên trong là bằng chứng.
    - Bằng chứng gì? - Chinita dừng tay lau ống kính máy quay, quay sang hỏi - Bằng chứng rằng một vị Hồng y Giáo chủ đã bị giết hại à?
    - Anh ta nói chính xác như thế đấy.
    - Anh tin anh ta thật đấy à?
    Như bao lần khác, Chinita ước gì cô được là người đưa ra quyết định. Tuy nhiên, kỹ thuật viên camera luôn luôn phải tuân theo mọi ý tưởng kỳ quặc của các phóng viên. Nếu Gunther Glick muốn nghe theo sự chỉ dẫn của nhân vật nào đó qua điện thoại, thì Macri chỉ là một con chó bị xích vào dây của anh ta.
    Chinita quan sát Glick. Anh ta đang ngồi trên ghế lái xe, có vẻ quyết làm bằng được chuyện này. Chắc chắn cha mẹ anh ta đều là diễn viên hài và đang lúc phẫn chí nên đặt cho anh ta cái tên Gunther Glick. Chả trách anh chàng lúc nào cũng sôi sùng sục muốn thể hiện bản thân mình. Tuy nhiên, dù vô cùng hăm hở và háo hức, Glick vẫn chỉ là một anh chàng làng nhàng và tầm thường… nhưng dễ mến. Gần giống như Hugh Grant.
    - Hay là chúng ta quay lại nhà thờ St. Peter? - Macri cố tỏ ra nhẹ nhàng. - Sau đó chúng ta xác minh lại tin này cũng được mà. Mật nghị Hồng y đã bắt đầu được một giờ rồi. Nhỡ các Hồng y công bố quyết định đúng lúc chúng ta vắng mặt thì sao?
    Glick dường như không muốn nghe thấy gì.
    - Tôi nghĩ là chúng ta sẽ phải rẽ phải ngay ở chỗ này. - Anh ta xoay tấm bản đồ, rồi tiếp tục săm soi. - Đúng rồi, rẽ phải ở đây… sau đó rẽ trái ngay lập tức. Anh ta bắt đầu cho xe quay sang con phố nhỏ trước mặt họ.
    - Cẩn thận! - Macri thét lên. Là kỹ thuật viên camera, cô có cặp mắt cực kỳ tinh tường. May mà Glick cũng nhanh nhẹn không kém. Anh ta đạp mạnh cần phanh, tránh khỏi ngã tư đúng lúc một đoàn bốn chiếc xe Alfa Romeo thình lình xuất hiện, lao nhanh như tên bắn. Vừa vượt qua sát mặt họ, lập tức cả bốn chiếc xe đều phanh lại, giảm tốc độ, rồi rẽ vào khu phố trước mặt. Chúng đi đúng con dường mà Glick đang định rẽ vào.
    - Khủng khiếp! - Macri kêu lên.
    Glick có vẻ giật mình.
    - Cô có thấy không?
    - Có chứ! Sao lại không! Suýt nữa họ cho chúng ta đi đời còn gì.
    - Không, tôi nói đến những cái xe kia cơ mà. - Giọng Glick chợt trở nên vô cùng hào hứng.
    - Tất cả đều cùng một loại.
    - Tức là bọn họ vừa điên vừa không có một tí trí tưởng tượng nào.
    - Cả bốn chiếc xe đều chật kín.
    - Thì sao?
    - Tình cờ là bốn chiếc xe giống hệt nhau, mỗi chiếc đều tình cờ chở bốn người sao?
    - Anh chưa bao giờ nghe nói tới đội xe tuần tra à?
    - Ở Ý á? Glick quan sát ngã tư. - Làm gì mà đã tân tiến được đến mức ấy. - Anh ta gạt cần tăng tốc lao theo bốn chiếc xe vừa chạy qua.
    Macri bị hất ngược vào lưng ghế. - Anh đang làm cái quái gì thế hả?
    Glick tăng tốc lao xuống phố rồi rẽ trái theo những chiếc xe Alfa Romeo.
    - Linh cảm mách bảo tôi rằng chúng ta không phải là những kẻ duy nhất tìm đến nhà thờ đó.


    Chương 67

    Không thể leo xuống một cách nhanh chóng được.
    Trong nhà nguyện Chigi, Langdon lần từng bậc trên chiếc thang cọt kẹt… mỗi lúc một xuống sâu thêm. Xuống hang quỷ, anh nghĩ thầm. Mặt Langdon hướng về bức tường, lưng quay về phía hầm mộ, lòng thầm hỏi không hiểu hôm nay anh sẽ còn phải xông vào bao nhiêu chỗ tối tăm tù túng kiểu này nữa. Mỗi bước chân của Langdon lại khiến cái thang gỗ như muốn rên lên, và mùi thịt đang phân huỷ, mùi ầm thấp cùng một lúc ập vào lỗ mũi khiến anh ngạt thở. Không hiểu lúc này Olivetti đang ở chỗ nào.
    Vittoria đang đứng trên miệng hố, đưa cầy đèn xì xuống dưới để soi đường cho Langdon. Càng xuống sâu, ánh sáng toả ra từ đốm lửa càng yếu đi. Thứ duy nhất trở nên mạnh thêm chính là mùi hôi thối.
    Xuống được mười hai bậc thì Langdon giẫm phải một bậc thang bị mục trơn nhãy và trượt chân. Anh vội nhoài người về phía trước, hai tay bám chặt vào bậc thang để khỏi rơi xuống dưới. Vừa nguyền rủa những vết trầy xước trên cánh tay, anh vừa bám chặt vào cái thang và tiếp tục trèo xuống.
    Thêm được ba bậc nữa, Langdon lại suýt ngã, nhưng lần này chẳng có nấc thang nào bị mục. Thật hãi hùng. Anh vừa đối mặt với một cái hốc trong tường và trông thấy vô số đầu lâu ngay trước mặt. Cố giữ cho hơi thở đều đặn, anh nhìn quanh và nhận ra rằng ở độ sâu này thì tất cả các mảng tường đều có những hốc lõm như thế - hốc nào cũng đầy hài cốt. Trong ánh sáng xanh của đèn xì, cảm giác như cả một mê cung những hốc mắt trống toang hoác và những bộ khung xương đang trong quá trình phân huỷ vây chặt lấy Langdon.
    Những bộ khung xương trong ánh lửa bập bùng, anh nhăn mặt đầy hài hước, nhớ lại cách đây đúng một tháng, anh cũng đã trải qua một buổi tối y như hôm nay. Một buổi tối với những bộ khung xương và ánh lửa bập bùng. Bữa ăn tối trong ánh nến để gây quỹ cho viện khảo cổ học New York - món cá ngừ sốt trong bóng của một bộ xương khủng long. Anh là khách mời của Rebecca Strauss người mẫu một thời, nay là bình luận viên trong chuyên mục nghệ thuật của tờ Thời báo, một trận cuồng phong với vải nhung đen, thuốc lá, và bộ ngực được tôn cao đầy khiêu khích. Từ hôm đó Rebecca đã gọi cho anh hai lần. Nhưng Langdon vẫn chưa trả lời cả hai cú gọi đó. Mình chả lấy gì làm mã thượng, anh tự la rầy bản thân. Không hiểu trong cái hố hôi thối này thì Rebecca sẽ chịu được bao lâu nhỉ.
    Hết bậc thang cuối cùng, đặt chân xuống nến đất xốp và ẩm ướt Langdon thấy nhẹ cả người. Tự trấn an rằng các bức tường xung quanh sẽ không ùa vào quây chặt lấy mình, Langdon đưa mắt quan sát hầm mộ. Hình tròn, đường kính khoảng 6 mét. Lại tiếp tục lấy ống tay áo bịt mũi, Langdon quay lại nhìn cái xác. Trong ánh sáng yếu ớt, cái xác hiện ra lờ mờ. Một cái xác trắng ởn, nhẽo nhẹt, mặt quay về phía đối diện. Bất động. Im lìm.
    Vừa bước dò dẫm trong hầm mộ âm u, Langdon vừa tự hỏi người này đang nhìn cái gì. Ông ta quay lưng lại nên Langdon không thể trông thấy mặt, nhưng rõ ràng là ông ta đang đứng.
    - Xin chào. - Langdon đã sắp sửa chết ngạt đến nơi. Không thấy gì Đến gần hơn, anh nhận thấy người này rất thấp. Quá thấp…
    - Có chuyện gì thế! - Từ trên cao, Vittoria hỏi vọng xuống, cây đèn xì trên tay cô gái hơi rung rung. Langdon không trả lơi. Anh đang đến gần để quan sát. Với cảm giác kinh tởm, anh dần hiểu ra sự việc Hầm mộ như đang co hẹp lại quanh Langdon. Thân thể ông già này như một con quỷ nhô lên từ trong lòng đất. Một nửa thân thể thì đúng hơn. Ông ta bị chôn đến ngang thắt lưng trong đất. Bị đặt trong tư thế đứng, nửa người bị vùi dưới đất. Quần áo bị lột sạch. Hai tay bị trói quặt ra sau bằng chính chiếc khăn choàng của Hồng y. Tấm thân đã mềm rũ ra bị dựng thẳng lên, sống lưng ngả ra sau, y như một cái ba lô du lịch đã bị gãy sống bằng sắt ở trong. Đầu người này ngửa hẳn ra sau, mắt hướng lên thiên đường như thể đang cầu xin chúa xuống cứu giúp.
    - Ông ấy chết rồi à? - Vittoria gọi xuống.
    Langdon tiến lại gần cái xác. Hy vọng là thế để ông ấy đỡ phải chịu đựng. Còn cách không đầy 1 mét, Langdon nhìn vào đôi mắt đang hướng lên trên - chúng lòi hẳn ra ngoài, xám xịt và bê bết máu. Langdon cúi xuống để nghe hơi thở, nhưng lập tức lùi phắt ra. - Lạy chúa tôi.
    - Gì thế?
    Langdon gần như nghẹn lời.
    - Ông ấy chết rồi. Tôi vừa phát hiện ra nguyên nhân! - Cảnh tượng thật khủng khiếp. Miệng vị Hồng y này đã bị găng ra, rồi bị lèn dầy đất. - Hung thủ đã nhét một nắm đất vào họng ông ấy. Ông ấy bị chết ngạt rồi.
    - Đất à? Vittoria hỏi. - Đất phải không?
    Langdon chợt nhớ ra đất. Anh gần như quên hẳn. Bốn thành tố Đất Khí, Lửa và Nước. Kẻ sát nhân đã đe doạ sẽ dùng bốn thành tố cổ xưa của khoa học để đóng dấu lên từng nạn nhân. Yếu tố đầu tiên là đất. Từ lăng mộ trần tục của Santi. Choáng váng vì mùi hôi thối, Langdon vòng ra trước mặt thi thể của vị Hồng y. Với hiểu biết sâu sắc về biểu tượng học, anh băn khoăn không hiểu biểu tượng đối xứng của Đất trông như thế nào. Nhưng chỉ sau tích tắc, biểu tượng ấy đã hiện ra ngay trước mắt. Bao thế kỷ tồn tại của hội Illuminati xoay đảo trong tâm trí Langdon. Ngực vị Hồng y già cả này đã bị nung cháy, và bê bết máu. Da thịt cháy đen. Ngôn ngữ thuần khiết…
    Langdon trân trối nhìn biểu tượng ấy, và bắt đầu thấy hầm mộ tròng trành xoay đảo.

    - Đất! - Langdon lẩm bẩm, cố nghiêng đầu để nhìn biểu tượng này ngược từ dưới lên. - Đất!
    Rồi kinh hãi đến tột độ, anh nhớ ra. Còn ba biểu tượng nữa.



    Chương 68

    Ánh nến dịu dàng soi sáng nhà nguyện Sistine không thể khiến Hồng y Mortati cảm thấy yên lòng. Mật nghị Hồng y đã chính thức bắt đầu. Và đã bắt đầu với điềm gở.
    Nửa giờ trước, Giáo chủ Thị thần Carlo Ventresca đã bước vào nhà nguyện theo đúng thể thức. Ngài đã bước đến trước bàn thờ chúa và đọc diễn văn khai mạc. Sau đó, viên Thị thần của cố Giáo hoàng mở rộng hai bàn tay, và phát biểu với thái độ vô cùng thẳng thắn, thẳng thắn đến mức chưa từng có trong nhà nguyện Sistine, trước bàn thờ chúa.
    - Các vị đều biết rõ là bốn vị Hồng y được lựa chọn hiện không có mặt ở đây trong Mật nghị Hồng y của chúng ta. - Giáo chủ Thị thần nói - Nhân danh cố Giáo hoàng, tôi đề nghị các vị hãy vì đức tin và sứ mệnh của mình, hãy tiến hành nghi lễ. Cầu Chúa phù hộ để Mật nghị của chúng ta có được một lựa chọn sáng suốt. - Sau đó Giáo chủ Thị thần đi ra ngoài.
    Một Hồng y Giáo chủ lên tiếng:
    - Nhưng các ngài ấy đâu?
    Giáo chủ Thị thần dừng lại:
    - Điều đó thì quả thực là tôi không thể nói ra.
    - Khi nào thì họ sẽ trở lại đây?
    - Điều đó quả thực là tôi không thể nói ra.
    - Các ngài ấy đều bình an chứ?
    - Điều đó thì tôi không dám khẳng định.
    - Liệu các ngài ấy có trở về đây hay không?
    Im lặng hồi lâu.
    - Xin các ngài hãy giữ đức tin. - Giáo chủ Thị thần nói rồi ra khỏi phòng.
    Theo đúng truyền thống, cánh cửa dẫn vào nhà nguyện được khoá ngoài bằng hai vòng xích. Ngoài hành lang có bốn lính Thuỵ Sĩ đứng gác. Hồng y Mortati biết rằng từ giờ đến lúc bầu xong Giáo hoàng mới, chỉ có một cách duy nhất để mở cánh cửa đó ra - một là có người bên trong bị ốm nặng, hai là những người được lựa chọn quay trở lại. Đức cha cầu mong rằng tình huống thứ hai sẽ xảy ra, dù trong thâm tâm, cha không mấy tin tưởng rằng sẽ có chuyện đó.
    Ý chí mạnh mẽ thể hiện trong giọng nói của Giáo chủ Thị thần đã giúp Hồng y Mortati đưa ra quyết định, vì bổn phận trước Chúa, chúng ta phải tiến hành. Và cha đã tiến hành bỏ phiếu. Còn có thể làm được gì khác nữa đây?
    Phải mất 30 phút thì Hồng y Mortati mới làm xong những nghi lễ mở đầu cho lần bỏ phiếu đầu tiên vì kiên nhẫn đợi bên bàn thờ. Theo thứ bậc từ cao xuống thấp, các vị Hồng y Giáo chủ đến bên bàn thờ và tiến hành chính xác thủ tục bỏ phiếu.
    Rồi vị Hồng y cuối cùng cũng đã đến bên bàn thờ và quỳ xuống.
    - Xin chúa Ki tô chứng giám, lá phiếu của con sẽ dành cho người mà con tin rằng nên được bầu.
    Vị Hồng y này tuyên bố, y hệt như các vị khác đã làm trước đó.
    Vị Hồng y đứng dậy, giơ lá phiếu lên cao cho tất cả các Hồng y trong phòng nhìn thấy. Sau đó hạ lá phiếu xuống chiếc đĩa đặt trên chiếc chén thánh lớn. Vị này cầm đĩa lên, sau đó trút lá phiếu của mình vào trong chén thánh. Dùng đĩa thế này để đảm bảo rằng mỗi vị Hồng y chỉ có thể bỏ một lá phiếu duy nhất.
    Dốc xong lá phiếu vào chén thánh, vị Hồng y này đặt lại cái đĩa lên miệng chén, cúi lạy cây thánh giá, rồi quay về chỗ ngồi của mình.
    Lá phiếu cuối cùng đã được bỏ.
    Giờ đã đến lúc Hồng y Mortati làm công việc của mình. Một tay giữ cái đĩa trên miệng chén thánh. Hồng y Mortati có cái cốc vài lần để đảo vị trí các lá phiếu, sau đó bỏ đĩa sang một bên, nhặt ngẫu nhiên từng lá phiếu lên và mở ra, lá phiếu có bề ngang đúng 5,8 cm. Cha đọc to lên cho tất cả mọi người đều nghe thấy.
    Cha đọc hàng chữ được in sẵn ở hàng trên cùng trong phiếu bầu. "Tôi bầu người sau đây vào vị trí Giáo hoàng…" Rồi cha đọc tên người được bầu ở bên dưới. Xướng tên xong, cha giơ kim chỉ lên, chọc kim đúng vào chữ Eligo, cẩn thận đẩy nhẹ tờ phiếu theo sợi chỉ. Cuối cùng, cha chú thích vào trong sổ nhật ký bầu chọn.
    Sau đó, Hồng y Mortati lại lặp lại đầy đủ những thủ tục ấy: nhặt một lá phiếu trong chén thánh, đọc to lên, rồi ghi vào sổ nhật ký bầu chọn. Ngay lập tức, Hồng y Mortati biết là lần bỏ phiếu đầu tiên đã không thành. Không có sự đồng thuận. Mới đọc bảy lá phiếu đã thấy tên những bảy vị Hồng y. Và như thường lệ, mọi người giấu nét chữ viết tay điển hình của mình bằng cách viết chữ vuông hoặc chữ thật bay bướm - một động tác thật mỉa mai vì trong trường hợp này họ bầu cho chính bản thân mình. Nhưng cha biết rằng sự lừa dối này không xuất phát từ lòng tự tôn hay tham vọng cá nhân, nó chỉ là một cách để kéo dài thời gian. Một biện pháp phòng vệ - mục đích của nó là để không một vị Hồng y nào có đủ số phiếu trúng cử… để buộc phải tiến hành vòng bỏ phiếu lần hai.
    Tất cả các vị giáo chủ đều muốn đợi những người được lựa chọn…
    Sau khi kiểm xong lá phiếu cuối cùng, Hồng y Mortati tuyên bố vòng bỏ phiếu đã thất bại. Ngài cột hai đầu sợi chỉ lại, buộc tất cả các lá phiếu vào với nhau, sau đó đặt lên một cái đĩa bằng bạc và rắc hoá chất lên trên, rồi mang chiếc đĩa lại bên ống khói sau lưng và châm lửa. Khi các lá phiếu bốc cháy, hoá chất vừa được rắc lên sẽ tạo ra một làn khói đen. Theo ống khói này, làn khói sẽ bay lên nóc nhà nguyện để mọi người nhìn thấy. Hồng y Mortati vừa gửi thông điệp đẩu tiên ra thế giới bên ngoài.
    Một vòng bỏ phiếu. Chưa có Giáo hoàng.

  5. #15
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 69

    Tưởng như sắp chết đến nơi vì mùi thối, Langdon loạng choạng trèo lên trên chỗ có ánh sáng trên miệng hầm mộ. Anh nghe thấy nhiều giọng nói trên đó, nhưng chẳng hiểu gì cả. Biểu tượng của Illuminati trên ngực đức Hồng y giáo chủ xấu số quay cuồng trong tâm trí anh. Đất. đất. Leo lên gần đến nơi, thị lực của anh bỗng nhiên giảm hẳn, Langdon như sắp ngất. Còn hai bậc thang nữa thì anh bị trượt chân. Langdon dưới người lên, cố bám lấy bậc thang bên trên, nhưng với không đến. Anh tuột tay, và suýt nữa thì rơi xuống hầm mộ tối om. Hai cánh tay đau nhức, rồi đột nhiên Langdon thấy mình lơ lửng trong không trung, và lắc lư ngay trên miệng hầm.
    Những cánh tay mạnh mẽ của hai người lính gác Thuỵ Sĩ xốc nách Langdon và kéo anh lên. Trong giây lát, anh đã nhô đầu lên trên miệng hầm và thở hổn hển. Họ kéo anh qua cái nắp hầm hình tròn, rồi đặt anh nằm ngửa trên mặt sàn cẩm thạch.
    Lúc này Langdon không nhớ nổi mình đang ở đâu. Anh thấy những ngôi sao ở ngay trên đầu… những hành tinh đang quay trong quỹ đạo. Những hình bóng lờ mờ lướt qua trước mắt. Mọi người đang quát tháo. Anh cố nhổm người dậy và thấy mình đang nằm ngay dưới chân Kim tự tháp. Một giọng nói quen thuộc đang quát tháo ầm ỹ làm Langdon tỉnh táo hẳn.
    Olivetti đang quát mắng Vittoria:
    - Tại sao các vị không phát hiện ra chỗ này ngay từ đầu?
    Vittoria đang cố gắng giải thích tình hình. Cô gái chưa nói hết câu thì ông ta đã quay sang quát tháo đám nhân viên của mình.
    - Đưa đức Hồng y ra khỏi chỗ đó mau! Lục soát toàn bộ nhà thờ!
    Langdon gắng sức ngồi dậy. Nhà nguyện Chigi đặc những lính gác Thuỵ Sĩ. Tấm nilông che lối vào đã bị xé toạc đì, không khí trong lành ùa vào hai lá phổi của Langdon. Các giác quan dần dần hồi phục trở lại, Langdon thấy Vittoria tiến lại bên anh, vẻ mặt như một thiên thần.
    - Anh ổn chứ? - Vittoria cầm tay anh để bắt mạch. Những ngón tay dịu dàng chạm vào da thịt Langdon.
    - Cảm ơn. - Lúc này thì Langdon đã ngồi được ngay ngắn. - Olivetti điên mất rồi.
    Vittoria gật đầu:
    - Ông ấy có quyền làm như thế. Lúc đầu chúng ta đã sai lầm mà.
    - Sai lầm của tôi đấy chứ.
    - Vậy thì anh hãy chuộc lỗi đi. Lần sau thì phải tóm được hắn.
    Lần sau, Langdon thấy lời động viên này thật ác. Làm gì còn lần nào khác nữa! Chúng ta thua mất rồi!
    Vittoria xem đồng hồ đeo tay của Langdon.
    - Mickey nói rằng chúng ta còn 40 phút nữa. Anh hãy tỉnh táo lại đi để giúp tôi tìm đầu mối thứ hai.
    - Tôi đã nói rồi, Vittoria, các tác phẩm điêu khắc giờ không còn nữa. Con dường ánh sáng bây giờ… - Langdon chợt bỏ dở câu nói.
    Vittoria mỉm cười dịu dàng.
    Đột nhiên Langdon loạng choạng đứng lên. Anh liên tục quay đầu hết vòng này đến vòng khác, chăm chú nhìn những hình vẽ và tác phẩm nghệ thuật quanh mình. Kim tự tháp, những ngôi sao, các hành tinh, hình e-lip. Đột nhiên anh nhận ra tất cả. Đây mới chính là bàn thờ khoa học đầu tiên! Đây chứ không phải điện Pantheon!
    Lúc này anh mới hiểu thế nào là nhà nguyện của hội Illuminati, tinh tế hơn cung điện Pantheon trứ danh nhiều! Nhà nguyện Chigi là một góc kín đáo, đúng ra thì nó chỉ là một cái hốc tường, một công trình để tôn vinh nhà Mạnh Thường Quân vĩ đại của khoa học, và được trang trí bằng những hình tượng rất thế tục.
    Thật là hoàn hảo.
    Langdon đứng trước bức tường, chăm chú quan sát hình Kim tự tháp khổng lồ được khắc trên đá. Vittoria nói hoàn toàn đúng. Nếu nhà nguyện này chính là bàn thờ khoa học đầu tiên thì ở đây phải có tác phẩm điêu khắc được dùng để chỉ hướng.
    Langdon chợt thấy một luồng điện xuyên khắp toàn thân, hoá ra anh vẫn còn cơ hội. Nếu dấu hiệu chỉ đường vẫn còn nguyên ở đây thì họ có thể lần theo dấu để tìm ra bàn thờ khoa học tiếp theo, và vẫn còn cơ hội tóm được hung thủ.
    Vittoria đến bên Langdon:
    - Tôi đã biết người nghệ sĩ vô danh của hội Illuminati là ai rồi.
    Langdon quay phắt lại:
    - Gì cơ?
    - Giờ chúng ta chỉ việc xác định xem tác phẩm điêu khắc nào ở đây chính là…
    - Gượm đã nào! Cô biết nhà điêu khắc của hội Illuminati à?
    Langdon đã dành cả một thập kỷ để tìm cái tên đó.
    Vittoria mỉm cười:
    - Chính là Bernini. - Cô gái ngừng một lát. - Là Bernini.
    Langdon biết ngay cô gái đã nhầm. Không thể nào là Bernini được. Gianlorenzo Bernini cũng là nhà điêu khắc nổi tiếng của mọi thời đại, danh tiếng của ông chỉ kém mỗi Michelangelo mà thôi. Trong suốt thế kỷ XVII, Bernini đã sáng tạo ra nhiều tác phẩm hơn bất kỳ nghệ sĩ nào khác. Tiếc là họ đang tìm một nghệ sĩ khác, một người vô danh.
    Vittoria nhíu mày:
    - Trông anh chả có tí hào hứng nào.
    - Không thể là Bernini được.
    - Sao không? Bernini cũng cùng thời với Galileo. Lại cũng là một nghệ sĩ điêu khắc thiên tài.
    - Ông ấy rất nổi tiếng và rất sùng đạo Cơ đốc.
    - Đúng thế. Ý hệt như Galileo. - Vittoria đáp.
    - Không. - Langdon tranh luận. - Chẳng giống Galileo chút nào.
    Galileo là cái gai trong con mắt của Vatican. Còn Bernini lại là cục cưng của tăng đoàn. Giáo hội cưng chiều Bernini. Ông ấy còn được chọn là người phụ trách các công trình nghệ thuật cho Vatican. Thậm chí ông ấy còn sống trong khuôn viên toà thánh suốt đời cơ mà!
    Một lớp vỏ bọc hoàn hảo. Chiến thuật cài người của Illuminati.
    Langdon thấy bối rối.
    - Vittoria này, những thành viên của Illuminati vẫn nhắc đến người nghệ sĩ của họ bằng cụm từ bậc thầy vô danh.
    - Đúng thế, vô danh đối với riêng họ thôi. Anh hãy nghĩ về những bí mật của hội Tam Điểm mà xem - chỉ những thành viên cao cấp nhất mới được biết toàn bộ sự thật. Có thể là Galileo giữ bí mật về danh tính của Bernini và không cho các thành viên khác biết… vì sự an toàn của chính nghệ sĩ này. Vì thế cho nên Vatican mới không thể phát hiện ra ông ấy.
    Langdon vẫn chưa tin hẳn, nhưng buộc phải thừa nhận là những lập luận của Vittoria rất có ý nghĩa. Hội Illuminati vẫn nổi tiếng về phương pháp giữ bí mật đặc biệt này, chỉ những thành viên cấp cao mới được biết toàn bộ sự thật. Đó chính là yếu lố then chốt để đảm bảo sự bí mật của cả hội… rất ít người được biết toàn bộ sự thật.
    Và bởi vì Bernini là người mà hội Illuminati cài vào toà thánh cho nên mới có hình hai Kim tự tháp như thế này. - Vittoria mỉm cười Langdon quay sang ngắm hai bức điêu khắc khổng lồ và lắc đầu: Bernini là một nhà điêu khắc sùng đạo. Không có lý gì ông ấy lại khắc hai Kim tự tháp này.
    Vittoria nhún vai:
    - Anh hãy khẳng định điều đó với tấm biển sau lưng kia kìa.
    Langdon quay sang nhìn tấm biển:
    MỸ THUẬT Ở NHÀ NGUYỆN CHIGI
    Kiên trúc sư là Raphael,
    Những trang trí nội thất do Gianlorenzo Bernini đảm nhiệm.
    Langdon đọc tấm biển hai lần, vẫn chưa cảm thấy thuyết phục.
    Gianlorenzo Bernini nổi tiếng với những tác phẩm điêu khắc rất thánh thiện như Đức mẹ đồng trinh Mary, các thiên thần, những nhà thông thái, và các Giáo hoàng. Ông ấy tạc hai Kim tự tháp này để làm gì?
    Langdon ngước lên nhìn hai bức điêu khắc cao ngất, hoàn toàn mất phương hướng. Hai Kim tự tháp, mỗi bên một cái đĩa hình e-líp sáng loáng. Trông chẳng có chút hơi hướng Thiên Chúa giáo nào. Hai Kim tự tháp, các vì sao trên trời, biểu tượng hoàng đạo. Trang trí nội thất do Gianlorenzo Bernini đảm nhiệm.
    Nếu như vậy thì quả là Vittoria đã nói đúng. Tức là Bernini là nghệ sĩ vô danh của hội Illuminati, không một bàn tay nào khác liên quan đến những tác phẩm nghệ thuật trong nhà nguyện này! Langdon không thể tiếp nhận thông tin này một cách dễ dàng.
    Bernini là người của hội Illuminati.
    Bernini đã sáng tạo ra các biểu tượng đối xứng hai chiều của hội Illuminati.
    Bernini là người đã đánh dấu con đường ánh sáng.
    Langdon không nói nên lời. Có thể nào chính tại nhà nguyện bé nhỏ này, bậc thầy Bernini đã đặt tác phẩm điêu khắc chỉ ra con đường đến bàn thờ khoa học thứ hai ngay trong thành Rome?
    - Bernini. Tôi không thể tưởng tượng nổi.
    Nếu không phải là một nghệ sĩ lừng danh của Vatican thì ai là người có đủ tài năng để rải các tác phẩm nghệ thuật của mình khắp thành Rome mà đánh dấu con đường ánh sáng đây? Chắc chắn không thể là người không có tên tuổi rồi.
    Langdon phân vân. Anh nhìn hai Kim tự tháp, băn khoăn liệu một trong hai kim tự tháp có thể là dấu hiệu để lần theo hay không. Hay là cả hai? Hai Kim tự tháp này quay về hai hướng khác nhau. Langdon nói:
    - Tôi không dám khẳng định là có thể hiểu được hàm ý của chúng. Hai tác phẩm này quá giống nhau, không biết phải…
    - Nhưng tôi nghĩ rằng đó không phải là thứ chúng ta cần tìm.
    - Ở đây làm gì có tác phẩm điêu khắc nào khác.
    Vittoria đưa tay chỉ về phía Olivetti và mấy người lính gác Thuỵ Sĩ đang đứng bên miệng hang quỷ.
    Langdon đi theo hướng tay chỉ của cô gái đến bức tường ở đằng xa. Lúc đầu anh không trông thấy gì. Rồi một người lính đứng dịch đi một chút, anh thoáng nhìn thấy. Đá cầm thạch trắng. Cánh tay. Thân mình. Rồi một khuôn mặt được tạc trên đá. Nửa bị che khuất bởi hốc tường. Hai bức tượng to bằng người thật quấn chặt lấy nhau. Mạch Langdon đập rộn. Quá chú ý đến Kim tự tháp và hang quỷ, anh đã không trông thấy tác phẩm này.
    Langdon băng qua căn phòng, chen qua đám lính gác Thuỵ Sĩ. Đến gần, anh nhận ra chất Bernini không thể trộn lẫn - bố cục đầy xúc cảm, khuôn mặt được chạm khắc tỉ mỉ, trang phục buông thùng xuống, trên nền đá cẩm thạch trắng, loại trắng nhất mà Vatican có thể mua được bằng tiền. Đứng nhìn hai khuôn mặt trên đá, Langdon thở dốc.
    - Họ là ai? - Vittoria đã đến đứng cạnh anh, cô gái lên tiếng.
    Langdon kinh ngạc.
    - Habakkuk và Thiên thần, - anh nói, gần như thì thầm. Đây là một tác phẩm khá nổi tiếng của Bernini, và được nhắc đến trong một số giáo trình về lịch sử nghệ thuật. Langdon quên mất rằng nó được đặt chính tại đây.
    - Habakkuk?
    - Ừ. Nhà tiên tri đã tiên đoán về sự diệt vong của trái đất.
    Vittoria có vẻ lo lắng:
    - Theo anh đây có phải là dấu hiệu dẫn đường không?
    Langdon gật đầu, vẫn chưa hết sững sờ. Chưa bao giờ anh cảm thấy một niềm tin chắc chắn hơn thế này. Đây chính là dấu hiệu đầu tiên của hội Illuminati. Không còn nghi ngờ gì nữa. Dù đoán rằng dấu hiệu sẽ chỉ ra bàn thờ khoa học tiếp theo, Langdon không ngờ nó lại rõ ràng đến mức này. Cả thiên thần lẫn Habakkuk đều giương thẳng cánh tay và chỉ vào trong không trung.
    Langdon bất giác mỉm cười:
    - Cũng không đến nỗi quá khó hiểu, phải không?
    Vittoria có vẻ rất phấn khởi, nhưng không hiểu.
    - Tôi cũng thấy là họ đang chỉ, nhưng hai người chỉ về hai hướng ngược nhau. Thiên thần chỉ một đằng, còn nhà tiên tri thì chỉ hướng ngược lại.
    Langdon cười khùng khục. Quả thế thật. Dù cả hai bức tượng đều chỉ tay vào trong không trung, chúng chỉ những hướng hoàn toàn ngược nhau. Nhưng Langdon đã giải xong câu đố này. Chợt cảm thấy mình lại tràn đầy sinh lực, anh quay ngay ra cửa.
    - Anh đi đâu đấy? - Vittoria gọi.
    - Ra ngoài trời! - Langdon lại đã có thể bước đi phăm phăm. - Tôi xem bức tượng chỉ về hướng nào!
    - Từ từ đã nào! Anh đã biết là phải theo chỉ dẫn của tượng nào chưa?
    - Bài thơ đấy! - Langdon đáp. - Dòng cuối cùng!
    Thiên thần dẫn lối trên hành trình cao cả? Cô gái ngước lên cánh tay của thiên thần. Bất chợt hai mắt Vittoria nhoà lệ:
    - Lạy chúa tôi!


    Chương 70


    Gunther Glick và Chinita Macri đang ở trong chiếc xe hòm của hãng BBC tại quảng trường Popolo. Họ đến đây ngay sau đội xe Alfa Romeo, và vừa kịp để chứng kiến một chuỗi sự kiện cực kỳ khác thường. Chưa biết những gì trông thấy có ý nghĩa gì, nhưng Chinita vẫn bật máy quay.
    Vừa đến nơi, lập tức Chinita và Glick trông thấy một đội thanh niên trẻ lao ra từ bốn chiếc xe đỗ quanh nhà thờ, còn giương sẵn súng ống. Một người đàn ông đã luống tuổi, vẻ rắn rỏi, dẫn một đội qua cửa chính vào trong nhà thờ. Họ lấy súng phá tan khoá cửa. Macri không nghe thấy gì, cô đoán súng của họ có lắp bộ phận giảm thanh. Rồi những người lính vào bên trong.
    Chinita đề nghị ngồi im trong xe để quay phim. Suy cho cùng thì súng vẫn là súng, vả lại ngồi đây cũng có thể quan sát rất tốt. Glick cũng không có ý kiến gì. Lúc này, bên kia quảng trường, người đi ra đi vào tấp nập, gọi nhau ý ới.
    Chinita điều chỉnh ống kính để theo sát một toán lính đang sục sạo xung quanh nhà thờ. Tất cả bọn họ, dù đang mặc quần áo dân sự, đều di chuyển với sự chuẩn xác của cánh nhà binh.
    - Theo anh thì họ là ai? - cô hỏi.
    - Tôi làm thế quái nào mà biết được. - Glick ngồi như mọc rễ trên ghế. - Quay được hết đấy chứ?
    - Không sót chút nào.
    Glick tỏ vẻ tự mãn:
    - Giờ cô còn muốn về đợi tin Giáo hoàng nữa không nào?
    Chinita không biết nói gì. Chắc chắn ở đây đang có chuyện, nhưng cô đã hoạt động trong lĩnh vực báo chí lâu năm, và biết rằng nhiều sự kiện trông có vẻ hấp dẫn nhưng thực ra lại chẳng gây ấn tượng gì.
    - Chưa có gì chắc chắn cả. Rất có thể những anh chàng này cũng nhận được cùng một cú gọi giống như chúng ta và đang kiểm tra thôi. - Cô đáp. - Biết đâu chỉ là báo động giả.
    Glick chộp lấy cánh tay cô:
    - Kia kìa! Chú ý! - Anh ta chỉ về phía nhà thờ.
    Chinita xoay máy về hướng đó.
    - Xin chào anh bạn. - Cô vừa căn tâm hình vào đúng người đàn ông mới. Từ trong nhà thờ bước ra.
    - Gã nhanh nhẹn đó là ai thế?
    Chinita quay cận cảnh.
    - Chưa thấy mặt bao giờ. - Cô quay sát khuôn mặt và nụ cười của người đó - Nhưng nếu được gặp lại thì tôi không phản đối đâu.
    Robert Langdon chạy xuống cầu thang và ra giữa quảng trường. Trời đang tối dần, ngày xuân ở thành Rome thường khá dài. Mặt trời đã khuất sau những toà nhà xung quanh, bóng tối bắt đầu tạo thành những vệt ngang dọc khắp quảng trường.
    - Được rồi Bernini. - Langdon tự nói một mình. - Thiên thần chỉ về nơi nào không biết.
    Langdon quay lại nhìn kỹ hướng của nhà thờ. Anh tưởng tượng nhà nguyện Chigi bên trong với bức điêu khắc Thiên thần và nhà tiên tri. Không chút do dự, Langdon quay về hướng Tây, về hướng mặt trời sắp lặn. Thời gian đang cạn dần.
    - Tây Nam. - Langdon nói và cau có nhìn những quầy bán hàng che khuất mất tầm nhìn. - Dấu hiệu tiếp theo ở hướng kia kìa.
    Langdon vắt óc hồi tưởng lại từng giai đoạn lịch sử nghệ thuật của nước Ý. Dù rất quen thuộc với các tác phẩm của Bernini, Langdon biết nghệ sĩ này đã sáng tạo ra vô số tác phẩm, và những người không chuyên như anh không bao giờ nhớ hết được. Tuy nhiên, nếu xem xét mức độ nổi tiếng của dấu hiệu đầu tiên - Habakkuk và thiên thần - Langdon hi vọng dấu hiệu thứ hai cũng là một tác phẩm mà anh đã biết.
    Đất, Khí, Lửa và Nước. Anh nghĩ Đất thì họ đã tìm được trong nhà nguyện Chigi - Habakkuk, người đã tiên đoán về sự diệt vong của trái đất.
    Tiếp theo sẽ là Khí. Langdon cố động não. Một tác phẩm của Bernini có liên quan đến Khí! Trí nhớ anh hoàn toàn trống rỗng. Nhưng trong trái tim thì tràn trề sinh lực. Mình đang đứng trên con đường ánh sáng! Con đường này vẫn còn nguyên vẹn!
    Nhìn về hướng Tây Nam, Langdon căng mắt tìm một cái tháp chuông, hay mái chóp nhọn nhà thờ. Chẳng thấy gì. Cần phải có bản đố. Nếu biết được nhà thờ nào nằm ở phía Tây Nam, biết đâu anh lại nảy ra ý tưởng nào đó. Khí, anh cố vắt óc. Khí. Bernini. Điêu khắc. Khí. Nghĩ đi!
    Langdon quay lại, lao vào trong nhà thờ. Đến chân cầu thang thì anh gặp Olivetti và Vittoria đang chạy trở ra.
    - Hướng Tây Nam, - Langdon vừa nói vừa thở hổn hển. - Nhà thờ tiếp theo nằm về hướng Tây Nam.
    Olivetti lạnh lùng khẽ hỏi:
    - Lần này có chắc không đấy?
    Langdon chẳng để tâm.
    - Cần một cái bản đồ. Bản đồ các nhà thờ ở Rome.
    Viên chỉ huy chòng chọc nhìn Langdon một hồi, mặt lạnh tanh.
    Langdon xem đồng hồ.
    - Chúng ta chỉ còn có nửa giờ nữa thôi.
    Olivetti bước qua trước mặt Langdon, ra chỗ đỗ xe ngay trước cửa chính nhà thờ. Langdon hi vọng ông ta đi lấy bản đồ.
    Vittoria có vẻ rất phấn khởi:
    - Thiên thần chỉ về hướng Tây Nam à? Anh không biết nhà thờ nào nằm hướng đó sao?
    - Toà nhà chết dẫm kia làm tôi chả nhìn thấy gì cả. - Langdon lại quay ra nhìn những toà nhà bao quanh quảng trường. - Vả lại tôi cũng không thông thạo lắm về các nhà thờ ở thành Rome… - Chợt anh ngừng bặt.
    Vittoria có vẻ giật mình:
    - Gì thế?
    Langdon lại quay ra nhìn quảng trường. Bước lên mấy bậc cầu thang, giờ anh đã ở cao hơn một chút. Vẫn chưa nhìn thấy gì, nhưng anh nhận thấy mình đang đi đúng hướng. Mắt Langdon ngước lên giàn giáo ngổn ngang cao ngất ngay trước mặt tiến nhà thờ. Cao những sáu tầng, lên gần đến chóp nhà thờ, cao hơn nhiều so với những toà nhà bao quanh quảng trường. Ngay tức khắc anh biết phải làm gì.
    Bên kia quảng trường, Gunther Glick và Chinita Macri vẫn ngồi nguyên trong chiếc xe truyền hình lưu động của hãng BBC.
    - Quay được cảnh vừa rồi chứ? - Gunther hỏi.
    Macri chỉnh ống kính, hướng về người đàn ông đang trèo lên giàn giáo. - Anh chàng này ăn mặc quá bảnh nên không hợp với vai người nhện.
    - Thế còn phu nhân của người nhện là ai thế?
    Chinita liếc nhìn cô gái xinh đẹp đứng bên dưới giàn giáo:
    - Tôi cá là anh sẽ tìm hiểu bằng được đấy.
    - Có lẽ tôi nên gọi cho tổng biên tập.
    - Đừng vội. Xem thế nào đã. Tốt nhất là có cái gì chắc chắn trong tay rồi hãy lộ chuyện bỏ không trực tin về Mật nghị Hồng y.
    - Liệu có đúng là thằng cha nào đó đã giết chết một lão khọm già không nhỉ?
    Chinita mắng:
    - Sau này anh phải xuống địa ngục là cái chắc.
    - Và sẽ mang theo giải Pulitzer xuống dưới đó.


    Chương 71

    Càng lên cao, giàn giáo càng lắc lư. Tuy nhiên, cứ mỗi bước Langdon lại thấy toàn cảnh thành phố rõ nét hơn. Anh tiếp tục leo lên.
    Lên đến giàn trên cùng, Langdon thở hổn hển. Anh đu người lên tấm gỗ cao nhất, phủi bỏ lớp bụi vữa, đứng thẳng lên. Độ cao không hề khiến Langdon khó chịu. Trái lại, nó càng khiến anh thấy mạnh mẽ hơn.
    Quang cảnh thật đáng kinh ngạc. Những mái ngói đỏ của thành Rome trải ra trước mắt Langdon y như một biển lửa đang bừng lên trong ánh hoàng hôn. Từ trên cao này, lần đầu tiên trong đời, Langdon nhìn cao hơn những lớp khói xăng ôtô và những ô nhiễm khác để thấy thành Rome vẫn cổ kính như xưa - thành phố của Chúa.
    Nheo mắt nhìn về phía mặt trời lặn, Langdon tìm một mái nhọn của nhà thờ, hay một tháp chuông. Nhưng nhìn mãi về phía chân trời vẫn chẳng thấy gì. Ở thành phố này có hàng trăm nhà thờ, anh thầm nghĩ. Chắc chắn phải có một nhà thờ nào đó nằm về hướng Tây Nam nhà thờ này! Giá như nhà thờ đó vẫn còn nguyên, anh tự nhắc bản thân. Giá như nó vẫn chưa trở thành phế tích!
    Tự nhủ rằng phải nhìn cho thật kỹ, Langdon nhìn lại theo hướng ấy một lần nữa. Tuy nhiên, anh biết không phải nhà thờ nào cũng có chóp nhọn nổi bật lên, đặc biệt là những thánh đường nhỏ nằm khuất nẻo. Đấy là chưa kề đến sự thay đổi kinh khủng của thành phố này từ thế kỷ XVII đến nay. Thời đó, luật quy định rằng không một công trình nào được xây cao hơn nhà thờ. Nay thì đã thấy vô số toà nhà chọc trời, tháp truyền hình và cao ốc.
    Lần thứ hai, mắt Langdon lại chạm đến tận đường chân trời mà vẫn chưa thấy gì. Không có một chóp nhọn nào! Tít phía xa, nằm sát rìa thành phố, mái vòm vĩ đại của Michelangelo che mất mặt trời. Đại thánh đường St. Peter. Thành Vatican. Langdon băn khoăn không hiểu Mật nghị Hồng y đang diễn tiến thế nào, không hiểu đội lính Thuỵ Sĩ đã tìm thấy hộp phản vật chất chưa.
    Linh tính mách bảo anh rằng họ chưa thấy… và sẽ không thể nào tìm thấy được. Bài thơ lại vang lên trong tâm trí Langdon. Anh nghiên cứu thật kỹ, từng dòng một. Từ nấm mồ trần tục của Santi, hầm mộ hang quỷ, Langdon đã tìm thấy lăng mộ của Santi. Nguyên tố huyền bí hiển hiện khắp thành Rome. Các yếu tố này là Đất, Khí, Lửa và Nước. Con đường ánh sáng, thử thách linh thiêng. Con đường của hội Illuminati được đánh dấu bằng các tác phẩm điêu khắc của Bernini. Thiên thần dẫn lối trên hành trình cao cả.
    Thiên thần chỉ tay về hướng Tây Nam…
    ***
    - Cầu thang đằng trước kìa? - Glick thốt lên, cuống quít chỉ tay qua kính chắn gió. - Cái gì kia kìa!
    Macri ngay lập tức hướng ống kính về cửa chính. Rõ ràng là có chuyện. Một người đàn ông dáng dấp nhà binh đưa một chiếc Alfa Romeo lại sát gần chân cầu thang và mở sẵn cửa sau xe. Lúc này ông ta đang quan sát khắp quảng trường như thể sợ có người nhìn trộm. Trong một thoáng chốc, Macri tưởng đã bị phát hiện, nhưng rồi cặp mắt ấy lại tiếp tục hướng sang phía khác. Vẻ hài lòng, anh ta rút máy bộ đàm ra và nói câu gì đó. Gần như ngay lập tức, một đội quân từ trong nhà thờ kéo ra.
    Hệt như một đội bóng Mỹ tản ra để vào vị trí sau khi đã hội ý xong, những người lính Mỹ này xếp thành một hàng ở bậc thang trên cùng. Di chuyển theo kiểu xếp hàng rào bằng người, họ đi xuống dưới. Phía sau họ, bị che khuất hoàn toàn, là bốn thanh niên đang khiêng một vật gì đó. Khá nặng. Khá chật vật.
    Glick nhoài người về phía trước:
    - Có phải bọn họ lấy cắp cái gì không nhỉ?
    Chinita siết chặt ống thu máy quay, hướng ống kính về phía bức tường, hi vọng chộp được một khe hở. Chỉ một phần mười giây là đủ cô thầm cầu mong. Một tấm hình duy nhất thôi, Macri thầm nghĩ, tôi chỉ cần có thể thôi mà. Nhưng hàng người di chuyển như thể họ đã bị móc chặt vào nhau. Một khe hở thôi mà! Macri kiên trì hướng ống kính về phía họ, và rốt cuộc thì cô cũng được toại nguyện. Khi những người lính cố nhấc vật họ đang khiêng vào trong xe, Macri đã có được tấm hình đang ao ước. Một người lính đứng tuổi bị lỡ chân. Chỉ trong một giây đồng hồ, nhưng thế đã là quá đủ Macri đã chộp được khoảnh khắc đó. Được hơn mười kiểu ảnh cả thảy.
    - Gọi cho tổng biên tập đi. - Chinita bảo Glick. - Có một xác chết đấy!
    Cách đó rất xa, tại CERN, Maximilian Kohler cho xe lăn chạy về phòng nghiên cứu của Leonardo Vetra. Với sự chuẩn xác đến kinh ngạc, ông ta lục tìm trong xấp tài liệu của Vetra. Không thấy thứ cần tìm, Kohler chuyển sang phòng ngủ của nhà khoa học này.
    Ngăn kéo trên cùng của chiếc bàn cạnh giường ngủ được khoá cẩn thận. Kohler lấy một con dao trong nhà bếp để cạy tung ra.
    Trong ngăn kéo chính là thứ ông ta đang tìm kiếm.


    Chương 72



    Langdon tụt xuống khỏi giàn giáo, anh phủi bụi vôi vữa vương đầy quần áo. Vittoria đã đứng đợi sẵn dưới mặt đất.
    - Không thấy gì à? - Cô gái hỏi.
    Anh lắc đầu:
    - Họ đã đưa thi thể đức Hồng y lên xe rồi.
    Langdon đưa mắt nhìn chiếc xe, Olivetti và mấy người lính đang trải một tấm bản đồ thành phố lên mui xe.
    - Họ đang tìm về hướng Tây Nam đấy à?
    Vittoria gật đầu.
    - Không thấy nhà thờ. Tính từ đây thì nhà thờ đầu tiên là thánh đường St. Peter.
    Langdon cằn nhằn. Ít ra thì họ cũng đã thống nhất được một điểm. Anh tiến lại phía Olivetti, những người lính đứng dạt ra để nhường đường.
    Olivetti ngẩng lên nói:
    - Không thấy gì. Nhưng bản đồ này không đánh dấu tất cả các thánh đường. Chỉ thấy những nhà thờ lớn thôi. ít nhất là 50 thánh đường.
    - Chúng ta đang ở đâu? - Langdon hỏi.
    Olivetti lấy ngón tay chỉ vị trí quảng trường Piazza Del Popolo và đi tay theo hướng Tây Nam. Ngón tay chạy qua một mảng đặc những ô vuông đen, biểu tượng của những nhà thờ lớn của Rome. Rủi thay, những nhà thờ lớn này đều được xây từ thế kỷ XVII.
    - Chúng ta phải quyết thật nhanh. - Olivetti nói - Anh có chắc là hướng Tây Nam không?
    Langdon mường tượng lại cánh tay vươn thẳng của thiên thần, tình hình lúc này đã cấp bách lắm rồi.
    - Rất chắc chắn.
    Olivetti nhún vai rồi lại đi ngón tay theo hướng Tây Nam một lần nữa. Ngón tay ông ta lướt qua cầu Hoàng hậu Margherita, Via Cola Di Riezo, rồi quảng trường Piazza Del Risorgimento, không gặp bất kỳ một nhà thờ nào cho đến khi chạm vào quảng trường St. Peter.
    - Đại thánh đường St. Peter thì sao? - Một người lính có vết sẹo rất dài trên mặt hỏi. - Đó cũng là nhà thờ đấy chứ.
    Langdon lắc đầu:
    - Phải là một địa điểm công cộng cơ. Trông chỗ đó chẳng có vẻ gì là công cộng cả.
    - Nhưng nhà thờ St. Peter nằm đúng hướng ấy còn gì. - Vittoria góp ý cô đang đứng sau lưng Langdon. - Quảng trường thì phải là nơi công cộng chứ.
    Langdon đã nghĩ đến điều đó từ trước:
    - Nhưng làm gì có bức tượng nào đâu?
    - Ở giữa quảng trường có một tảng đá nguyên khối đấy thôi.
    Cô gái nói đúng. Có một Kim tự tháp bằng đá nguyên khối đặt ở chính giữa quảng trường St. Peter. Kim tự tháp cao cả. Một sự trùng lặp kỳ lạ, Langdon nghĩ thầm. Nhưng anh gạt địa điểm đó khỏi đầu:
    - Các Kim tự tháp của Vatican không phải do Bernini sáng tạo ra. Đó là do Caligula mang về đặt ở đó. Và chẳng liên quan gì đến Khí cả. - Đấy là chưa kể còn một vấn đế nữa: Bài thơ nói rằng những nguyên tố trải khắp thành Rome. Quảng trường St. Peter nằm trong Vatican cơ mà, có thuộc địa phận Rome đâu.
    - Cái đó còn tuỳ. - Người lính gác ban nãy ngắt lời.
    Langdon ngẩng lên:
    - Gì cơ?
    - Chỉ là một bất đồng nhỏ thôi. Hầu hết các bản đồ đều coi quảng trường St. Peter là thuộc Vatican, nhưng vì nó nằm ngoài đường bao, nên suốt bao thế kỷ nay, các nhà chức trách thành phố vẫn cho rằng nó thuộc về thành Rome.
    - Anh nói đùa! - Langdon thốt lên. Chi tiết này thì anh chưa hề biết.
    - Tôi nói thế là vì chỉ huy và cô Vittoria hỏi về một tác phẩm điêu khắc có liên quan đến Khí.
    Langdon tròn mắt:
    - Và anh biết một tác phẩm như thế ở quảng trường St. Peter à?
    - Không hẳn. Đó không hẳn là một tác phẩm điêu khắc. Nói thế không đúng lắm.
    - Để anh ta nói xem nào. - Olivetti yêu cầu.
    Người lính nhún vai:
    - Tôi biết tác phẩm đó chẳng qua vì ngày nào cũng gác ở quảng trường. Tôi biết rõ từng viên gạch trên quảng trường St. Peter.
    - Tác phẩm điêu khắc đó trông thế nào? - Langdon hỏi. Anh bắt đầu băn khoăn, chẳng lẽ hội Illuminati lại táo bạo đến mức đặt biểu tượng của họ ngay bên cạnh Đại thánh đường St. Peter.
    - Ngày nào tôi cũng đi tuần ở đó. - Người lính nói - Tác phẩm đó nằm đúng hướng Tây Nam tính từ đây, cho nên tôi mới nhớ ra. Ban nãy tôi đã nói rồi, không hẳn là một tác phẩm điêu khắc, nó chỉ là một.. khối dẹt thôi.
    Olivetti có vẻ thất thần:
    - Khối dẹt à?
    - Vâng, thưa chỉ huy. Một khối đá cẩm thạch được gắn trên nền quảng trường. Ngay dưới chân Kim tự tháp. Nhưng không phải hình chữ nhật, mà là hình e-líp. Trên khối đá đó có khắc hình một cơn gió đang thổi rất mạnh. - Anh ta ngừng lời giây lát. - Khí, nếu anh muốn nói cho có vẻ học thuật một chút.
    Langdon kinh ngạc nhìn người lính trẻ tuổi:
    - Tác phẩm chạm khắc! - anh thốt lên.
    - Chạm khắc là một thể loại khác của nghệ thuật điêu khắc! - Langdon nói.
    Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình đa diện và cả trên mặt phẳng nữa. Bao năm nay anh vẫn dùng phấn viết định nghĩa đó lên bảng đen trên giảng đường. Chạm khắc là các tác phẩm điêu khắc có hai mặt, như hình Abraham Lincoln trên đồng tiền xu. Những tấm bảng tròn trong nhà nguyện Chigi do Bernini tạo nên cũng là những ví dụ điển hình cho thể loại này.
    - Bassoreliévo phải không? - Người lính gác dùng thuật ngữ bằng tiếng Ý.
    - Đúng rồi! - Tay Langdon đập mạnh xuống mui xe. - Thế mà suýt nữa tôi không nghĩ ra. Tấm lát lớn mà anh vừa nhắc đến trên quảng trường St. Peter có tên là Gió Tây. Nó còn được gọi là Respiro di Dio(1).
    - Hơi thở của Chúa à?
    - Đúng rồi! Khí! Chính tay nhà điêu khắc đã đặt tấm đá ở đó!
    Vittoria có vẻ không hiểu:
    - Tôi tưởng Michelangelo thiết kế Đại thánh đường St. Peter?
    - Đúng, chỉ mỗi thánh đường thôi! - Langdon thốt lên đây đắc thắng. - Còn quảng trường St. Peter là do Bernini thiết kế!
    Khi chiếc xe hòm Alfa Romeo lao ra khỏi quảng trường Piazza Del Popolo, mọi người đều quá vội vàng nên không trông thấy chiếc xe truyền hình của hãng BBC đang bám theo sau.
    Chú thích:
    (1) Respiro di Dio: Hơi thở của Chúa.

    Chương 73

    Gunther Glick tăng ga hết cỡ, lạng lách giữa dòng xe cộ để bám theo đội xe Alfa Romeo đang phóng qua cầu Margherita trên sông Tiber. Thường thì Glick thận trọng giữ một khoảng cách an toàn, nhưng hôm nay phải cố hết sức mới theo kịp đoàn xe này. Mấy gã này đúng là đang bay chứ không phải đang chạy.
    Ngồi ở khu làm việc phía sau xe, Macri vừa kết thúc cuộc gọi về tổng đài ở London. Cô gác máy và gào to cho Glick nghe thấy:
    - Anh muốn nghe tin tốt hay tin xấu?
    Glick nhíu mày. Lần nào liên hệ với đại bản doanh là lần đó thấy khó khăn.
    - Tin xấu đi.
    - Tổng biên tập tức phát điên vì chúng ta bỏ vị trí.
    - Ngạc nhiên thật.
    - Mọi người ở nhà cũng tưởng người báo tin đó nói láo.
    - Dĩ nhiên.
    Và sếp doạ là thêm chút nữa thì anh bị lột da đầu.
    Glick gầm gừ:
    - Tuyệt lắm. Thế còn tin tốt?
    - Họ đồng ý xem thứ đoạn phim chúng ta vừa quay được.
    Glick thôi làu nhàu, toét miệng cười. Rồi sẽ biết kẻ nào bị lột da đầu.
    - Truyền về đi.
    - Phải dừng xe thì mới truyền được.
    Glick cho xe lao thẳng vào phố Via Cola Di Rienzo
    - Giờ không dừng được đâu.
    Anh cho xe ngoặt trái tại Piazza Risorgimento, bám sát đội xe Alfa Romeo.
    Macri phải ra sức giữ cho máy tính khỏi rơi xuống sàn, mọi thứ đến chao đảo.
    - Thiết bị truyền hình của tôi mà vỡ thì xin mời anh chạy bộ mà mang đoạn băng này về London.
    - Giữ cho chắc vào, bạn thân mến. Tôi linh cảm là sắp đến đích rồi.
    Macri hỏi ngay:
    - Đến đâu?
    Glick đưa mắt nhìn mái vòm quen thuộc vừa hiện ra ngay trước mắt. Anh mỉm cười:
    - Đúng nơi chúng ta khởi hành.
    Bốn chiếc xe Alfa Romeo hoà vào dòng xe cộ quanh quảng trường St. Peter. Họ tản ra những vị trí khác nhau trên quảng trường, lặng lẽ đưa những lính gác mặc thường phục vào những vị trí đã chọn sẵn. Xuống xe, những người lính này hoà lẫn vào đám đông du khách cùng xe ô tô cửa các hãng truyền thông rồi nhanh chóng biến mất. Mấy người lính tiến về phía dãy cột ở mé quảng trường. Dường như họ cũng vừa tan biến nốt. Ngồi trong xe quan sát, Langdon thấy lưới đang được chăng khắp quảng trường St. Peter.
    Sau khi phái hết người của mình vào vị trí, ông chỉ huy Olivetti còn điện vào toà thánh yêu cầu bố trí thêm lính gác mặc thường phục quanh tác phẩm Gió Tây của Bernini. Nhìn không gian rộng lớn ở quảng trường St. Peter, một mối băn khoăn lại đấy lên trong lòng Langdon: sát thủ của Illuminati định tẩu thoát khỏi đây bằng cách nào? Làm sao hắn có thể đưa được một vị Hồng y tới đây rồi hành quyết lộ liễu thế này?
    Langdon giơ đồng hồ Mickey lên xem giờ. 8 giờ 54 phút. Sáu phút nữa.
    Đang ngồi trên ghế trước, Olivetti quay lại bảo Langdon và Vittoria:
    - Tôi nhờ hai vị vào quan sát ngay tại đỉnh của tác phẩm điêu khắc hay chạm trổ hay quỷ tặc gì đó. Y như lần trước. Giả làm khách du lịch. Nếu thấy gì thì dùng điện thoại báo cho tôi.
    Chưa kịp nói gì, Langdon đã bị Vittoria cầm tay lôi ra ngoài.
    Mặt trời sắp lặn sau thánh đường St. Peter. Bóng toà nhà đổ xuống, phủ gần kín quảng trường. Bước vào vùng bóng râm, lạnh và ầm ướt, Langdon chợt cảm thấy buốt giá. Luồn lách giữa đám đông du khách, anh quan sát từng khuôn mặt, tự hỏi không hiểu ai trong số họ chính là sát thủ. Bàn tay của Vittoria thật ấm áp.
    Băng qua quảng trường St. Peter rộng lớn, Langdon nhận thấy Bernini thực sự đã mang lại cho địa danh này dáng vẻ mà người ta mong muốn: Khiến cho tất cả những ai đặt chân đến đây đều cảm thấy mình nhỏ bé. Lúc này, Langdon thấy mình quả thực rất nhỏ bé. Nhỏ bé và đói khát. Các ý tưởng nảy sinh trong đầu mình đúng là một mớ hổ lốn loạn xạ, anh thầm nhận xét.
    - Ta đến chỗ Kim tự tháp chứ? - Vittoria hỏi.
    Langdon gật đầu, quay sang trái và sải bước.
    - Mấy giờ rồi? - Vittoria bước đi nhanh nhẹn nhưng không hề có vẻ vội vàng.
    - Năm phút nữa.
    Vittoria không nói gì, nhưng Langdon thấy cô gái siết tay anh chặt hơn. Khẩu súng vẫn ở trong túi áo Langdon, hi vọng cô gái không phải dùng đến nó. Anh không dám nghĩ đến cảnh Vittoria giương súng lên giữa quảng trường St. Peter, bắn vỡ sọ hung thủ, trong khi giới truyền thông đang hướng tất cả sự chú ý vào cô gái. Tuy nhiên, sự kiện kiểu đó vẫn chẳng thấm tháp gì so với cảnh một vị Hồng y Giáo chủ bị đóng dấu sắt nung lên người và bị sát hại ngay tại nơi này.
    Khí, Langdon ngẫm nghĩ. Nguyên tố thứ hai của khoa học. Anh cố mường tượng biểu tượng này, và cả cách thức bọn chúng sát hại nạn nhân. Một lần nữa, Langdon quan sát tấm đá granite lớn ngay dưới chân mình - quảng trường St. Peter - một hoang mạc dày đặc lính gác Thuỵ Sĩ. Nếu kẻ sát nhân dám hành động một cách liều lĩnh, không hiểu hắn sẽ tẩu thoát bằng cách nào.
    Tại trung tâm quảng trường, Kim tự tháp Ai Cập bằng đá nguyên khối do Caligula mang về vẫn vươn thắng lên trời xanh. Đinh Kim tự tháp cao đúng 24 mét, có gắn một cây thánh giá lớn bằng sắt. Vừa đủ cao để đón những tia nắng cuối cùng còn toả xuống quảng trường, nó ánh lên một cách kỳ diệu… không biết bao nhiêu người vẫn tin rằng trong cây thánh giá này có một mấu sắt từ cây thập tự mà đức Ki tô đã bị đóng dinh lên.
    Hai đài phun nước được bố trí đối xứng hai bên Kim tự tháp bằng đá. Các chuyên gia về lịch sử nghệ thuật đều biết rằng hai đài phun nước này được Bernini đặt đúng hai tâm điểm của quảng trường hình e-líp, nhưng cho đến tận ngày hôm nay, Langdon chưa bao giờ quan tâm đến chi tiết đặc biệt này. Đột nhiên anh nhận thấy thành Rome đầy rẫy những Kim tự tháp, hình e-líp, và sự đối xứng.
    Đến gần khối đá, Vittoria bước chậm lại. Cô gái thở thật sâu, như muốn thầm bảo Langdon hãy cùng thư giãn với mình. Langdon cũng bắt chước, anh chùng vai xuống, thả lỏng những cơ mặt đang căng lên.
    Ngay sát Kim tự tháp bằng đá này, bên ngoài thánh đường rộng lớn nhất thế giới, là bàn thờ khoa học thứ hai - Gió Tây của Bernini - một khối hình e-líp ngay trên quảng trường St. Peter.
    ***
    Từ chỗ dãy cột bao quanh quảng trường, Gunther Glick quan sát Những hôm khác thì người đàn ông mặc áo khoác vải tuýt và cô gái mặc quần soóc ka ki sẽ chẳng khiến anh mảy may chú ý. Trông họ y như những du khách bình thường đang đi ngắm cảnh. Nhưng hôm nay thì khác, ngày hôm nay có cuộc gọi báo tin đầy bí ẩn, có những chiếc xe lạ lùng chạy như bay khắp thành Rome, rồi người đàn ông mặc áo khoác vải tuýt kia trèo lên tận trên giàn giáo cao ngất để tìm kiếm cái gì đó. Glick sẽ quan sát họ thật kỹ.
    Anh nhìn sang phía bên kia quảng trường và trông thấy Macri. Cô ta đang có mặt ở đúng vị trí anh yêu cầu - cách xa hai người đó chếch về một bên. Macri cầm máy quay một cách uể oải, nhưng dù cho Chinita đã cố tỏ ra lơ đễnh, Glick vẫn cảm thấy như thế là quá lộ liễu. Không một nhà báo nào khác ra tận góc xa đó, và ba chữ cái BBC sơn rõ mồn một trên máy quay đang khiến một số du khách để ý.
    Lúc này thì đoạn phim quay thi thể bị lột trần đang được truyền về đại bản doanh BBC bằng thiết bị truyền sóng vệ tinh trên xe hòm. Giờ đây những hình ảnh trong phim đang bay qua ngay trên đầu anh về London. Không hiểu tổng biên tập sẽ quyết định thế nào.
    Giá như ban nãy Macri tiếp cận được cái xác sớm một chút trước khi đám quân nhân mặc thường phục kia can thiệp vào thì thật là tốt. Lúc này thì chính đội quân mặc thường phục đó đang vây kín quảng trường. Sắp có một sự kiện động trời xảy ra.
    Truyền thông sẽ góp phần tạo nên sự hỗn loạn, kẻ giết người đã tuyên bố như vậy. Biết đâu anh vừa bỏ lỡ một tin giật gân. Glick quan sát những chiếc xe hòm trên quảng trường, rồi quay lại nhìn Macri đang bám chặt hai người khách du lịch bí ẩn. Glick linh cảm rằng anh chưa bỏ lỡ gì hết…

    Chương 74

    Còn hơn 3 mét nữa mới tới nơi, Langdon đã đưa mắt quan sát.
    Dù lác đác có khách du lịch chắn mất tầm nhìn, anh vẫn thấy Gió Tây của Bernini nổi bật hẳn so với những phiến đá granite xám lát quảng trường. Vittoria cũng đã trông thấy tác phẩm này, cô gái siết chặt nắm tay.
    - Thư giãn đi nào. - Langdon nhắc khẽ. - Hãy làm động tác Yoga ban nãy đi.
    Tay Vittoria nới lỏng ra một chút.
    Đến tận nơi, họ thấy mọi thứ đều rất bình thường. Du khách đang tha thẩn ngắm nhìn, mấy nữ tu sĩ đang nói chuyện, một cô bé đang cho bồ câu ăn ngay dưới chân Kim tự tháp bằng đá.
    Langdon cố không giơ đồng hồ lên xem. Chắc chắn đã gần đến giờ.
    Hai người đã giẫm chân lên tấm đá hình e-líp. Cả hai dừng lại, không tỏ ra quá đột ngột, chỉ như hai du khách ghé lại để xem xét chút đỉnh "Gió Tây", Vittoria dọc dòng chữ khắc trên tảng đá.
    Langdon trân trân nhìn tác phẩm điêu khắc trên đá hoa cương, đột nhiên thấy mình thật ngờ nghệch. Đọc bao nhiêu sách, đến Rome không biết bao nhiêu lần, thế mà ý nghĩa của Gió Tây chưa bao giờ lóe lên trong đầu anh.
    Cho đến tận hôm nay…
    Tác phẩm chạm khắc này có hình e-líp, dài khoảng hơn 1 mét, được thực hiện trên nến đá thô - Gió Tây được biểu hiện bằng một khuôn mặt thiên thần. Bernini đã vẽ một luồng gió mạnh thổi ra từ miệng thiên thần, thổi từ Vatican ra… hơi thở của Chúa.
    Đây chính là cách Bernini tôn vinh nguyên tố thứ hai của khoa học… Khí… làn gió siêu trần từ một đôi môi thiên thần. Ngắm nghía một lúc, Langdon càng thấy thêm nhiều sắc thái ý nghĩa sâu xa hơn nữa. Bernini vẽ năm luồng gió giật… năm! Chưa hết, hai bên phiến đá hình e-líp còn có hai vì sao toả sáng. Langdon nghĩ đến Galileo. Hai vì sao, gió giật năm lần, hình e-líp, sự đối xứng…
    Langdon thấy choáng váng, đầu đau nhức.
    Gần như ngay lập tức, Vittoria lại bắt đầu sải bước, cô gái lôi Langdon ra khỏi phiến dá hình e-líp.
    - Có người đang theo dõi chúng ta thì phải. - Cô gái nói.
    Langdon ngẩng lên nhìn:
    - Đâu?
    Đi được khoảng 10 mét nữa Vittoria mới trả lời. Cô đưa tay làm ra bộ chỉ cho Langdon xem mái vòm trên cao:
    - Có một người đã đi theo chúng ta khắp quảng trường. - Làm ra bộ vô tình, Vittoria liếc sang bên. - Vẫn đang bám theo đấy, cứ đi tiếp đi.
    - Cô cho rằng đó là thủ phạm à?
    Vittoria lắc đầu:
    - Không. Trừ phi hội Illuminati quyết định thuê một phụ nữ mang theo camera của hãng BBC để làm việc đó.
    Khi chuông nhà thờ St. Peter vang lên, cả Vittoria lẫn Langdon cùng giật nảy người. Đã đến giờ. Nhằm cắt cái đuôi nhà báo kia, họ đã bước ra xa Gió Tây, giờ cả hai cùng quay trở lại bên tác phẩm chạm khắc bằng đá này.
    Bất chấp những hồi chuông lanh lảnh, quang cảnh vẫn thực sự yên bình. Du khách đang dạo bước. Một ông lão vô gia cư say bét nhè đang ngồi gà gật một cách kỳ dị ngay dưới chân Kim tự tháp.
    Một cô bé đang cho lũ chim bồ câu ăn. Langdon băn khoăn, hay nhà báo kia đã khiến cho hung thủ thấy chờn? Không đời nào, anh nhớ lại giọng điệu của hắn trên điện thoại. Tôi sẽ khiến cho các vị Hồng y đó trở thành tâm điểm của báo chí.
    Khi hồi chuông thứ chín đã tắt hẳn, một bầu không khí yên ắng đầy chết chóc bao phủ quảng trường.
    Thế rồi… bé gái bắt đầu thét lên.


    Chương 75

    Langdon là người đầu tiên lao đến bên cô bé.
    Cô bé tội nghiệp sợ cứng cả người, chỉ tay về phía ông già say đang ngồi trên những bậc thềm của Kim tự tháp. Trông thật khổ sở chắc ông lão là một trong những người vô gia cư ở thành phố này. Từng đám tóc nâu bê bết xoà trước trán, và tấm vải bẩn quấn quanh người. Vẫn tiếp tục gào ầm ỹ, cô bé chạy vụt về phía đám đông.
    Kinh hoảng, Langdon lao về phía ông già đó. Một vệt màu tối đang loang rộng trên tấm vải bẩn thiu. Máu tươi, vẫn đang chảy.
    Thế rồi, dường như tất cả cùng xảy ra đồng thời.
    Như thể bị vò nhàu từ tận trong gan ruột, ông già ngã vật xuống. Langdon lao vội đến, nhưng không kịp. Ông già lộn nhào về phía trước, lăn qua mấy bậc đá, rồi ngã sấp mặt xuống nền.
    Bất động.
    Langdon quỳ xuống. Vittoria đã đứng ngay cạnh anh. Đám đông bắt đầu xúm quanh họ.
    Vittoria đặt tay lên gáy người vừa ngã.
    - Mạch còn đập. - Cô nhận định. - Lật ông ấy lên.
    Không đợi phải bảo, Langdon đã túm hai vai ông già và lật lên. Mớ xống áo bẩn thỉu tuột xuống như tảng thịt thối tự rời ra. Ông già ngã phịch xuống nền đá. Ngay giữa ngực con người khốn khổ này, da thịt bị nung cháy đen.
    Vittoria thở hắt ra, lùi ngay lại.
    Langdon đờ người vừa buồn nôn, vừa kinh sợ. Biểu tượng được khắc lên người vị Hồng y này thật đơn giản:



    - Khí, - Vittoria nghẹn lời. - Đây chính là Hồng y Giáo chủ.
    Lính gác Thuỵ Sĩ ngay lập tức có mặt, lùng sục tìm hung thủ, ầm ỹ quát tháo.
    Một du khách đứng gần đó kể lại rằng trước đó mấy phút, một thanh niên da màu đã tử tế dìu ông già vô gia cư này đến giữa quảng trường, thậm chí còn nán lại bên ông ta giây lát rồi mới hoà vào đám đông du khách.
    Vittoria xé toang tấm giẻ rách quấn quanh thân mình nạn nhân. Có hai vết thủng khá sâu ở hai bên vết sắt nung, ngay dưới mạng sườn. Cô gái xoay mặt nạn nhân lại và bắt đầu hô hấp nhân tạo. Langdon hoàn toàn không lường nổi những gì diễn ra sau đó. Vittoria vừa bắt đầu hà hơi thì máu cũng bắt đầu phun vọt ra từ hai vết thương hai bên, chẳng khác gì một con cá voi đang phun nước. Chất lỏng mằn mặn ấy bắn đầy vào mặt Langdon.
    Vittoria ngừng lại ngay lập tức, vẻ vô cùng kinh hãi:
    - Phối của đức cha…, - cô gái lắp bắp, - hắn đã chọc thủng hai lá phổi!
    Langdon lấy tay gạt máu trên mặt, quan sát hai vết thủng.
    Tiếng xì xì vẫn còn chưa hết hẳn. Hai lá phổi của vị Hồng y Giáo chủ đã bị huỷ hoại. Ngài đã tạ thế.
    Vittoria lấy tấm vải đậy kín thi thể, đó cũng là lúc những người lính gác Thuỵ Sĩ có mặt.
    Langdon đứng đó, tâm trí rối bời. Và anh trông thấy người đó: Người phụ nữ cầm máy quay vẫn bám theo anh và Vittoria từ nãy đang đứng khom lưng ngay gần đó. Chiếc máy quay của hãng BBC trên vai cô ta đang chạy rè rè. Ánh mắt của Langdon và của người đó gặp nhau, chỉ trong một tích tắc, anh biết rằng toàn bộ sự việc đã bị ghi lại. Rồi nhanh như một con mèo, cô ta chạy vụt đi.


    Chương 76

    Chinita Macri chạy thục mạng. Cô vừa quay được những thước phim để đời.
    Chiếc máy quay lúc này chẳng khác gì cái mỏ neo trong khi Macri ỳ ạch chạy len qua đám đông trên quảng trường. Hầu như tất cả mọi người đều đang di chuyển theo hướng ngược lại - về phía có người bị sát hại. Macri lại đang cố chạy khỏi nơi đó càng nhanh càng tốt. Người đàn ông mặc áo khoác vải tuýt đã trông thấy cô, lúc này chắc chắn nhiều người đang tìm cách bắt cô lại, những người mà Macri không hề biết mặt.
    Macri vẫn chưa hết bàng hoàng trước những hình ảnh mà cô vừa ghi được. Không hiểu người bị sát hại có đúng là Hồng y Giáo chủ hay không. Lúc này thông tin mà Glick nhận đã có vẻ bớt hoang đường.
    Macri đang chạy về chiếc xe hòm của hãng BBC thì một thanh niên dáng dấp nhà binh bất ngờ hiện ra ngay trước mắt. Cả hai nhìn thẳng vào mắt nhau, và cùng dừng lại. Nhanh như chớp, anh ta giơ máy bộ đàm lên nói gì đó, rồi tiến lại phía Macri. Lập tức quay trở lại đám đông, Macri vắt chân lên cổ, tim đập thình thình.
    Vừa lao bừa vào đám đông chen chúc, Macri vừa tháo cuộn phim ra khỏi máy quay. Nhãn hiệu Cellulose Gold đây, Macri thầm nghĩ, rồi gài cuốn phim vào túi sau, lấy vạt áo khoác lấp lên. Lần đầu tiên trong đời, Macri lấy làm mừng vì đã gài thêm một cái túi da vào thắt lưng. Glick đang ở chỗ quái nào không biết!
    Một người lính khác xuất hiện bên tay trái, chân sải bước rất nhanh. Macri biết không còn nhiều thời gian nữa. Cô lại lao vào giữa đám đông. Lấy một cuộn phim trắng từ trong túi ra, Macri lắp ngay vào máy quay. Rồi bắt đầu cầu nguyện.
    Khi Macri chỉ còn cách chiếc xe hòm của BBC khoảng gần 30m thì hai người lính ban nãy lù lù hiện ra ngay trước mất, tay khoanh trước ngực. Không còn đường chạy nữa.
    - Phim. - Một người cáu kỉnh nói - Nhanh lên.
    Macri lùi lại, tay ôm lấy máy quay:
    - Không đời nào.
    Một người lính gạt vạt áo khoác sang một bên, để lộ ra khẩu súng giắt ở thắt lưng.
    - Có giỏi thì các người cứ việc bắn đi. - Bản thân Macri cũng phải ngạc nhiên vì giọng điệu táo tợn của mình.
    - Phim. - Người lính thứ nhất nhắc lại.
    Glick biên đi đâu rồi không biết! Macri giậm chân, cố sức nói thật to:
    - Tôi là nhà báo chuyên nghiệp của BBC! Theo điều 12 luật Tự do báo chí, cuộn phim này là tài sản của công ty Phát thanh và Truyền hình Anh quốc!
    Anh ta không hề nao núng. Người thanh niên cầm súng đã tiến sát đến bên Macri:
    - Tôi là trung uý đội lính gác Thuỵ Sĩ, và theo luật thánh về quyền giám sát đối với mảnh đất mà cô đang đứng đây, cô sẽ bị lục soát, cuộn phim sẽ bị tịch thu.
    Đám đông bắt đầu xúm lại.
    Macri kêu to:
    - Dù thế nào tôi cũng không giao cuộn phim cho anh nếu chưa có ý kiến của ban biên tập ở London: Các anh phải…
    Hai người lính không để cho Macri nói thêm. Một người tước chiếc máy quay trên tay Macri, người kia túm lấy cô và lôi về phía Vatican.
    - Đi. - Anh ta vừa lôi Macri xềnh xệch qua đám đông vừa nói.
    Macri thầm cầu nguyện là họ sẽ không khám người cô và tịch thu cuộn băng. Nếu cô có thể bảo vệ nó đến lúc…
    Đột nhiên, một điều tưởng như thần thoại đã xảy ra. Trong đám đông, một người luồn tay quanh thắt lưng Macri, cuốn băng bị lấy khỏi chiếc túi da trên thắt lưng cổ. Macri quay lại, và lập tức im bặt. Sau lưng cô, Gunther Glick vừa nháy mắt đầy tinh quái rồi lẩn vào đám đông.


    Chương 77


    Robert Langdon loạng choạng bước vào nhà vệ sinh cạnh phòng làm việc của Giáo hoàng. Anh chùi máu trên mặt và trên môi. Không phải máu của anh, mà là của Hồng y Giáo chủ Lamassé, người vừa bị sát hại dã man giữa quảng trường tấp nập ngay bên cạnh Vatican. Sinh linh trinh tiết hiến tế trên bàn thờ khoa học. Đến lúc này thì kẻ sát nhân đã thực hiện thành công lời đe doạ của hắn.
    Nhìn hình ảnh của mình trong gương, Langdon cảm thấy bất lực Hai mắt anh trũng sâu, cằm bắt đầu thấy râu mọc lởm chởm.
    Căn phòng này thật sang trọng và sạch sẽ - đá hoa cương đen, đồ đạc bằng vàng, khăn bông, xà phòng thơm.
    Langdon cố gạt khỏi trí não biểu tượng đầy máu me ấy. Khí.
    Nhưng nó vẫn bám chặt vào tâm trí. Từ lúc thức dậy đến giờ, anh đã trông thấy hai biểu tượng đối xứng… và sẽ còn trông thấy hai cái nữa.
    Ngoài kia, hình như Olivetti, Giáo chủ Thị thần và đại tá Rocher đang bàn bạc xem nên làm gì tiếp. Rõ ràng là toán lính được phân công tìm hộp phản vật chất vẫn chưa thấy gì. Hoặc là những người lính đã bỏ sót hốc nào đó, hoặc là cái hộp đó đã được đặt vào những nơi mà Olivetti không dám nghĩ tới.
    Langdon lau khô mặt và tay. Rồi anh quay sang tên chỗ đi tiểu.
    Không thấy. Chỉ có một bệ xí duy nhất. Langdon mở nắp bô.
    Khi sự căng thẳng rút dần khỏi cơ thể, anh bắt đầu cảm nhận sự mệt mỏi ghê gớm đã ngấm vào tận xương tuỷ từ bao giờ.
    Những cảm giác anh vừa trải qua thật là khủng khiếp, và cũng thật phi lý. Langdon kiệt sức, anh đã qua một ngày không ăn, không ngủ, lần theo con đường ánh sáng, và chứng kiến hai vụ giết người man rợ. Cảm giác kinh sợ hãi hùng về một kết cục không tránh khỏi xoáy sâu vào tâm can anh.
    Nghĩ đi, Langdon tự ra lệnh cho mình. Nhưng đầu óc anh hoàn toàn trống rỗng.
    Đúng vào lúc giật van xả nước một ý nghĩ bất chợt nảy ra trong óc Langdon. Đây là nhà vệ sinh của Đức Thánh Cha, anh thầm nghĩ. Mình vừa trút bao nhiêu ô trọc vào nhà vệ sinh của Giáo hoàng.
    Langdon bật cười thành tiếng. Chốn linh thiêng.


    Chương 78

    Tại London, một kỹ thuật viên của đài BBC lấy cuộn băng ra khỏi thiết bị thu sóng vệ tinh và lao như tên bắn qua phòng máy.
    Cô ào vào phòng tổng biên tập, bật đầu máy VCR trong phòng rồi nhấn nút.
    Trong khi đoạn phim được chiếu lên, cô giải thích với tổng biên tập về cuộc điện thoại với Gunther Glick hiện đang có mặt tại Vatican. Và ban lưu trữ hình ảnh của BBC cũng vừa xác định được danh tính của nạn nhân trên quảng trường St. Peter.
    Từ trong văn phòng lao ra ngoài, tổng biên tập vừa sải bước vừa hô hào ầm ỹ. Tất cả mọi hoạt động trong ban biên tập đều đồng loạt ngừng lại.
    Năm phút nữa truyền hình trực tiếp! - ông ta hô lớn. - Chuẩn bị phát tin trực tiếp! Bộ phận phối hợp mạng đâu, bắt đầu vào việc! Chúng ta có tin hay để bán, có cả hình ảnh đi kèm!
    Các nhân viên phối hợp thị trường vội vã vồ lấy những chiếc máy Rolodexes trên bàn.
    - Chuyên gia hình ảnh đâu! - Một người gọi to.
    - 30 giây nữa là cắt xong. - Người phụ trách đáp.
    - Nội dung?
    - Án mạng, trực tiếp!
    Người phụ trách bộ phận thị trường có vẻ phấn chấn:
    - Giá bản quyền và phát lại?
    - Mỗi thứ một triệu đô la Mỹ.
    - Nhiều cái đầu cùng ngẩng lên:
    - Cái gì?
    - Nghe thấy không hả? Tôi muốn nhằm vào những gã to đầu nhất CNN, MSNBC, và ba gã lớn nhất. Cho họ xem trước nhé.
    - Cho họ 5 phút để cân nhắc trước khi BBC phát sóng.
    - Chuyện quái quỷ gì thế? - Một người hỏi. - Thủ tướng bị lột da sống à?
    Tổng biên tập lắc đầu:
    - Còn hay hơn thế.
    Cũng vào lúc đó, tại thành Rome, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, kẻ giết người đang thưởng thức sự tĩnh lặng trên một chiếc ghế bành êm ái. Hắn ngắm nghía căn phòng với ánh mắt thán phục. Mình đang ngồi trong Đền thờ ánh sáng, hắn thầm nghĩ. Đại bản doanh của Illuminati. Không thể tin nổi, căn phòng vẫn còn đây sau bao nhiêu năm tháng.
    Theo đúng mệnh lệnh được giao, hắn quay số của người phóng viên BBC mà hắn đã gọi lúc trước. Đến lúc rồi. Cả thế giới sẽ bị một cú sốc kinh hoàng.
    thay đổi nội dung bởi: Fang [(], 17-01-2009 lúc 10:56 PM Lý do: Automerged Doublepost

  6. #16
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 79

    Vittoria nhấp mấy ngụm nước và nhấm nháp mấy cái bánh điểm tâm mà một người lính gác Thuỵ Sĩ vừa mang lại cho cô.
    Biết là nên ăn chút ít, nhưng Vittoria chẳng còn lòng dạ nào. Lúc này bầu không khí trong văn phòng của Giáo hoàng thật hối hả, mọi người đang sôi nổi bàn luận. Đại tá Rocher, Tổng Tư lệnh Olivetti và khoảng gần chục người lính đang đánh giá mức độ thiệt hại và thảo luận hành động tiếp theo.
    Đứng ngay gần họ, Robert Langdon nhìn ra quảng trường St. Peter với vẻ thất vọng. Vittoria tiến lại bên anh:
    - Có ý tưởng gì không?
    Langdon lắc đầu.
    - Ăn bánh vậy?
    Nhìn thấy cái bánh, tâm trạng Langdon bỗng nhiên khá hẳn lên.
    - Hay lắm, cảm ơn. - Rồi anh ăn ngon lành.
    Những tiếng bàn luận xung quanh họ đột nhiên ngưng bặt khi hai người lính gác hộ tống Giáo chủ Thị thần Ventresca vào phòng. Nếu như trước đó trông ngài chỉ có vẻ phờ phạc thì lúc này đã thực sự thất thần.
    - Có chuyện gì thế? - Ngài hỏi Olivetti. Nhìn ánh mắt của Giáo chủ Thị thần, có thể đoán rằng ngài đã được thông báo những sự kiện tồi tệ nhất.
    Olivetti báo cáo vắn tắt tình hình, hệt như các sĩ quan vẫn làm ngoài mặt trận. Các sự kiện được miêu tả một cách chính xác và chân thực.
    - Tìm thấy thi thể của đức Hồng y Ebner trong thánh đường Santa Maria Del Popolo ngay sau 8 giờ. Ngài chết vì ngạt và bị khắc lên người biểu tượng đối xứng của từ "Đất".
    - Đức Hồng y Lamassé bị sát hại trên quảng trường St. Peter cách đây 10 phút. Hai lá phổi bị chọc thủng. Ngài cũng bị đóng dấu sắt nung hình chữ "Khí" lên ngực. Cả hai lần hung thủ đều chạy thoát.
    Giáo chủ Thị thần bước lại bên bàn làm việc của Đức Thánh Cha, nặng nhọc ngồi xuống, đầu cúi gục.
    - Tuy nhiên, đức Hồng y Guidera và Baggia vẫn còn sống.
    Giáo chủ Thị thần ngẩng lên, ánh mắt đau đớn:
    - Đây là lời động viên của ông đấy ư? Hai vị Tổng giám mục đã bị sát hại, ông chỉ huy ạ. Và hai vị nữa cũng chẳng còn sống được bao lâu nếu ông không tìm thấy họ.
    - Chúng ta sẽ tìm được. - Olivetti trấn an. - Con tin là thế.
    - Tìm à? Chúng ta đã làm được gì ngoài thất bại đâu.
    - Không đúng. Chúng ta thua hai keo nhỏ, thưa đức cha, nhưng nhìn đại cục thì vẫn thắng. Bọn Illuminati muốn cho vụ việc này rùm beng trên báo chí, nhưng cho đến lúc này chúng ta đã chặn được đã tâm đó. Thi thể của cả hai đức Tổng giám mục đã được đưa về một cách kín đáo. Ngoài ra, đại tá Rocher còn khẳng định rằng nhóm binh lính đang tìm khối phản vật chất đã có những tiến bộ đáng kể.
    Đầu vẫn đội mũ bê-rê đỏ, đại tá Rocher bước lại gần. Vittoria thấy dù sao thì ông ta cũng có vẻ hơn những người lính gác khác - người này cương quyết nhưng không cứng nhắc. Giọng nói của Rocher trong trẻo và du dương, chẳng khác gì tiếng đàn vi-ô-lông:
    - Thưa cha, hi vọng là trong vòng một giờ nữa chúng ta sẽ tìm được cái hộp đó.
    - Ông đại tá, có thể ta đang bi quan, nhưng để lục khắp Vatican thì phải mất nhiều thời gian hơn thế. - Giáo chủ Thị thần nói.
    - Lục soát toàn bộ thì đúng là thế. Nhưng sau khi xem xét tình hình, con tin rằng cái hộp đó được đặt ở một trong bốn khu vực trắng của chúng ta: những khu vực mở cửa cho du khách vào thăm, bảo tàng trong Đại thánh đường St. Peter chẳng hạn. Con đã cho cắt điện ở những khu vực đó và tổ chức tìm kiếm.
    - Ông chỉ cho lục soát một phần nhỏ trong địa phận của Vatican thôi à?
    - Vâng, thưa cha. Kẻ địch khó có thể thâm nhập sâu hơn vào trong lòng thành phố này. Chiếc camera bị mất được lắp ở một địa điểm công cộng - cầu thang lên xuống viện bảo tàng. Như thế có nghĩa là kẻ đó không có khả năng thâm nhập sâu hơn. Vì lí do đó hắn chỉ có thể đặt camera và phản vật chất ở một địa điểm công cộng khác mà thôi. Và chúng ta đang tập trung tìm kiếm những khu vực đó.
    - Nhưng kẻ đó đã bắt cóc cả bốn vị Hồng y cơ mà. Điều này cho thấy hắn có khả năng thâm nhập vào sâu hơn ta tưởng nhiều?
    - Không nhất thiết phải thế. Cần phải nhớ rằng hôm nay các vị Tổng giám mục đều dành phần lớn thời gian ở thánh đường St. Peter và các bảo tàng của Vatican để chiêm ngưỡng địa điểm vốn đông đúc này. Rất có thể bốn vị Hồng y Giáo chủ mất tích đã bị bắt đi tại những địa điểm này.
    - Nhưng làm cách nào hắn đưa được các ngài qua bức tường bao?
    - Cái này thì chúng con đang xem xét ạ.
    - Ta hiểu. - Giáo chủ Thị thần thở hắt ra và đứng dậy. Ngài bước tới bên Olivetti. - Ông chỉ huy, ta muốn nghe kế hoạch sơ tán của ông trong trường hợp cần thiết.
    - Chúng con vẫn đang tiến hành việc đó, thưa cha. Nhưng chắc chắn là không bao lâu nữa đại tá Rocher sẽ tìm được hộp phản vật chất.
    - Đại tá Rocher giậm gót giày như thể chuẩn bị ra mắt trong một cuộc bỏ phiếu tín nhiệm nào đó. - Lính của con đã dò xong hai phần ba khu vực trắng rồi, thưa cha. Chắc chắn sẽ tìm thấy.
    Hình như Giáo chủ Thị thần không được vững tin như vậy.
    Đúng lúc ấy, người lính có vết sẹo dài dưới mắt mang vào phòng một cái kẹp dài cùng với tấm bản đồ. Anh ta tiến đến bên Langdon:
    - Thưa ông Langdon, tôi đã tin được những thông tin ông yêu cầu liên quan tới Gió Tây.
    Langdon nuốt vội cái bánh ăn dở.
    - Tốt lắm. Chúng ta cùng xem nào.
    Những người kia vẫn tiếp tục thảo luận, Vittoria đến bên Langdon khi người lính trải tấm bản đồ lên bàn làm việc của Giáo hoàng.
    Anh ta chỉ quảng trường St. Peter:
    - Chúng ta đang ở đây. Gió Tây thổi về phía Đông, tính từ thành phố Vatican. - Người lính gác Thuỵ Sĩ di ngón tay từ quảng trường St. Peter, qua sông Tiber, vào trung tâm thành Rome cổ. - Ông thấy đấy, hướng này quét qua hầu hết thành Rome. Có tới gần 20 nhà thờ nằm rải rác dọc hướng này.
    Langdon thất vọng:
    - 20 cơ à?
    - Có thể nhiều hơn.
    - Có nhà thờ nào nằm ngay trên đường thẳng này không?
    - Một số nhà thờ có vẻ khá gần. - Người lính đáp. - Nhưng lấy tay di trên bản đồ kiểu này thì khó mà chính xác được.
    Langdon quay ra trân trân nhìn quảng trường St. Peter. Anh càu nhàu tay gãi cằm. Thế còn LỬA? Có nhà thờ nào trong số đó có tác phẩm của Bernini liên quan đến LỬA không?
    Im lặng.
    - Còn Kim tự tháp đá thì sao? - Anh lại hỏi. - Có nhà thờ nào khác được xây dựng gần Kim tự tháp đá không?
    Người lính bắt đầu xem bản đồ.
    Vittoria thấy mắt Langdon ánh lên một tia hi vọng, và cô hiểu anh đang nghĩ gì. Đúng đấy! Hai nhà thờ đầu tiên đều ở cạnh những Kim tự tháp bằng đá nguyên khối! Biết đâu chúng chính là dấu chỉ đường! Những Kim tự tháp vươn cao đánh dấu con đường ánh sáng chăng? Càng nghĩ, Vittoria càng thấy điều đó có lý. bốn ngôi sao vươn lên trên bầu trời thành Rome, đánh dấu bốn bàn thờ khoa học.
    - Có vẻ hơi suy diễn, nhưng tôi biết rằng trong thời đại của Bernini, rất nhiều Kim tự tháp đá được dựng lên hoặc bị đi dời sang chỗ khác. Chắc chắn có liên quan đến việc này.
    - Hoặc là Bernini có thể đặt những dấu hiệu chỉ đường gần các Kim tự tháp có sẵn. - Vittoria nói thêm.
    Langdon gật đầu:
    - Đúng đấy.
    - Tin xấu rồi. - Người lính đáp. - Chẳng có Kim tự tháp đá nào trên đường thẳng này. - Anh ta lại đi ngón tay trên bản đồ. - Cả những Kim tự tháp nằm xa xa một chút cũng không có. Không có cái nào.
    Langdon thở dài.
    Vittoria muốn sụp xuống. Cô cứ ngỡ ý tưởng đó phải sáng giá lắm. Rõ ràng là không dễ dàng như cô tưởng. Vittoria cố giữ tâm trạng lạc quan:
    - Robert, anh suy nghĩ đi. Chắc chắn anh phải biết một tác phẩm nào đó của Bernini có liên quan đến LỬA chứ. Bất kỳ tác phẩm nào.
    - Tin tôi đi, tôi cũng đang vắt óc đây. Nhưng Bernini sáng tác nhiều kinh khủng. Hàng trăm tác phẩm. Cứ tưởng Gió Tây sẽ chỉ đường đến một nhà thờ cụ thể nào đó, một địa điểm dễ nhận ra nào đó.
    - Lửa. - Vittoria nhắc lại. - Lửa. Không có cái tên nào nảy ra trong óc à?
    Langdon nhún vai:
    - Có một bản phác hoạ rất nổi tiếng tên là Pháo Hoa, nhưng không thuộc thể loại điêu khắc, đã thế lại được lưu trữ ở Leipzig, tận bên Đức.
    Vittoria nhíu mày:
    - Anh có tin chắc rằng hơi thở là dấu hiệu chỉ hướng đi tiếp theo không?
    - Cô cũng trông thấy tác phẩm đó rồi, Vittoria. Bố cục cân xứng tuyệt đối, Yếu tố duy nhất có thể chỉ hướng đi chính là hơi thở.
    Vittoria biết rằng Langdon nói đúng.
    - Đấy là còn chưa suy luận rằng Gió Tây tượng trưng cho Khí, cho nên bay theo hơi thở là hoàn toàn hợp lý.
    Vittoria gật đầu. Tức là chúng ta sẽ lần theo hướng của hơi thở. Nhưng đến điển nào?
    Olivetti đến bên họ:
    - Các vị tìm được gì chưa?
    - Quá nhiều nhà thờ, thưa chỉ huy. - Người lính Thuỵ Sĩ đáp.
    - Khoảng hơn 20 nhà thờ tất cả. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên chia người ra…
    - Quên chuyện đó đi. - Olivetti đáp. - Biết rõ địa điểm mà chúng ta còn bắt hụt hắn những hai lần. Chia người ra như thế tức là bỏ ngỏ. Vatican không người bảo vệ và bỏ dở cuộc tìm kiếm hộp phản vật chất.
    - Chúng tôi cần có một cuốn sách tham khảo. - Vittoria nói - Một phụ lực các tác phẩm của Bernini. Đọc tên các tác phẩm biết đâu lại tìm được cái gì đó.
    - Cũng không chắc lắm đâu. - Langdon nói - Nếu tác phẩm đó được sáng tác riêng cho hội Illuminati thì biết đâu nó được đặt ở nơi kín đáo, và có thể không được liệt kê trong danh sách.
    Vittoria không chịu tin.
    - Hai tác phẩm kia đều thuộc loại nổi tiếng và anh đều đã biết về chúng đấy thôi.
    Langdon nhún vai:
    - Thì đúng là như vậy.
    Nếu có thể lần theo danh sách để tìm một tác phẩm có tiêu đề liên quan đến Lửa, thì có thể chúng ta sẽ tìm được một bức tượng nào đó được đặt đúng trên đường thẳng này!
    Langdon buộc phải chấp nhận rằng đó là một suy diễn lôgíc.
    Anh quay sang nói với Olivetti:
    - Tôi cần có danh sách các tác phẩm của Bernini. Chắc các ông phải có một cuốn sách nhỏ để trên bàn trà nào đó chứ?
    - Sách để trên bàn trà là sao? - Olivetti không hiểu thuật ngữ này.
    - Cái đó không quan trọng. Bất kỳ danh sách nào cũng được. Trong bảo tàng của Vatican thì sao nhỉ? Chắc phải có danh sách tác phẩm của Bernini chứ?
    Người lính gác có sẹo trên mặt nhíu mày:
    - Bảo tàng giờ đã bị cắt điện, và phòng danh mục tham khảo thì quá rộng lớn. Nếu không có nhân viên ở đó giúp một tay thì…
    - Các tác phẩm mà Bernini sáng tác trong thời gian làm việc cho Vatican à? - Olivetti ngắt lời người lính.
    - Chắc thế. - Langdon đáp. - Ông ấy làm việc tại đây gần như suốt đời. Và chắc chắn là trong giai đoạn có vụ việc về Galileo.
    Olivetti gật đầu:
    - Thế thì còn có một danh mục tham khảo khác!
    Vittoria chợt cảm thấy đầy hi vọng:
    - Ở đâu?
    Người chỉ huy không trả lời. Ông ta kéo người lính sang một bên, thì thào gì đó. Người lính có vẻ không tin lắm, nhưng vẫn gật đầu vẻ phục tùng. Olivetti nói xong, người lính quay sang bảo Langdon:
    - Thưa ông Langdon, xin mời đi lối này. 9 giờ 15 rồi, chúng ta phải khẩn trương lên.
    Langdon và người lính quay ra cửa. Vittoria định đi theo:
    - Tôi sẽ đi cùng các anh.
    Olivetti túm tay cô gái:
    - Không đâu, thưa cô Vetra. Có điều này tôi phải nói với cô. - Giọng ông ta chắc nịch.
    Langdon và người lính ra ngoài. Lúc kéo Vittoria lại bên mình, trông mặt Olivetti rất nghiêm trọng. Không biết Olivetti muốn trao đổi với Vittoria chuyện gì nhưng chưa kịp nói thì máy bộ dàm của Olivetti lúc đó lại kêu khọt khẹt: "Báo cáo chỉ huy".
    Tất cả mọi người trong phòng đều quay lại.
    Một giọng nói lo lắng vang lên trong máy:
    - Chỉ huy hãy bật ti-vi lên.


    Chương 80

    Hai giờ trước, lúc ra khỏi toà nhà mái vòm bí mật của Vatican, Langdon không nghĩ rằng mình sẽ quay lại nơi này sớm đến vậy.
    Bở hơi tai vì phải chạy cho kịp người lính gác Thuỵ Sĩ suốt cả đoạn đường dài, Langdon lại đang đứng trước cửa nhà vòm.
    Người lính có vết sẹo trên mặt hộ tống Langdon qua những vòm kính sáng mờ. Lúc này, sự yên ắng trong nhà vòm có vẻ rờn rợn, thật may là Langdon không phải vào đây một mình.
    - Chắc là vòm này. - Người lính nói khi dẫn Langdon đến cuối căn phông lớn, trước một dãy vòm kính. Người lính đọc các tấm bảng ở đầu các vòm và ra hiệu cho Langdon. - Đúng đây rồi, y như phỏng đoán của chỉ huy.
    Langdon đọc tấm bảng: ATTIVI VATLCANI. Tài sản của Vatican? Anh đọc lướt danh sách. Bất động sản… tiền tệ… ngân hàng Vatican… đồ cổ… danh sách còn rất dài.
    - Tài liệu về toàn bộ tài sản của Vatican đây. - Người lính nói.
    Langdon nhìn cái vòm kính. Lạy chúa tôi. Dù bên trong tối om, Langdon vẫn thấy tài liệu xếp đầy ngổn ngộn.
    - Chỉ huy nói rằng tất cả các tác phẩm mà Bernini sáng tác trong thời gian được Vatican bảo trợ đều được liệt kê ở đây.
    Langdon gật đầu, trực giác cửa ông chỉ huy quả là tốt. Vào thời của Bernini, tất cả các tác phẩm mà một hoạ sĩ sáng tác trong thời kỳ được Vatican bảo trợ đều trở thành tài sản của toà thánh theo luật định. Đúng ra thì đây là một điều luật phong kiến chứ không phải là sự bảo trợ. Nhưng hầu như không một nghệ sĩ bậc thầy nào phàn nàn về điều đó. - Bao gồm cả những nhà thờ đặt bên ngoài lãnh địa Vatican sao?
    Người lính gật đầu, vẻ ngạc nhiên:
    - Dĩ nhiên. Tất cả các nhà thờ Thiên Chúa giáo ở thành Rome đều là tài sản của toà thánh.
    Langdon nhìn danh sách đang cầm trên tay. Khoảng 20 nhà thờ toạ lạc gần như đúng trên đường thắng mà Gió Tây chỉ tới.
    Một trong số đó là bàn thờ khoa học thứ ba, hi vọng anh có đủ thời gian để xác định được nhà thờ đó. Thường thì Langdon sẽ rất sung sướng khi được đích thân xem xét từng nhà thờ. Tuy nhiên, hôm nay anh chỉ có khoảng 20 phút để tìm được cái cần tìm - nhà thờ duy nhất có chứa một tác phẩm của Bernini liên quan đến Lửa.
    Langdon bước đến bên cánh cửa quay điện tử để vào trong vòm. Người lính vẫn đứng yên. Hình như anh ta đang lưỡng lự, không được thoải mái lắm. Langdon mỉm cười:
    - Không sao đâu. Không khí hơi loãng, nhưng vẫn thở được.
    - Nhiệm vụ của tôi là hộ tống ông đến đây và quay về trụ sở ngay.
    - Anh đi ngay à?
    - Vâng. Lính gác Thuỵ Sĩ không được phép vào trong vòm. Vào tận trong này thế là đã vi phạm điều lệnh rồi. Chỉ huy vừa nhắc tôi xong.
    - Vi phạm điều lệnh à? - Các người không cần biết đêm nay có chuyện gì sao? Ông chỉ huy chết tiệt nhà anh là người phía mình hay phía địch thế?
    Bao nhiêu vẻ thân thiện trên sắc mặt của người lính tiêu tan hết sạch. Vết sẹo dài dưới mắt anh ta bắt đầu giật giật. Người lính trợn tròn mắt, đột nhiên trông có vẻ giống Olivetti đến lạ lùng.
    - Tôi xin lỗi. - Langdon nói, thầm lấy làm tiếc vì câu nói của mình. - Chỉ là vì… tôi muốn nhờ anh giúp một tay.
    Người lính vẫn không chớp mắt.
    - Xin lỗi, tói phải làm theo mệnh lệnh, và không được phép thảo luận gì hết. Nếu ông tìm thấy gì thì hãy liên lạc với chỉ huy ngay lập tức.
    Langdon bối rối:
    - Nhưng ông ấy đang ở tận đẩu đâu kia mà?
    Người lính lấy máy bộ đàm giắt ở thắt lưng và để trên một cái bàn cạnh đó:
    - Kênh một nhé. - Sau đó anh ta biến mất trong bóng tối.


    Chương 81

    Chiếc ti vi Hitachi màn hình rộng được đặt kín đáo ở một ngăn tủ khuất trong góc đối diện với bàn làm việc của Giáo hoàng. Hai cánh tủ lúc này mở toang, và tất cả mọi người đều xúm lại.
    Vittoria cũng lại gần chiếc ti-vi. Sau khoảng gần một phút, trên màn hình hiện lên khuôn mặt của một nữ phát thanh viên trẻ tuổi.
    Người phụ nữ tóc nâu này có đôi mắt nai thật mơ màng.
    "Đây là chương trình thời sự của MSNBC. Kelly Horan Jones, truyền hình trực tiếp từ Vatican".
    Sau lưng người này là quang cảnh Đại thánh đường St. Peter trong đêm, đèn điện sáng trưng.
    - Có phải trực tiếp đâu! - Đại tá Rocher bực bội. - Đấy là cảnh nền chụp sẵn. Chúng ta tắt hết đèn rồi còn đâu.
    Olivetti xì một cái, ra hiệu bảo ông ta trật tự.
    Người phát thanh viên nói tiếp, vẻ căng thẳng:
    "Những diễn biến gây sốc trong thời gian diễn ra bầu cử ở Vatican tối nay. Chúng tôi vừa được tin hai thành viên của Hội đồng hồng y đã bị sát hại một cách dã man tại Rome".
    Olivetti lầm bầm nguyền rủa.
    Khi cô phát thanh viên tiếp tục nói, một người lính xuất hiện ở cửa:
    - Thưa chỉ huy, tổng đài báo rằng tất cả mọi đường dây đều có người gọi đến. Họ muốn biết quan điểm của chúng ta về…
    - Ngắt đi. - Olivetti nói, mắt không rời màn hình.
    Người lính có vẻ không hiểu:
    - Nhưng thưa chỉ huy…
    - Đi đi!
    Anh ta biến mất.
    Hình như Giáo chủ Thị thần cũng định nói gì rồi lại thôi. Viên Thị thần trẻ tuổi chỉ giận dữ nhìn Olivetti một hồi rồi quay lại màn hình ti vi.
    MSNBC bắt đầu cho phát một đoạn băng. Những người lính gác Thuỵ Sĩ khiêng thi thể đức Hồng y Ebner xuống cầu thang ở nhà thờ Santa Maria Del Popolo và chuyển ngài vào một chiếc xe Alfa Romeo. Hình ảnh đứng lại, thi thể trần truồng của vị Hồng y Giáo chủ lộ ra ngay trước khi họ đưa ngài vào thùng xe.
    - Kẻ chết tiệt nào quay cảnh này nhỉ? - Olivetti hỏi.
    Người phát thanh viên của đài MSNBC vẫn đang nói tiếp.
    "Người ta cho rằng đây chính là thi thể của Hồng y Giáo chủ Ebner đến từ Frankfurt, nước Đức. Những người đang đưa xác của ngài ra khỏi nhà thờ chắc chắn là các thành viên của đội lính gác Thuỵ Sĩ…"
    Hình như cô phát thanh viên này đang cố tạo ra vẻ mặt đau buồn. ống kính tập trung vào khuôn mặt của cô ta, và vẻ đau buồn lại rõ thêm chút nữa.
    "Bây giờ, MSNBC xin có lời khuyến cáo. Những cảnh mà chúng tôi sắp phát đi là rất rõ nét và có thể không thích hợp với những ai quá mẫn cảm…"
    Vittoria nhăn nhó, nhà đài chỉ giả vờ tỏ ra quan tâm đến phản ứng của người xem mà thôi. Lời cảnh báo này đã tạo được hiệu ứng mà họ muốn có - sự tò mò đến tột độ. Không một người nào có thể chuyển kênh sau khi đã nghe lời hứa hẹn này.
    Người phát thanh viên nhắc lại một lần nữa:
    "Xin nhắc lại, những ai quá mẫn cảm không nên xem những thước phim mà chúng tôi sắp phát sau đây…"
    - Đoạn phim nào? - Olivetti chất vấn. - Các người làm gì có…
    Màn hình chiếu cảnh một đôi nam nữ trên quảng trường St. Peter, đang di chuyển giữa đám đông. Vittoria nhận ra ngay, đó chính là cô và Robert Langdon. Một dòng chữ hiện lên ở góc màn hình: BẢN QUYÊN: BBC. Một tiếng chuông vang lên.
    - Ôi không thể nào. - Vittoria kêu lên. - Không thể nào.
    Giáo chủ Thị thần có vẻ bối rối. Ngài quay sang hỏi Olivetti:
    - Tôi tưởng đã tịch thu được cuốn băng rồi?
    Đột nhiên, một đứa bé kêu thét lên. ống kính hướng thẳng vào một bé gái đang chỉ tay vào ông già vô gia cư máu me bê bết. Ngay lập tức, Robert Langdon xuất hiện trong khung hình, tìm cách giúp đỡ đứa bé. Cận cảnh.
    Những người có mặt trong phòng làm việc của Giáo hoàng đều sững sờ trước tấn bi kịch hiện ra trước mặt. Thi thể của Hồng y đổ vật xuống. Vittoria xuất hiện, gọi người đến giúp. Máu. Dấu sắt nung. Kinh hoàng, cô gái không thể tiếp tục hô hấp nhân tạo cho nạn nhân.
    "Những thước phim kinh hoàng này vừa được quay cách đây vài phút bên ngoài bức tường bao của Vatican. - Người phát thanh viên bình luận. - Theo các nguồn tin chúng tôi có được thì đó chính là thi thể của đức Hồng y. Giáo chủ người Pháp Lamassé…"
    Lý do ngài ăn vận kiểu này và bị sát hại dã man như vậy vẫn còn bí ẩn. Cho đến lúc này, Vatican vẫn từ chối đưa ra lời bình luận.
    Đoạn băng lại được phát lại lần nữa.
    - Từ chối bình luận à? - Rocher lẩm bẩm. - Phải cho người ta có thời gian đã chứ!
    Người phát thanh viên vẫn tiếp tục nói, mày nhíu lại.
    - Mặc dù MSNBC vẫn chưa xác minh được động cơ của hành động này, nhưng các nguồn tin cho thấy trách nhiệm thuộc về một nhóm tự xưng là Illuminati.
    Olivetti giật mình:
    - Cái gì?
    - Quý vị hãy tìm hiểu thêm về Illuminati bằng cách truy cập trang web của chúng tôi, địa chỉ là…
    - Không thể nào! - Olivetti kêu lên, cuống quít bấm nút chuyển kênh.
    Kênh truyền hình tiếp theo có một người dẫn chương trinh gốc Bồ Đào Nha:
    "…một giáo phái tôn thờ quỷ dữ có tên là Illuminati, theo các nhà sử học thì…"
    Lúc này Olivetti bắt đầu bấm nút chuyển kênh như một cái máy. Kênh nào cũng đang có chương trình phát trực tiếp. Hầu hết đều bằng tiếng Anh.
    - Tối nay đội lính gác Thuỵ Sĩ đã chuyển một xác chết ra khỏi một nhà thờ. Nhiều người cho rằng đó chính là thi thể của Hồng y…
    Đèn điện trên quảng trường St. Peter và ở các bảo tàng đều đã bị tắt hết và cuộc truy lùng…
    - Chúng tôi đã mời đến trường quay một người chuyên nghiên cứu về các hội kín, Tyler Tingley, và ông sẽ bình luận về sự kiện gây chấn động này…
    - Có tin đồn rằng trong buổi tối nay sẽ có thêm hai vụ hành quyết nữa…
    Đang đặt ra câu hỏi liệu Hồng y Baggia có thể thoát nạn hay không…
    Vittoria quay mặt đi. Các sự kiện đồn dập quá. Ngoài kia, trong ánh hoàng hôn đang tắt dần, tấn bi kịch này đã trở thành một thỏi nam châm hút mọi người đến Vatican. Đám đông tụ tập ngoài quảng trường mỗi phút lại phình to hơn. Thêm rất nhiều người nữa đang đi bộ đến quảng trường, và cánh phóng viên đang dỡ dụng cụ từ trên xe xuống để bắt đầu tác nghiệp.
    Olivetti đặt thiết bị điều khiển từ xa xuống bàn, quay sang Giáo chủ Thị thần.
    - Thưa cha, con chẳng hiểu thế nào nữa. Con đã tịch thu cuốn băng trong camera của người phóng viên đó rồi cơ mà!
    Trong thoáng chốc, hình như người thầy tu trẻ tuổi này sững sờ đến mức không nói nên lời.
    Tất cả mọi người trong phòng đều im lặng. Người lính gác Thuỵ Sĩ đứng im, sẵn sàng đợi lệnh.
    Hình như Giáo chủ Thị thần mệt mỏi đến mức không còn sức để nổi cáu nữa:
    - Dường như tình hình tối tệ hơn nhiều so với những gì ta được báo cáo lại. - Ngài nhìn đám đông đang lụ tập ngoài cửa sổ. - Ta phải phát biểu đôi lời.
    Olivetti lắc đầu:
    - Xin cha đừng làm thế. Đó chính là điều mà Illuminati đang mong muốn. Khẳng định sự thật lúc này khác gì tăng cường thêm sức mạnh cho bọn chúng. Chúng ta nên yên lặng.
    - Còn những người ngoài kia? Giáo chủ Thị thần chỉ tay ra ngoài cửa sổ. - Chẳng mấy chốc sẽ có cả chục ngàn người. Rồi hàng trăm ngàn. Cứ mập mờ thế này thì họ sẽ gặp nguy hiểm. Ta cần phải cảnh báo họ. Sau đó chúng ta phải sơ tán Hội đồng hồng y.
    - Chúng ta vẫn còn thời gian, thưa cha. Hãy để đại tá Rocher kết thức cuộc tìm kiếm phản vật chất đã.
    Giáo chủ Thị thần quay sang ông ta:
    - Ông dám ra lệnh cho ta đấy à?
    - Không. Con chỉ khuyên cha thôi. Nếu cha lo lắng cho những người ngoài kia thì chúng ta có thể thông báo rằng một ống dẫn ga bị rò rỉ và phải giải tán đám đông. Thừa nhận rằng chúng ta đã trở thành con tin thì còn nguy hiểm hơn thế nhiều.
    - Ông chỉ huy, ta nói một là một, hai là hai. Ta sẽ không biến căn phòng này thành nơi để rao truyền những lời dối trá. Ta sẽ chỉ nói sự thật mà thôi.
    - Sự thật ư? Sự thật rằng thành Vatican đang bị một giáo phái ma quỷ đe doạ sẽ huỷ diệt tất cả ư? Làm thế chỉ khiến chúng ta thêm bất lợi.
    Giáo chủ Thị thần trừng mắt:
    - Còn có thể bất lợi hơn thế này được nữa cơ à?
    Bất ngờ Rocher kêu lên, ông ta chộp lấy điều khiển, cho tiếng to lên. Tất cả đều quay lại.
    Trên màn hình, vẻ mặt của cô phát thanh viên kênh MSNBC lúc này đã thật sự hoang mang. Ngay cạnh cô là bức ảnh của cố Giáo hoàng …Tin động trời, đài BBC vừa mới chuyển cho chúng tôi. Có ta liếc nhìn xuống dưới như thể muốn khẳng định lại một lần nữa rằng quả thực đây là tin tức phải loan báo. Không còn băn khoăn nữa, cô ta ngước lên, vẻ mặt nghiêm trọng:
    - Hội Illuminati vừa nhận trách nhiệm về… - Cô phát thanh viên vẫn lưỡng lự. - Họ đã nhận trách nhiệm về cái chết của cố Giáo hoàng cách đây 15 ngày.
    Giáo chủ Thị thần há hốc mồm.
    Rocher đánh rơi dụng cụ điều khiển từ xa đang cầm trên tay.
    Vittoria không dám tin vào tai mình.
    - Theo luật thánh thì không được phép khám nghiệm tử thi đối với thi thể của Giáo hoàng, nên hội Illuminati tuyên bố rằng không ai có thể khẳng định được hành động giết người của họ.
    Người phát thanh viên nói tiếp:
    - Tuy nhiên, họ khẳng định rằng nguyên nhân dẫn tới cái chết đột ngột của Đức Thánh Cha chính là do bị đầu độc chứ không phải do bị nhồi máu cơ tim như Vatican đã thông báo.
    Căn phòng lại trở nên yên lặng như tờ.
    Olivetti kêu lên:
    - Điên rồ! Nói dối trắng trợn!
    Rocher lại lia lịa chuyển kênh. Tin này cũng đang xuất hiện trên tất cả các kênh khác, như thể một thứ bệnh dịch vậy. Kênh nào cũng chỉ nói về một chuyện. Người ta thi nhau chọn những tiêu đề thật kêu để tác động đến tình cảm người xem.
    ÁN MẠNG TẠI VATICAN
    GIÁO HOÀNG BỊ ĐẦU ĐỘC
    QUỶ SA-TĂNG ĐÃ ĐẠT CHÂN VÀO NGÔI NHÀ CỦA CHÚA.
    Giáo chủ Thị thần quay mặt đi:
    - Cầu chúa lòng lành.
    Rocher bấm nút, định bỏ qua kênh BBC.
    - …báo tin cho tôi về vụ án mạng tại nhà thờ Santa Maria Del Popolo…
    - Khoan đã. - Giáo chủ Thị thần nói - Lại kênh đó đi.
    Rocher lại nhấn nút. Trên màn hình, một người đàn ông vẻ mặt đứng đắn đang ngồi bên bàn điểm tin. Màn hình lớn ngay cạnh ông ta hiện lên ảnh một người có chòm râu đỏ khá kỳ dị. Bên dưới màn hình có dòng chữ:
    GUNTHER GLICK - TRỰC TIẾP TỪ VATICAN.
    Rõ ràng là Glick đang dùng điện thoại để báo tin về, đường dây lạo xạo. "…Kỹ thuật viên camera đi cùng với tôi đã ghi lại cảnh thi thể của Hồng y Giáo chủ được đưa ra khỏi nhà nguyện Chigi…"
    - Tôi xin được nhắc lại với quý khán giả. - Người đàn ông ngồi bên bàn điểm tin lên tiếng - Phóng viên Gunther Glick của BBC chính là người đầu tiên đưa tin về sự kiện này. Đến lúc này thì anh đã hai lần tiếp xúc trên điện thoại với một người được cho là sát thủ của Illuminati. Gunther này, anh nói là người này vừa gọi điện và chuyển cho anh thông điệp của Illuminati phải không?
    - Đúng thế.
    - Có đúng là người này tuyên bố rằng hội Illuminati nhận trách nhiệm về cái chết của Giáo hoàng không? - Chính người dẫn chương trình cũng tỏ ra hoài nghi.
    - Chính xác. Người này nói với tôi rằng Giáo hoàng tạ thế không phải vì bị nhồi máu cơ tim, như Vatican vẫn tưởng thế. Thực ra hội Illuminati đã đầu độc ngài.
    Tất cả mọi người có mặt trong phòng làm việc của Đức Thánh Cha đến như hoá đá.
    - Đầu độc à? - Người dẫn chương trình hỏi lại. - Nhưng mà… nhưng mà…bằng cách nào?
    - Họ không nói cụ thể, chỉ có mỗi chi tiết là… họ đã giết ngài bằng một loại thuốc có tên là… - Có tiếng giấy sột soạt. - Một loại thuốc có tên là Heparin.
    Giáo chủ Thị thần, Olivetti và Rocher sững sờ nhìn nhau.
    - Heparin à? - Rocher lên tiếng, vẻ vô cùng bối rối. - Chẳng phải là…
    Mặt Giáo chủ Thị thần tái xám:
    - Chính là thuốc của Đức Thánh Cha.
    Vittoria kinh ngạc:
    - Giáo hoàng dùng thuốc Heparin à?
    - Người bị chứng nghẽn mạch. - Giáo chủ Thị thần đáp - Ngày nào Đức Thánh Cha cũng phải tiêm một mũi.
    Rocher kinh ngạc đến lặng người:
    - Nhưng Heparin có phải là thuốc độc đâu. Sao Illuminati lại tuyên bố là…?
    - Nếu dùng không đúng liều thì Heparin sẽ trở thành thuốc độc - Vittoria giải thích. - Nó là một chất chống đông cực mạnh. Dùng quá liều sẽ gây ra hiện tượng xuất huyết bên trong và cả xuất huyết não.
    Olivetti nhìn cô gái đầy nghi hoặc:
    - Làm sao cô biết điều đó?
    - Các nhà nghiên cứu hải dương học thường tiêm thuốc này cho các loài thú có vú họ bắt được để phòng hiện tượng máu vón cục do giảm vận động. Nhiều con thú đã chết vì bị chích thuốc không đúng liều. - Vittoria ngừng giây lát. - Dùng Heparin quá liều ở người thường gây ra các triệu chứng rất dễ nhầm với chứng nhồi máu cơ tim… đặc biệt là nếu không được khám nghiệm tử thi.
    Giáo chủ Thị thần lúc này có vẻ thực sự lo lắng.
    - Thưa cha, rõ ràng đây là thủ đoạn của Illuminati nhằm buộc chúng ta công khai mọi chuyện. Không một ai có thể cho Giáo hoàng dùng thuốc quá liều được. Những kẻ đó không có cách gì tiếp cận được Đức Thánh Cha. Giả sử chúng ta có ăn phải mồi nhử của chúng và tìm cách bác bỏ lời buộc tội đó chăng nữa thì cũng làm gì có cách? Luật thánh nghiêm cấm khám nghiệm tử thi đối với Đức Thánh Cha. Mà có khám nghiệm tử thi thì cũng chẳng tìm được gì. Chỉ có vết tích của Heparin trong cơ thể do Đức cha vẫn tiêm hàng ngày mà thôi.
    - Đúng thế. - Giáo chủ Thị thần gằn giọng. - Nhưng có một chi tiết vẫn khiến ta phải suy nghĩ. Không một ai ở ngoài có thể biết những loại thuốc Đức cha vẫn dùng.
    Im lặng.
    - Nếu Đức Thánh Cha dùng Heparin quá liều, sẽ có các dấu vết trên cơ thể. - Vittoria nói.
    Olivetti quay phắt lại phía cô gái:
    - Cô Vetra, nếu cô chưa nghe thấy thì tôi xin nhắc lại rằng luật thánh nghiêm cấm khám nghiệm tử thi trong trường hợp này. Chúng ta không thể phạm đến sự uy nghiêm của Đức Thánh Cha bằng cách mổ xẻ cắt vụn cơ thể người ra mà xem xét chỉ vì một lời cáo buộc hiểm độc của kẻ địch!
    Vittoria thấy ngượng.
    - Tôi không có ý nói rằng… - Cô không có ý tỏ ra bất kính. - Dĩ nhiên là tôi không định nói rằng chúng ta nên khai quật thi thể của người…
    Tuy nhiên cô vẫn do dự. Những lời Robert nói với cô trong nhà nguyện Chigi chợt vang lên trong tâm trí cô. Anh đã nói rằng quách của Giáo hoàng không bao giờ được chôn dưới đất, và người ta cũng không dùng xi măng để trét kín nắp quan tài đá. Đây là một tục lệ bắt nguồn từ thời các vua Pharaoh, người ta tin rằng nếu bít kín quan tài thì linh hồn người chết sẽ vĩnh viễn bị nhốt ở trong đó. Và người ta dùng trọng lực để thay thế cho vữa, nắp các quan tài đá thường nặng hàng tạ. Về mặt kỹ thuật thì có thể…
    - Những dấu vết gì vậy? - Đột nhiên Giáo chủ Thị thần thắc mắc.
    Quá sợ hãi, tim Vittoria đập loạn nhịp.
    - Dùng Heparin quá liều sẽ gây ra chảy máu vòm miệng.
    - Cái gì miệng?
    - Lợi của nạn nhân sẽ chảy máu. Sau khi nạn nhân đã chết, máu sẽ đông lại và toàn bộ vòm miệng chuyển thành màu đen.
    Vittoria đã một lần xem bức ảnh chụp ở vườn thú London, người luyện thú ở đó đã có lần cho hai con cá heo dùng thuốc này quá liều. Hai cái xác cứng đờ nổi lềnh bềnh trong bể nuôi, miệng há hoác, để lộ ra hai cái lưỡi đen sì như trát bồ hóng.
    Giáo chủ Thị thần không nói gì. Ngài nhìn ra ngoài cửa sổ.
    Giọng nói của Rocher hết hẳn âm sắc lạc quan:
    - Thưa cha, nếu lời cáo buộc rằng Đức Thánh Cha bị đầu độc là thật thì…
    - Thật là thế nào! - Olivetti lớn giọng - Người ngoài không thể nào tiếp cận được Đức Thánh Cha!
    - Giả sử lời cáo buộc đó là thật, rằng Đức Thánh Cha đã bị đầu độc - Rocher lặp lại, - thì điều này có tác động rất lớn đến chiến dịch dò tìm phản vật chất. Vụ đầu độc này có nghĩa là Vatican đã bị cài nội gián ở cấp rất cao. Cho nên chỉ dò tìm trong khu vực trắng là không thích hợp. Có nghĩa là chúng ta không thể tìm thấy cái hộp đó trong khoảng thời gian còn lại.
    Olivetti chĩa sang đồng sự của mình một cái nhìn lạnh lẽo:
    - Đại tá để tôi nói cho anh nghe những gì sắp diễn ra ở đây.
    - Không. - Giáo chủ Thị thần đột nhiên quay lại. - Để ta nói cho các ông nghe những gì sẽ xảy ra. - Ngài nhìn thẳng vào Olivetti. - Tình hình đã trở nên quá tồi tệ. Trong vòng 20 phút nũa, ta sẽ đích thân quyết định có cần thiết phải sơ tán thành Vatican và hoãn Mật nghị Hồng y hay không. Quyết định của ta là tối thượng. Ông nghe rõ chưa?
    Olivetti không chớp mắt, cũng không nói gì.
    Lúc này hình như người thầy tu trẻ bỗng mạnh mẽ hẳn lên, như thể vừa tìm được một nguồn sinh lực dự trữ nào đó trong cơ thể Đại tá Rocher:
    - Ông hãy hoàn tất việc dò tìm khu vực trắng, và báo cáo trực tiếp với ta ngay khi hoàn thành nhiệm vụ.
    Rocher gật đầu và liếc nhìn Olivetti vẻ e ngại.
    Giáo chủ Thị thần chọn hai người lính gác.
    - Ta muốn anh chàng phóng viên đài BBC, tên là Gunther Glick có mặt tại văn phòng này ngay lập tức. Vì đã liên lạc trực tiếp với Illuminati nên anh ta có thể giúp ích cho chúng ta. Đi ngay đi.
    Hai người lính ấy biến mất.
    Lúc này Giáo chủ Thị thần quay sang ba người lính còn lại:
    - Hôm nay ta không cho phép mất thêm bất kỳ sinh mạng nào nữa. Trong vòng hai giờ nữa, các anh phải xác định được hai địa điểm còn lại và tóm cổ thủ phạm về đây. Nghe rõ chưa?
    - Nhưng thưa cha, chúng ta còn chưa biết… - Olivetti nói.
    - Ông Langdon đang lo chuyện đó rồi. Chắc chắn ông ấy sẽ làm được. Ta tin như thế.:
    Nói xong, Giáo chủ Thị thần tiến về phía cửa ra vào bằng những bước chân đầy dũng khí. Vừa đi, ngài vừa chỉ ba ngươi lính còn lại:
    - Còn ba anh, hãy theo ta. Ngay bây giờ.
    Ba người lính làm theo.
    Ra đến bậu cửa, Giáo chủ Thị thần dừng lại:
    - Cô Vetra, cả cô nữa, hãy đi theo ta.
    Vittoria lưỡng lự:
    - Cha định đi đâu?
    Người thầy tu sải bước:
    - Đi thăm một người bạn cũ.


    Chương 82


    Tại CERN, cô thư ký Sylvie Baudeloque cảm thấy đói bụng và muốn về nhà. Nhưng rủi thay, Kohler đã vượt qua cơn nguy kịch. Ông ta vừa gọi điện, không phải là đề nghị, mà là yêu cầu Sylvie làm thêm giờ. Không một lời giải thích.
    Bao năm nay, Sylvie đã tự dặn mình không nên để bụng sự trái tính trái nết của Kohler - sự im lặng, thói quen kỳ quặc muốn dùng chiếc máy quay phim kỳ dị của ông ta để ghi lại tất cả các cuộc gặp gỡ. Chị thầm ước con người này sẽ có lần bắn nhầm phải chính mình khi đang bắn súng trường trong trường bắn giải trí của trung tâm. Nhưng rõ ràng ông ta là một xạ thủ rất cừ.
    Lúc này, ngồi một mình bên bàn làm việc, Sylvie thấy bụng đang sôi lên ùng ục. Kohler vẫn chưa quay lại, cũng chẳng có một lời chỉ dẫn về công việc của chị tối nay. Ngồi một mình mà chịu đói kiểu này thật là chán, chị thầm nghĩ. Sylvie để lại trên bàn một lời nhắn cho Kohler, định chạy ù sang khu nhà ăn của viện để kiếm thứ gì ăn qua loa cho đỡ đói.
    Nhưng Sylvie không thực hiện được ý định đó.
    Đi ngang qua khu giải trí của CERN, một dãy phòng có trang bị ti-vi chị nhận thấy tất cả các phòng này đều đầy chật người, rõ ràng là những nhân viên này đã bỏ ăn tối để vào đây xem thời sự. Hình như có chuyện động trời. Sylvie bước vào phòng đầu tiên. Phòng này thấy toàn những anh chàng lập trình viên trẻ tuổi. Trông thấy hàng chữ lớn trên ti-vi, Sylvie há hốc mồm.
    THẢM HỌA TẠI VATICAN
    Nghe xong bản tin, Sylvie không dám tin vào tai mình. Một hội kín sát hại các Hồng y Giáo chủ? Để chứng minh điều gì? Lòng căm thù của họ ư? Địa vị thống trị của họ ư? Hay sự ngu dốt của họ?
    Nhưng điều kỳ quặc là bầu không khí trong căn phòng này không một chút buồn bã hay ủ rũ.
    Hai anh chàng kỹ thuật viên trẻ tuổi chạy qua, tay vẫy vẫy những chiếc áo phông in ảnh Bill Gates và lời nói của nhà tỉ phú này: RỒI MỘT NGÀY CÁC KỸ THUẬT VIÊN MÁY TÍNH SẼ THỐNG TRỊ THẾ GIỚI.
    - Illuminati! - Một người hô to. - Tôi đã bảo là hội này có thật mà lại!
    - Không tin nổi! Cứ tưởng chỉ là một trò chơi thông thường.
    - Họ giết Giáo hoàng rồi, các bạn ơi! Giáo hoàng cơ đấy!
    - Ối dào! Anh được bao nhiêu điểm rồi hả?
    Tất cả cười rộ lên.
    Sylvie sững sờ. Là một con chiên mộ đạo làm việc cùng những nhà khoa học, đôi khi chị phải chịu đựng những lời xầm xì vô thần đầy báng bổ, nhưng những anh chàng này dường như vô cùng phấn khích trước mất mát của giáo hội. Làm sao họ có thể nói những lời báng bổ đến thế? Sao họ lại căm thù nhà thờ đến thế?
    Trong tâm thức của Sylvie, nhà thờ chỉ là một tổ chức vô hại… một nơi tràn ngập tình yêu thương và sự chia sẻ… đôi khi chỉ là nơi người ta đến để hát to lên mà không sợ bị người khác để ý.
    Nhà thờ là nơi in dấu những sự kiện quan trọng trong đời chị - đám tang, đám cưới, lễ rửa tội, những ngày lễ - và nhà thờ chẳng bao giờ đòi hỏi gì để đổi lại cho vai trò của nó. Thậm chí tiền quyên góp cũng là tùy tâm. Sau những buổi giảng bài ngày Chủ nhật ở nhà thờ lũ trẻ trở nên đáng yêu hơn, tâm hồn chúng đầy ắp những ý tưởng giúp đỡ người khác và sống tốt hơn. Những cái đó có gì là xấu?
    Sylvie luôn ngạc nhiên khi thấy những người được cho là lỗi lạc ở CERN không thể nào hiểu nổi tầm quan trọng của nhà thờ.
    Chẳng lẽ họ thực sự tin rằng những hạt quark và meson có thể tác động đến những người bình thường? Rằng các phương trình có thể thực sự thay thế cho niềm tin vào đấng tối linh?
    Choáng váng, Sylvie bước dọc hành lang, qua những phòng giải trí khác. Tất cả các phòng có ti-vi đều chật cứng. Lúc này, chị bắt đầu thắc mắc về cuộc gọi từ Vatican mà Kohler nhận lúc trước. Trùng hợp ngẫu nhiên? Rất có thể. Đôi khi Vatican vẫn gọi điện cho CERN, một động thái có tính chất ngoại giao trước khi đưa ra một lời bình luận gay gắt nào đó về những nghiên cứu ở đây - gần đây nhất là thành tựu đột phá của CERN về công nghệ nano, lĩnh vực mà giáo hội vẫn chỉ trích vì e ngại những liên quan của nó đến công nghệ gen. CERN chẳng bao giờ để ý.
    Dường như đã thành lệ, gần như ngay sau loạt đạn của Vatican sẽ là cuộc điều tra của một tổ chức nào đó liên quan đến việc có cho phép triển khai tiếp nghiên cứu đó hay không. "Không gì đáng sợ bằng bị báo chí nhòm ngó", Kohler vẫn thường nói vậy.
    Sylvie cân nhắc việc nhắn tin cho Kohler, dù ông ta có đang ở đâu để bảo ông ta bật ti-vi lên. Ông ấy có quan tâm không nhỉ? Ông ấy đã biết chưa? Dĩ nhiên, chắc chắn ông ấy phải biết rồi. Biết đâu Kohler lại còn đang ghi băng toàn bộ bản tin này, và đang nở nụ cười đầu tiên trong năm.
    Tiếp tục đi dọc hành lang, cuối cùng thì Sylvie cũng tìm được một nơi mà bầu không khí có vẻ dịu hơn… gần như là buồn bã.
    Trong phòng này, chị thấy những gương mặt có tuổi và đáng kính trọng nhất ở CERN. Lúc Sylvie bước vào trong phòng, họ thậm chí không ngẩng lên nhìn.
    ***
    Ở đầu kia của toà nhà lớn, trong căn phòng lạnh lẽo của Leonardo Vetra, Maximilian Kohler đã đọc xong cuốn sổ nhật ký bọc da lấy từ ngăn kéo bàn của Vetra. Lúc này ông đang xem bản tin. Mấy phút sau, Kohler cất cuốn sổ vào chỗ cũ, tắt ti-vi và ra khỏi phòng.
    ***
    Ở một nơi khác rất xa, tại Vatican, Hồng y Mortati bê khay lá phiếu. Tới chân ống khói nhà nguyện Sistine. Ngài đốt những lá phiếu trên khay, khói đen bốc lên.
    Một lần bỏ phiếu. Chưa có Giáo hoàng.


    Chương 83


    Ánh sáng toả ra từ những chiếc đèn pin chẳng thấm tháp gì so với bóng tối âm u dày dặc trong Đại thánh đường St. Peter.
    Khoảng không đen ngòm trên đầu như đang đè nặng xuống và Vittoria cảm thấy sự trống trải đen kịt xung quanh chẳng khác gì một vùng biển hoang vắng. Cô cố gắng bước đi sát bên cạnh những người lính gác Thuỵ Sĩ trong khi Giáo chủ Thị thần vẫn sải những bước dài. Trên cao, một chú chim câu kêu gù gù rồi vỗ cánh bay đi.
    Dường như cảm nhận được tâm trạng bất an của Vittoria, Giáo chủ Thị thần bước chậm lại và đặt tay lên vai cô. Một luồng sức mạnh lập tức truyền qua bàn tay ấy, như thể con người này đang dùng phép màu nhiệm để truyền cho Vittoria sự điềm tĩnh rất cần thiết cho những công việc mà họ sắp tiến hành.
    Chúng ta định làm gì thế này? Vittoria thầm nghĩ. Thật là một hành động điên rồ!
    Tuy nhiên, Vittoria biết rằng đây là một việc không thể không lẫm, vì như thế có nghĩa là bất kính, là khủng khiếp. Cần có thông tin để đưa ra những quyết sách cần thiết… những thông tin đang bị chôn vùi trong nhà mồ của Vatican. Không hiểu họ sẽ tìm thấy gì. Có đúng là hội Illuminati đã sát hại Đức Thánh Chúa không? Phải chăng cánh tay của họ có thể vươn dài đến thế? Không lẽ mình sẽ là người đầu tiên tổ chức khám nghiệm tử thi của một vị Giáo hoàng?
    Thật mỉa mai, trong thánh đường tăm tối này, Vittoria cảm thấy sợ hãi, khác hắn những đêm cô bơi giữa bầy cá ăn thịt người ngoài biển khơi. Thiên nhiên chính là nhà của cô. Và lúc nào cô cũng hiểu thiên nhiên. Nhưng với cô, linh hồn của loài người thì luôn luôn bí hiểm. Đám đông nhà báo tập trung bên ngoài khiến Vittoria nghi đến loài cá ăn thịt người. Thi thể bị đóng dấu sắt nung của đức Hồng y trên ti-vi khiến cô nghĩ đến người cha của mình… và tiếng cười ghê rợn của kẻ giết người. Hắn đang ở đâu đó ngoài kia. Cơn giận dữ trong lòng Vittoria đã nhấn chìm cảm giác sợ hãi từ lúc nào.
    Đi qua một cây cột lớn - lớn hơn bất kỳ cây cột bằng gỗ nào khác cô gái trông thấy một luồng ánh sáng màu vàng cam. Luồng sáng này dường như phát ra từ dưới nền của trung tâm Đại thánh đường. Đến gần hơn, Vittoria nhận ra đó chính là điện thờ dưới lòng đất nổi tiếng, nơi cất giữ những di vật quý giá nhất của Vatican. Đến gần hơn, Vittoria chăm chú nhìn cỗ quan tài lớn bằng vàng, được thắp sáng bởi hàng chục ngọn đèn dầu.
    - Đây chính là lăng mộ trong thánh đường St. Peter phải không? - Hỏi vậy nhưng cô đã biết rõ đây là nơi nào. Tất cả những ai từng đến thánh đường St. Peter đều biết những gì được cất giữ trong những cỗ quan tài bằng vàng này.
    - Thực ra thì không phải vậy. - Giáo chủ Thị thần đáp. - Rất nhiều người vẫn hiểu lầm như thế. Đây không phải là chỗ đựng thánh tích. Trong hòm này là những chiếc khăn choàng pallium để Giáo hoàng phát cho những Hồng y mới được phong chức!
    - Tôi tưởng là…
    - Rất nhiều người cũng tưởng thế đấy. Các sách hướng dẫn du lịch gọi nó là hầm mộ trong thánh đường St. Peter, nhưng hầm mộ thật sự nằm ở tận dưới sâu trong lòng đất cơ. Vatican khai quật được hầm mộ này từ những năm 40. Không một ai được phép xuống đó.
    Vittoria kinh ngạc. Bước theo những người khác, xa dần vùng sáng, cô nghĩ đến câu chuyện của những người hành hương vượt qua hàng ngàn cây số chỉ để được nhìn thấy chiếc quan tài bằng vàng này và nghĩ rằng họ đã đến được với Thánh Peter.
    - Thế tại sao Vatican không công bố tin đó?
    - Tất cả chúng ta đều được một cái gì đó khi nghĩ rằng mình được tiếp xúc với đấng tối linh… dù chỉ trong tưởng tượng.
    Là một nhà khoa học, Vittoria không thể không công nhận rằng đây là một lập luận lôgíc. Cô đã từng đọc vô số nghiên cứu về hiệu ứng của sự trấn an - thuốc aspirin chữa lành bệnh cho những bệnh nhân ung thư trong khi bản thân người bệnh thì tin chắc rằng họ đang dùng một loại thần được nào đó. Suy cho cùng thì đó chẳng phải là đức tin hay sao?
    Thay đổi chưa bao giờ là sở trường cửa Vatican. Thừa nhận những sai lầm trong quá khứ hay hiện đại hoá bản thân nó là những gì Giáo hội xưa nay luôn tìm cách tránh né. Và Đức Thánh Cha đã cố gắng thay đổi điều đó. - Giáo chủ Thị thần ngừng một lát - Hoà nhập với thế giới hiện đại, tìm những phương cách mới để tiếp cận Chúa.
    Trong bóng tối, Vittoria gật đầu:
    - Giống như khoa học chứ gì?
    - Thật ra mà nói thì có lẽ khoa học lại là cái không thích hợp.
    - Không thích hợp? - Vittoria có thể nghĩ ra rất nhiều từ ngữ để nói về khoa học, nhưng trong thời hiện đại này, từ không thích hợp rõ ràng không thể là một trong những từ ấy.
    - Khoa học có thể chữa lành vết thương, nhưng cũng có thể giết chết người ta. Cái đó phụ thuộc vào người nắm khoa học trong tay. Linh hồn của người đó mới chính là cái ta quan tâm tới.
    - Cha bắt đầu đến với Chúa từ bao giờ?
    - Từ trước khi ta chào đời.
    Vittoria trợn tròn mắt.
    - Rất tiếc, câu hỏi đó đối với ta luôn có vẻ là lạ. Ta muốn nói rằng lúc nào ta cũng tâm niệm rằng mình sẽ phụng sự Chúa. Từ khi biết nghĩ. Tuy nhiên đến khi trở thành một thanh niên trong quân ngũ thì ta mới thực sự ý thức đầy đủ về tâm nguyện ấy của mình.
    Vittoria ngạc nhiên:
    - Cha đã từng đi lính ư?
    - Hai năm. Ta nhất định không chịu cầm súng, thế là họ bắt ta lái máy bay. Loại trực thăng Medevac. Thỉnh thoảng ta vẫn lái máy bay đấy.
    Vittoria cố mường tượng cảnh một vị thầy tu trẻ đang lái máy bay. Thật kỳ lạ, cô thấy con người này thật phù hợp với bảng điều khiển máy bay. Uy lực của Giáo chủ Thị thần Ventresca thực ra cũng là kết quả của phẩm chất này.
    - Cha có bao giờ lái máy bay cho Đức Thánh Cha không?
    - Lạy chúa, không. Vị khách đặc biệt đó thì xin dành cho các phi công chuyên nghiệp. Nhưng đôi khi Đức Thánh Cha cho phép ta trở về Gandolfo bằng máy bay trực thăng. - Giáo chủ Thị thần im lặng giây lát, rồi quay sang nhìn Vittoria. - Cô Vetra, cảm ơn cô đã nhiệt tình giúp đỡ chúng tôi hôm nay. Ta rất lấy làm tiếc về cha của cô, thật đấy.
    - Cảm ơn cha!
    - Ta không bao giờ biết mặt cha ruột của mình. Ông ấy đã qua đời trước khi ta chào đời. Lên 10 tuổi thì ta mồ côi mẹ.
    Vittoria ngước nhìn lên.
    - Cha cũng mồ côi ư? - Đột nhiên cô thấy vị thầy tu này trở nên thật gần gũi.
    - Ta sống sót sau một tai nạn. Thảm hoạ đó đã khiến mẹ ta thiệt mạng.
    - Thế ai chăm sóc cha?
    - Chúa. - Giáo chủ Thị thần đáp. - Người đã gửi đến cho ta một người cha khác, theo đúng nghĩa đen của từ ấy. Một linh mục ở vùng Palermo xuất hiện ở bệnh viện và đón nhận ta. Lúc đó ta không hề ngạc nhiên. Từ khi còn bé, ta đã cảm nhận được sự quan tâm và tình yêu của Chúa dành cho mình. Sự xuất hiện của vị linh mục ấy đơn giản là đã khẳng định những gì ta nghĩ rằng sẽ xảy đến. Chúa đã chọn ta làm kẻ nô bộc của người.
    - Cha tin rằng Chúa đã chọn cha ư?
    - Phải. Bây giờ ta vẫn tin như vậy. - Không hề có chút giả dối nào trong giọng nói của Giáo chủ Thị thần, mà chi có lòng biết ơn sâu sắc - Trong nhiều năm, ta đã làm việc dưới sự giám hộ của vị giám mục ấy. Sau đó người được phong chức Hồng y Giáo chủ Tuy nhiên, người vẫn không quên ta. Trong tâm khảm của ta, người chính là cha.
    Một luồng sáng bất ngờ rọi vào khuôn mặt của vị thầy tu trẻ, và Vittoria dọc thấy sự cô đơn trong đôi mắt ấy.
    Họ đến bên một cây cột rất cao, và những ánh đèn pin cùng chiếu xuống một cái hố. Nhìn những bậc thang dẫn xuống khoảng tối đen ngòm bên dưới, bất giác Vittoria muốn quay lui.
    Những người lính gác đỡ Giáo chủ Thị thần bước xuống. Và cả cô nữa.
    - Rồi sao nữa? - Vừa bước xuống, Vittoria vừa hỏi, cố phát âm một cách mạch lạc. - Vị Hồng y Giáo chủ đó sau thế nào?
    - Người rời khỏi Hội đồng hồng y để đảm nhiệm một vị trí khác.
    Vittoria ngạc nhiên.
    - Sau đó, đáng tiếc là người đã ra đi.
    - Thật sao? - Vittoria thốt lên. - Lâu chưa ạ?
    Giáo chủ Thị thần quay lại, trong bóng tối, vẻ mặt đầy đau đớn:
    - Chính xác là cách đây 15 hôm. Và ngay bây giờ chúng ta sẽ gặp lại người.

  7. #17
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 84

    Vòm kính lưu trữ của Vatican được chiếu sáng bởi những bóng đèn màu đỏ. Vòm kính này nhỏ hơn nhiều so với những vòm khác ở đây ít khí hơn, ít thời gian hơn. Giá mà ban nãy Langdon nhớ ra để yêu cầu Olivetti cho bật quạt thông gió lên thì tốt biết mấy.
    Langdon nhanh chóng xác định được khu vực chứa các tài liệu về mỹ thuật. Khu vực này không thể lẫn vào đâu được. Nó chiếm trọn 8 giá sách đầy ắp. Giáo hội Cơ đốc sở hữu hàng triệu tác phẩm nghệ thuật ở khắp nơi trên thế giới.
    Langdon nhìn lướt qua các giá đề tận cái tên Gianlorenzo Bernini. Anh bắt đầu tận từ giữa giá trở xuống, ở khu mà có lẽ sẽ thấy vần B. Lúc đầu anh tưởng cuốn sổ đang cần tận đã bị thất lạc, nhưng chỉ sau chốc lát, Langdon kinh hãi phát hiện ra rằng những cuốn sổ này không được xếp theo thứ tự A, B, C. Sao mình không thấy ngạc nhiên nhỉ?
    Mãi khi quay lại tìm từ đầu, trèo thang lên tận trên đỉnh giá cao nhất, anh mới hiểu ra cách sắp xếp tài liệu trong vòm này.
    Cheo leo tận tầng trên cũng là những cuốn sổ cái dày nhất về các bậc thầy thời Phục Hưng - Michelangelo, Raphael, Da Vinci, Botticelli. Hoá ra là thế, vì đây là nơi lưu trữ tài liệu về "tài sản của Vatican" cho nên vị trí các cuốn sổ phụ thuộc vào giá trị của từng bộ sưu tập. Cuốn Bernini nằm giữa hai cuốn sổ đề Raphael và Michelangelo. Dày những gần mười phân.
    Hổn hển vì phải vật lộn với cuốn sổ quá dày, Langdon xuống thang Rồi hệt như một cậu bé vớ được cuốn truyện tranh yêu thích; anh nằm soài xuống sàn; lật trang bìa.
    Cuốn sổ này có bìa vải rất chắc chắn. Bên trong là tiếng Ý, chữ viết tay. Mỗi trang nói về một tác phẩm, có cả một đoạn miêu tả ngắn gọn ngày tháng, địa điểm, giá nguyên liệu, đôi khi có cả phác hoạ tác phẩm đó. Langdon lật nhanh một lượt… 800 trang tất cả. Bernini quả là một người bận rộn.
    Hồi còn là sinh viên, Langdon đã có lần thắc mắc tại sao một số nghệ sĩ có thể sáng tạo nhiều tác phẩm đến thế trong quãng đời ngắn ngủi của họ. Về sau, anh đã vô cùng thất vọng khi hiểu ra rằng các nghệ sĩ đó thực sự tự sáng tác rất ít. Họ lập ra các xưởng nghệ thuật và đào tạo các nghệ sĩ trẻ, và để cho những nghệ sĩ học việc này thực hiện các ý tưởng của mình. Những nhà điêu khắc như Bernini thường nặn các nguyên mẫu thu nhỏ bằng đất sét sau đó thuê người khác sao chép sang chất liệu đá cầm thạch. Nếu Bernini phải đích thân tạo ra tất cả các tác phẩm của mình, chắc đến tận đầu thiên niên kỷ thứ ba này ông vẫn chưa thể làm xong.
    Phụ lục. Langdon tự nói một mình để gạt những ý nghĩ vẩn vơ không cần thiết khỏi tâm trí. Anh lật đến cuối cuốn sổ, định tìm vần F để tận các tác phẩm có liên quan đến Lửa, nhưng không thấy. Anh lầm bầm trong miệng: Làm sao những người này lại căm ghét kiểu xếp theo trật tự A, B, C đến thế không biết.
    Các tác phẩm rõ ràng là được xếp theo trật tự thời gian. Xong tác phẩm này, Bernini lại bắt đầu tác phẩm khác. Tất cả được xếp theo ngày tháng. Chẳng ích lợi gì.
    Nhìn phần phụ lục, một chi tiết đáng thất vọng nữa đập vào mắt anh. Không có một tác phẩm nào có tiêu đề liên quan đến Lửa. Hai tác phẩm đã tận được: Habbakuk và thiên thần, cũng như Gió Tây, đều không có tiêu đề liên quan trực tiếp đến Đất và Khí.
    Langdon thử lật lung tung cuốn sổ, hi vọng một hình minh hoạ nào đó có thể đem lại cho anh một ý. Tưởng bất ngờ. Nhưng chẳng thấy gì. Anh chỉ thấy hàng chục tác phẩm mà anh chưa nghe nói tới bao giờ, và cũng có nhiều tác phẩm anh đã biết từ trước… Daniel và Sư tử, Thần mặt trời và Daphne, có cả gần chục đài phun nước. Những đài phun nước này bỗng khiến anh để tâm. Nước. Biết đâu bàn thờ khoa học thứ tư lại là một đài phun nước nào đó. Để ngợi ca nước thì một đài phun nước dĩ nhiên là không gì bằng.
    Langdon hi vọng có thể tóm được kẻ sát nhân trước khi phải nghĩ đến Nước - Bernini đã thiết kế hàng chục đài phun nước ở Rome, và hầu hết đều được bố trí phía trước các thánh đường.
    Langdon quay lại với vấn đề của hiện tại. Lửa. Mắt nhìn lướt cuốn sổ dày cộp, Langdon chợt thấy vang lên trong tâm trí những lởi nói đầy khích lệ của Vittoria. Hai tác phẩm trước đều rất quen thuộc đối với anh… rất có thể anh cũng đã biết tác phẩm thứ ba này rồi cũng nên. Lại lại về phần phụ lục, Langdon tìm những tác phẩm anh đã biết. Một số có vẻ cũng quen quen, nhưng vẫn không thấy ý tưởng nào nảy ra trong đầu. Rất có thể anh sẽ chết trước khi tìm ra tác phẩm đó, dù thực sự không muốn, anh vẫn quyết định mang cuốn sổ cái ra khỏi vòm lưu trữ. Thực ra chỉ là một cuốn sổ cái thôi mà, anh tự an ủi bản thân. Lần này rất khác với việc đưa nguyên tác của Galileo ra ngoài. Nhớ đến tờ giấy nến viết về Galileo trong túi áo, anh tự nhủ phải nhớ mang trả vào chỗ cũ trước khi rời khỏi nơi này.
    Vội vã Langdon định nhấc cuốn sổ lên, nhưng đúng lúc này một hình ảnh khiến anh dừng ngay lại. Dù phần phụ lục liệt kê rất nhiều, nhưng chỉ một tác phẩm khiến anh cảm thấy là lạ.
    Phần chú thích cho thấy đây là một tác phẩm nổi tiếng của Bernini, Khoảnh khắc đê mê của thánh Teresa. Mới hoàn thành chưa được bao lâu, nó đã bị di chuyển khỏi vị trí ban đầu trong toà thánh: Điều này chưa có gì đáng chú ý, anh biết quá khứ sóng gió của tác phẩm này. Dù được nhiều người coi là kiệt tác, nhưng tác phẩm điêu khắc này bị Giáo hoàng Urban VIII cho là đậm chất tính dục và không thích hợp với Vatican. Ngài đã cho chuyển tác phẩm này đến một nhà thờ nhỏ hẻo lánh của thành phố. Điều đáng chú ý là tác phẩm này đã được dời đến một trong năm nhà thờ mà Langdon hiện đang quan tâm. Thêm vào đó ở đây còn ghi là di chuyển theo đề nghị của tác giả.
    Theo đề nghị của tác giả? Thật khó hiểu. Khả năng Bernini muốn giấu tác phẩm của mình vào một nơi hẻo lánh là rất ít. Các nghệ sĩ đều muốn tác phẩm của mình được trưng bày trong những khung cảnh trang trọng, không phải ở…
    Langdon đắn đo. Trừ phi…
    Anh thậm chí không dám tin vào suy đoán của mình. Không lẽ là thế thật? Phải chăng Bernini cố tình tạo ra một tác phẩm quá đậm chất dục tính để buộc Vatican phải chuyển nó đi chỗ khác?
    Đến một địa điểm do Bernini tự chọn? Biết đâu là một nhà thờ khuất nẻo nào đó nằm đúng hướng mà Gió Tây chỉ tới?
    Langdon bắt đầu thấy phấn khởi trong lòng, nhưng những gì anh biết về tác phẩm này lờ mờ hiện ra trong trí nhớ. Đâu có liên quan gì đến Lửa. Tất cả những ai đã từng nhìn thấy tác phẩm này đều phải thừa nhận rằng nó chẳng có vẻ gì liên quan đến khoa học. Liên quan đến tinh dục thì có, chứ khoa học thì không chút nào. Có nhà phê bình nghệ thuật người Anh đã từng nói rằng, không thể nào dùng Khoảnh khắc đê mê của thánh Teresa làm vật trang trí cho một nhà thờ Thiên Chúa giáo. Dĩ nhiên Langdon hiểu vì sao lại có sự bất đồng quan điểm như vậy. Dù được tạo ra bằng một đôi tay thiên tài, nó vẫn là tượng Thánh Teresa trong tư thế nằm ngửa đang uốn éo, quằn quại trong cảm giác đê mê.
    Khó có thể lọt vào mắt xanh của Vatican. Langdon vội lật đến trang miêu tả tác phẩm này. Trông thấy hình phác hoạ tác phẩm, anh bất giác cảm thấy có hi vọng. Trong tranh, rõ ràng là Thánh Teresa đang trong cảm giác ngây ngất đê mê, nhưng cạnh thiếu phụ này còn có một hình vẽ nữa, bức tượng thứ hai mà Langdon không hề nhớ ra.
    Một thiên thần.
    Anh bất giác nhớ lại truyền thuyết về bức tượng…
    Vốn là một nữ tu sĩ, xơ Teresa đã được phong thánh sau khi tuyên bố rằng trong giấc ngủ, bà được một thiên thần ghé thăm. Về sau, các nhà phê bình đều cho rằng cuộc viếng thăm đó mang yếu tố dục tính chứ không có tính chất tâm linh. Cần cuối trang giấy, Langdon thấy những đoạn trích dẫn quen thuộc. Những lời nói của chính thánh Teresa khiến cho người ta không thể nghĩ theo bất kỳ hướng nào khác:
    "Cây giáo lớn bằng vàng của thiên thần… rực lửa… xiên thẳng vào thân thể ta nhiều lần… xuyên vào ruột gan ta… một sự ngọt ngào đến vồ cùng khiến ta muốn khoảnh khắc đó không bao giờ chấm dứt".
    Langdon cười mỉm. Những lời lẽ bóng bẩy này rõ ràng ám chỉ một cuộc truy hoan thực sự, không thể là bất kì thứ gì khác. Đọc những câu miêu tả trong trang giấy này, anh càng thấy phấn khởi. Dù đây là tiếng Ý, từ Lửa vẫn thấy xuất hiện rất nhiều lần:
    … mũi giáo của thiên thần rực lửa
    … đầu thiên thần toả ra những tia lửa
    … người trinh nữ bừng bừng trong ngọn lửa đam mê…
    Nhìn hình vẽ minh hoạ thêm một lần nữa, Langdon mới thực sự tin chắc. Cây giáo rực lửa của thiên thần được giương lên cao, như một ngọn hải đăng chỉ hướng. Thiên thần dẫn lối trên hành trình cao cả. Thậm chí đây còn là một thiên thần Seraph, mà nghĩa đen của từ này chính là "đấng rực lửa".
    Mặc dù không thuộc kiểu người tin vào số mệnh, nhưng khi đọc tên của thánh đường đó, Langdon cũng phải tin là có những yếu tố tiền định.
    Santa Maria Della Vittoria.
    Vittoria, anh vừa đọc nhẩm vừa cười rạng rỡ. Tuyệt thật.
    Lúc đứng lên, Langdon cảm thấy chóng mặt. Anh liếc nhìn cái thang, lưỡng lự không biết có nên đưa trả quyển sổ vào chỗ cũ không. Mặc kệ, anh thầm nghĩ. Cứ để cha Jaqui cất cũng được. Rồi anh gấp cuốn sổ lại, đặt ngay ngắn dưới đáy giá sách.
    Vừa bước lại bên nút bấm đang toả sáng nhè nhẹ ở cửa ra, Langdon vừa thở dốc. Tuy nhiên, vận may tình cờ vẫn khiến anh cảm thấy phấn chấn.
    Nhưng đúng lúc Langdon giơ tay định nhấn nút mở cửa thì vận may ấy kết thúc…
    Bất thình lình, vòm kính như thở dài đánh thượt một cái. Đèn mở dần, rồi nút khoá cửa cũng tắt ngấm. Như một con mãnh thú vừa thở hắt ra lần cuối cùng trong đời, toàn bộ vòm kính chuyển thành tối thui Có người vừa cắt cầu dao điện.


    Chương 85

    Các hầm mộ linh thiêng của Vatican được bố trí bên dưới Đại thánh đường St. Peter. Những Giáo hoàng đã quá cố đều được an táng tại đây.
    Vittoria đã xuống đến bậc thang cuối cùng, và bước vào trong hầm mộ. Đường hầm tối tăm nơi đây khiến cô nghĩ tới cỗ máy gia tốc hạt Hadron tại CERN - tối tăm và lạnh lẽo. Lờ mờ hiện ra dưới luồng sáng của những chiếc đèn pin, nơi này đầy vẻ ma quái. Hai bên lối đi có rất nhiều hốc được khoét sâu vào trong tưởng. Và sâu trong những hốc ấy là bóng dáng nặng nề thô kệch của những cỗ quan tài đá.
    Vittoria thấy choáng váng. Vì lạnh đấy mà, cô tự nhủ, dù biết rằng đó không phải là lý do duy nhất. Cô có cảm tưởng như họ đang bị theo dõi, không phải bởi những con người bằng xương bằng thịt, mà bởi những bóng ma trong đêm tối nơi này. Bên trên các quan tài là những hình nộm mô phỏng các Giáo hoàng quá cố đầy đủ lễ phục, to bằng người thật, nằm chắp tay trước ngực.
    Trông như thể những hình nhân ấy từ trong quan tài nhô lên, vượt qua sức cản của nắp quan tài bằng đá cẩm thạch, để thoát ra khỏi những ràng buộc của cái chết. Những luồng sáng từ mấy cây đèn pin tiếp tục tiến lên phía trước, những hình nhân ấy tạo thành những bóng đen, hiện ra trước mắt họ, đổ dài xuống, rồi biến mất, y như một vũ điệu ma quái mô phỏng một cuộc tỉ thí võ nghệ đầy ghê rợn.
    Tất cả mọi người đều im lặng, không biết vì thành kính hay vì sợ hãi. Có lẽ là cả hai. Giáo chủ Thị thần nhắm mắt, chân bước thẳng về phía trước, như thể ngài đã thuộc lòng từng lối đi từ lâu lắm rồi. Vittoria có cảm giác rằng vị thầy tu trẻ tuổi này đã nhiều lần có những cuộc dạo chơi kỳ quái kiểu này từ khi Đức Thánh Cha tạ thế… có lẽ là để cầu nguyện bên quan tài của người.
    Ta đã nhiều năm làm việc dưới sự giám hộ của đức Hồng y Giáo chủ, chính miệng viên Thị thần này đã nói thế. Người như là cha của ta vậy. Giáo chủ Thị thần đã nói những lời này khi kể về vị giám mục đã cứu ông ra khỏi quân ngũ. Tuy nhiên, đến lúc này cô mới hiểu hết toàn bộ câu chuyện. Chính vị giám mục đỏ sau này đã trở thành Giáo hoàng và người phụ tá trẻ của ngài đã trở thành Giáo chủ Thị thần.
    Chi tiết này làm cho tất cả trở nên rất rõ ràng. Vittoria thầm nghĩ.
    Cô gái luôn có những trực cảm rất chính xác về nội tâm của người khác, và vị thầy tu trẻ tuổi này đã khiến cô phải băn khoăn suốt từ lúc đặt chân đến toà thánh. Vừa mới gặp gỡ, Vittoria đã cảm nhận trong tâm can của con người này một nỗi đau vò xé, đáng sợ hơn nhiều so với những sự kiện dồn dập đang xảy đến ngay lúc này. Đằng sau vẻ điềm tĩnh này là một linh hồn bị giằng xé dữ dội. Giờ thì Vittoria biết chắc rằng trực giác của mình không sai chút nào. Vị thầy tu này không những đang đứng trước hiểm hoạ đáng sợ nhất trong lịch sử Vatican, mà còn phải chèo chống trong thế đơn thương độc mã.
    Những người lính lúc này đã bước chậm lại, dường như trong bóng tối dày đặc, họ không thể xác định được vị trí của đức Giáo hoàng vừa tạ thế. Giáo chủ Thị thần thì vẫn phăm phăm bước tới đầy tự tin, sau đó dừng lại trước một mộ phần bằng đá hoa cương có vẻ sáng hơn so với những ngôi mộ khác. Ngay bên trên quách đá là hình mô phỏng cựu Giáo hoàng. Nhận ra khuôn mặt mà có đã mấy lần trông thấy trên ti-vi, Vittoria chợt thấy kinh hãi. Chúng ta định làm gì thế này?
    - Ta biết là chúng ta không còn nhiều thời gian. - Giáo chủ Thị thần nói - Nhưng dù sao thì hãy cùng cầu nguyện một lát.
    Những người lính Thuỵ Sĩ cúi đầu xuống. Vittoria cũng làm theo, tim đập thình thịch. Giáo chủ Thị thần quỳ xuống và khấn nguyện bằng tiếng Ý. Nghe những lời cầu nguyện của vị thầy tu trẻ tuổi, nỗi đau trong lòng cô gái chợt dâng trào… những giọt nước mắt khóc cho người cha vừa qua đời… người cha linh thần của cô. Giáo chủ Thị thần như đang khấn nguyện cho cả cố Giáo hoàng lẫn cha của Vittoria.
    - Cha tôn kính, người chỉ lối, người bạn lớn của con. - Giọng nói của Giáo chủ Thị thần âm vang trong bầu không khí tĩnh mịch. Hồi còn bé con đã được cha căn dặn rằng tiếng nói trong tim con cũng chính là tiếng nói của Chúa. Cha đã dặn con phải luôn tuân phục những mệnh lệnh trong tim ấy, bất chấp mọi khó khăn gian khổ Lúc này con đang nghe thấy những mệnh lệnh ấy, và sắp sửa phải làm một việc thật khó khăn. Xin cha hãy cho con sức mạnh. Xin cha hãy xá tội cho con. Những gì con sắp làm… chính là vì tất cả những gì cha vẫn luôn tôn thờ. Amen!
    Amen. - Những người lính lặp lại.
    Amen. Cha ơi. Vittoria gạt nước mắt.
    Giáo chủ Thị thần chậm rãi đứng dậy và bước tránh sang một bên.
    - Hãy đẩy nắp quan tài ra.
    Những người lính gác Thuỵ Sĩ lưỡng lự:
    - Thưa cha, theo luật thì chúng con phải tuân theo lệnh cha. - Một người lính nói - Chúng con sẽ…
    Giáo chủ Thị thần hiểu những suy nghĩ của người lính trẻ:
    - Một ngày nào đó, ta sẽ phải cầu xin sự tha thứ của các bạn vì đã đẩy các bạn vào tình huống khó khăn này. Nhưng hôm nay, bơn phận của các bạn là làm theo mệnh lệnh của ta. Luật thánh được ban hành là để bảo vệ Giáo hội. Lúc này, ta yêu cầu các bạn vi phạm luật thánh cũng là vì lợi ích của Giáo hội.
    Im lặng giây lát, người đội trưởng ra lệnh cho hai người còn lại. Cả ba người đặt đèn pin xuống đất, bóng họ đố dài về phía trước. Họ tiến lại bên quan tài. Trong những luồng sáng từ mặt đất hắt lên, ba người lính đặt tay lên một đầu nắp quan tài, gồng người lên trong tư thế chuẩn bị. Nhận được hiệu lệnh, cả ba cùng ra sức đẩy thật mạnh. Nắp quan tài bằng đá gần như không hề nhúc nhích, Vittoria thầm cầu cho họ không đủ sức để mở chiếc quách đá này. Bỗng nhiên cô cảm thấy sợ hãi khi nghĩ tới những gì mình sẽ phải trông thấy.
    Ba người lính đẩy mạnh hơn nữa, nhưng nắp quan tài vẫn không hề lay chuyển.
    - Để ta giúp một tay. - Giáo chủ Thị thần xắn ống tay áo thầy tu lên quá khuỷu. - Hai, ba nào! - Tất cả đều thở hổn hển.
    Vittoria định giúp họ, nhưng chưa kịp lên tiếng thì nắp quan tài bắt đầu dịch chuyển. Bốn người đàn ông lại đẩy thêm một lần nữa, tiếng đá nghiến vào đá nghe lộng óc, nắp quan tài dịch hẳn sang một bên, mở ra một góc khá rộng - hình nộm của Giáo hoàng trên nắp quan tài bị ngửa hẳn đầu ra sau, còn hai chân thì xiên thắng ra trước mặt họ.
    Tất cả đều bất giác lùi lại.
    Một người lính nhặt cây đèn pin dưới chân lên. Anh ta lưỡng lự rồi chiếu đèn vào mộ phần. Luồng sáng lúc đầu run rẩy, rồi nhanh chóng ổn định. Những người lính khác cũng lần lượt làm theo. Dường như cả ba người lính đều muốn quay đầu bỏ chạy. Gần như đồng thời, họ đưa tay làm dấu thánh.
    Quan sát mộ phần, Giáo chủ Thị thần rùng mình, hai vai rũ xuồng như đang phải mang một gánh nặng quá sức. Một lúc lâu sau ngài mới quay mặt đi.
    Vittoria tưởng miệng Đức Thánh Cha đã cứng đờ, và cô sẽ phải bẻ gãy xương hàm để quan sát lưỡi. Nhưng hoá ra điều đó là không cần thiết. Hai gò má đã chảy xệ hẳn xuống, và miệng Giáo hoàng mở rộng.
    Lưỡi của ngài đen sì.


    Chương 86

    Không âm thanh. Không ánh sáng.
    Nhà mái vòm bí mật tối đen như mực.
    Nỗi khiếp sợ quả là một chất kích thích loại mạnh, và lúc này thì Langdon đã nhận ra điều đó. Hổn hển, anh lần mò trong bóng tối hướng về cánh cửa xoay. Sờ thấy nút điều khiển trên tường, anh nhấn thật mạnh. Không thấy gì. Langdon đập mạnh một lần nữa. Cửa vẫn đóng im ỉm.
    - Không nhìn thấy gì! - Langdon kêu to lên, nhưng cổ họng đã nghẹt lại. Anh chợt nhận ra mức độ nguy hiểm của tình thế này.
    Hai lá phổi đang căng ra vì thiếu ôxy, trong khi adrenaline khiến cho nhịp tim tăng mạnh, làm Langdon cảm tưởng như có ai vừa đảo tung toàn bộ lục phủ ngũ tạng trong người mình.
    Langdon xô mạnh cánh cửa, trong thoáng chốc, hình như cánh cửa vừa nhúc nhích chút đỉnh. Anh đẩy mạnh một lần nữa, mắt hoa lên. Hoá ra toàn bộ vòm kính vừa xê dịch chứ không phải cánh cửa. Loạng choạng, Langdon vấp phải một cái chân thang và ngã nhào. Đầu gối anh va mạnh vào cạnh sắc của một giá sách, rách toạc. Vừa lầm bầm trong miệng, Langdon vừa nhỏm dậy và lần mò tìm cái thang.
    Đã thấy. Thang nhôm chứ không phải bằng gỗ hay sắt như anh hy vọng. Túm chặt cái thang, Langdon giương nó về phía trước như thể những người lính thời trung cổ giương những phiến gỗ nặng để phá thành. Anh chạy lấy đà rồi phang mạnh cái thang vào bức tường kính. Anh đã đứng quá gần bức tường. Cái thang va vào bức tường kính rồi nầy bật lại. Nghe tiếng va chạm chẳng lấy gì làm mạnh, anh biết là cái thang nhôm này không có tác dụng.
    Nghĩ tới khẩu súng lục bán tự động, hy vọng lóe lên rồi lập tức tan biến. Anh không còn giữ khẩu súng nữa. Lúc ở phòng làm việc của Giáo hoàng, Olivetti đã thu lại khẩu súng vì không muốn anh mang vũ khí trong người lúc tiếp kiến Giáo chủ Thị thần. Lúc đó lý do ông ta đưa ra có vẻ rất thuyết phục.
    Lại một lần nữa Langdon cố gọi thật to, nhưng cổ họng đã nghẹt hơn hẳn lần trước.
    Rồi anh nhớ tới chiếc máy bộ đàm mà người lính gác để trên bàn, bên ngoài vòm kính. Sao lúc ấy mình không mang luôn vào đây chơ xong! Hai mắt đã bắt đầu hoa lên Langdon cố tập trung suy nghĩ. Trước đây mình đã từng bị gài bẫy, anh tự nhủ. Tình thế hồi đó tồi tệ hơn nhiều, mình đã thoát được ra dù mới chỉ là một thằng bé con. Bóng đêm đen kịt như muốn nuốt chửng tất thảy. Nghĩ đi!
    Langdon nằm xuống sàn nhà, duỗi hai tay dọc theo mạng sườn rồi thu chân lại. Việc trước tiên phải làm là lấy lại bình tĩnh.
    Thư giãn nào. Bình tĩnh lại.
    Không còn phải bơm máu ngược hướng tác động của trọng lực nhịp tim của Langdon bắt đầu chậm lại. Những vận động viên bơi lội vẫn thường làm thế này để bổ sung dưỡng khí cho cơ thể trong những phút giải lao ngắn ngủi giữa các đợt đua.
    Trong vòm vẫn còn rất nhiều không khí, anh tự nhủ. Nhiều lắm. Suy nghĩ đi. Langdon chờ đợi, biết đâu những bóng đèn điện này sắp sửa sáng lên trong chốc lát nữa. Vẫn thế. Trong tư thế cuộn người như vậy Langdon thấy dễ thở hơn, và trạng thái cam chịu kỳ lạ chợt xuất hiện. Anh thấy bình an trong lòng. Nhưng Langdon không chấp nhận trạng thái ấy.
    Khỉ thật, mình phải cố gắng lên chứ. Nhung mà…
    Trên cổ tay Langdon, chú chuột Mickey sung sướng toả sáng như thể đang thưởng thức thứ bóng tối mịt mùng ở nơi này: 9 giờ 33 phút tối. Nửa giờ nữa là đến Lửa. Lúc này 30 phút đó dường như dài dằng dặc. Thay vì tìm cách thoát ra ngoài, tâm trí anh đang đòi hỏi một lời giải thích. Kẻ nào đã ngắt điện? Liệu có phải là Rocher đang mở rộng diện tìm kiếm? Chẳng lẽ Olivetti không báo cho Rocher biết trước là mình đang ở trong này? Dù sao thì lúc này điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì đáng kể.
    Ngửa đầu ra sau, miệng mở thật rộng, Langdon hít thở thật sâu. Sau mỗi nhịp thở cảm giác mệt mỏi giảm đi đáng kể. Đầu óc minh mẫn ra. Anh tập trung toàn bộ tinh lực, cố vắt óc suy nghi.
    Tường kính, Langdon thầm nghĩ. Nhưng loại kính này dày kinh khủng. Không hiểu có cuốn sách nào ở đây được lưu trữ trong các hộp kim loại chống cháy không. Thỉnh thoảng anh vẫn thấy những cái hộp kiểu đó trong các vòm lưu trữ, nhưng trong vòm này thì chưa nhìn thấy cái nào. Thêm vào đó, tìm kiếm trong bóng tối sẽ rất tốn thời gian. Mà có thấy thì anh cũng không thể một mình nhấc được lên, đặc biệt là trong điều kiện này.
    Còn cái bàn để kiểm tra tài liệu thì sao? Langdon biết, cũng giống như các vòm khác, ở giữa các giá sách của vòm kính này có một cái bàn. Thế thì sao? Anh cũng không thể một mình nhấc cả cái bàn lên. Mà nếu có cố kéo lê thì cũng chẳng được bao xa. Các kệ sách ở đây được kê rất sát nhau, và lối đi quá hẹp.
    Lối đi quá hẹp…
    Bất giác, Langdon biết phải làm gì.
    Chợt cảm thấy dầy tự tin, anh đứng phắt dậy. Đầu óc chao đảo Langdon chới với trong bóng đêm để tìm chỗ dựa. Tay anh quờ được một cái kệ. Kiên nhẫn đợi trong giây lát, anh tự nhắc mình phải cẩn trọng. Cần phải tận dụng toàn bộ sức lực thì mới được việc Ý như một cầu thủ bóng đá đang chống vào thanh trượt để tập luyện, Langdon chống tay vào cái kệ, chân choãi ra, và đẩy. Đẩy được cho cái kệ này nghiêng đi thì tốt. Nhưng kệ sách chẳng hề lay chuyển. Anh lấy lại tư thế, thử đẩy lại một lần nữa, hai chân Langdon trượt về phía sau. Cái kệ kêu kẽo kẹt, nhưng vẫn không nhúc nhích.
    Cần phải có đòn bẩy.
    Lại dùng tay sờ soạng tìm bức tường kính để dò đường, Langdon tiến về phía đầu kia vòm kính. Bức tường cuối thình lình hiện ra, Langdon đâm sầm vào đó khiến vai anh đau điếng.
    Lắm bầm nguyền rủa, Langdon bám vào một cái kệ cao đến ngang đầu. Một chân đạp vào bức tường kính sau lưng, một chân giẫm lên tầng thấp của cái kệ, anh bắt đầu trèo lên. Sách rơi tứ tung. Langdon chẳng cần biết. Bản năng sinh tồn trong anh lúc này đã hoàn toàn chế ngự ý thức bảo vệ các tài liệu lưu trữ. Cảm thấy bóng tối dày đặc bắt đầu khiến mình mất thăng bằng, Langdon nhắm mắt lại, cố tập trung sự chú ý vào các giác quan khác và trèo nhanh hơn. Càng lên cao càng có ít không khí để thở Anh đu người lên tầng sách trên, giẫm bừa lên sách vở, cố tìm điểm tựa cho bàn chân. Rồi y như một vận động viên leo núi vừa chinh phục được đỉnh cao, Langdon đu được vào tầng sách cao nhất. Anh soài tầng chân rả sau, đạp vào bức tường kính để leo lên, cho đến khi toàn thân gần như thành một đường ngang.
    Giây phút quyết định định đây, Robert. Lời nhấc nhở vang lên trong tâm trí anh. Y như động tác xuống tân ở phòng tập của trường Harvard đấy nhé.
    Thu hết sức bình sinh, Langdon đạp chân vào tường làm điểm tựa, gồng hai tay, đẩy cái kệ về phía trước. Không được.
    Hổn hển, anh lấy lại tư thế, lần này choãi chân rộng thêm ra, rồi lại đẩy. Cái kệ xê dịch chút đỉnh, anh tiếp tục đẩy. Cái kệ chúi về phía trước được khoảng gần hai phân, rồi lại ngả trở lại tư thế ban đầu. Tận dụng thời điểm thuận lợi này, Langdon hít thật sâu và tiếp tục đẩy Cái kệ lắc lư mạnh thêm.
    Giống như xích đu của trẻ con ấy mà, anh tự nhủ. Phải tận dụng nhịp đung đưa của nó. Một chút nữa thôi.
    Langdon đẩy cái kệ, mỗi lần lại cố gắng choãi chân ra thêm.
    Cơ bắp đau rát, nhưng anh mặc kệ. Cái kệ giờ đã lắc qua lắc lại như con lắc đồng hố. Ba lần đẩy nữa thôi, anh tự động viên mình.
    Nhưng thực ra chỉ cần có hai lần.
    Có một khoảnh khắc chòng chành không trọng lượng, sau đó sách vở rơi tứ tung, Langdon và cá kệ đổ về đằng trước.
    Cái kệ đang đổ đập mạnh vào kệ kế tiếp. Langdon vẫn bám thật chặt, dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể xuống để khiến cho kệ tiếp theo cũng đổ theo. Có một tích tắc hãi hùng bất động, rồi không chịu được sức nặng của kệ thứ nhất, kệ thứ hai cũng bắt đầu đổ về đằng trước. Langdon lại tiếp tục ngã cùng với cái kệ.
    Như những quân cờ đô-mi-nô khổng lồ, các kệ sách lần lượt để nhào Kim loại nghiến vào kim loại, sách bắn tung tóe khắp mọi nơi. Langdon bám thật chặt khi chiếc kệ vẫn tiếp tục đổ xuống cùng với các kệ khác. Không hiểu có bao nhiêu kệ sách tất cả. Bức tường kính ở đằng kia dày kinh khủng…
    Khi cái kệ mà Langdon đang bám vào gắn như đã nằm ngang hẳn ra thì anh nghe thấy thứ âm thanh đang mong đợi - một sự va chạm khác. Tít đằng xa, phía cuối vòm kính. Tiếng rít của kim loại quất vào kính. Toàn bộ vòm kình rung chuyển. Cái kệ cuối cùng, dưới sức nặng của những kệ khác, đã đập rất mạnh vào bức tường kính. Nhưng âm thanh tiếp theo đó lại không phải là điều anh mong đợi.
    Im lặng.
    Không có tiếng loảng xoảng của kính vỡ, chỉ có một tiếng phịch dội lại, như thể bức tường đã lặng lẽ đón toàn bộ sức nặng của cả dãy kệ. Nằm trên đống sách, Langdon trợn tròn mắt. Đâu đó phía xa vang lên tiếng kính nứt. Giá kể còn không khí mà thở thì Langdon cũng không dám thở, anh căng tai lắng nghe.
    Một giây. Hai…
    Rồi đúng vào lúc mà anh bắt đầu thấy đầu óc mụ đi, Langdon nghe thấy một loại âm thanh mới… một vết nứt đang lan dài khắp vòm kính. Rồi đột nhiên, toàn bộ vòm kính nổ tung như một quả đạn pháo. Cái kệ anh đang bám vào đổ sập xuống nền nhà.
    Như trận mưa mát lành đổ ào xuống hoang mạc khô cằn, vô số mảnh kính vỡ rơi tung tóe khắp nơi trong bóng tối. Không khí ùa mạnh vào.
    ***
    Sau đó 30 giây, tại khu hầm mộ của Vatican, Vittoria đang đứng trước thi thể của cố Giáo hoàng thì tiếng khọt khẹt của máy bộ đàm phá vỡ bầu không khí tĩnh mịch. Tiếng người nói vội vàng như sắp hụt hơi đến nơi.
    - Tôi là Robert Langdon đây. Có ai nghe thấy không?
    Vittoria ngẩng lên. Robert! Bỗng nhiên cô ao ước có anh ở bên biết chừng nào.
    Những người lính gác Thuỵ Sĩ bối rối nhìn nhau. Một người gỡ chiếc máy giắt ở thắt lưng ra.
    - Ông Langdon đấy à? Đây là kênh số 3 rồi. Chỉ huy đang đợi tin của ông ở kênh 1 cơ.
    - Tôi biết ông ấy ở kênh 1. Tệ thật, tôi không muốn nói chuyện với ông ta. Tôi muốn gặp Giáo chủ Thị thần. Ngay bây giờ! Có ai biết Đức cha đang ở đâu không?
    Trong bóng tối mịt mùng bao phủ Nhà mái vòm bí mật của Vatican, Langdon đứng giữa đống đổ nát và thở hổn hển. Cảm thấy một dòng chất lỏng âm ấm trên cánh tay trái, anh biết mình đã bị chảy máu. Giọng nói của Giáo chủ Thị thần vang lên gần như tức thì khiến Langdon giật mình.
    - Ta là Giáo chủ Thị thần Ventresca đây. Có chuyện gì thế?
    Langdon nhấn nút, tim anh đang đập như trống trận trong ***g ngực.
    - Hình như có kẻ muốn sát hại tôi.
    Đường dây im lặng.
    Langdon cố giữ bình tĩnh.
    - Và tôi cũng đã biết địa điểm hành quyết tiếp theo.
    Những lời nói vang lên ngay sau đó không còn là của Giáo chủ Thị thần nữa. Đó chính là chỉ huy Olivetti:
    - Ông Langdon, đừng nói thêm gì nữa.


    Chương 87

    Langdon băng qua khoảng sân Belvedere, hướng tới đài phun nước trước cửa trụ sở của đội lính gác Thuỵ Sĩ, đồng hồ Mickey trên cổ tay anh dính đầy máu, đã 9 giờ 41 phút. Máu đã ngừng chảy, nhưng cánh tay anh giờ nhức nhối hơn nhiều. Đến nơi, anh thấy dường như tất cả những người khác cũng vừa mới đồng loạt tụ về Olivetti, Rocher, Giáo chủ Thị thần, Vittoria và mấy người lính Thuỵ Sĩ.
    Vittoria chạy ngay đến bên Langdon.
    - Robert! Anh bị thương rồi này!
    Langdon chưa kịp nói câu gì thì đã thấy Olivetti đứng ngay trước mặt.
    - Ông Langdon, thấy ông vẫn an toàn thế này tôi nhẹ cả người. Tôi xin lỗi vì sự nhầm lẫn trong Nhà mái vòm bí mật.
    - Nhầm lẫn là thế nào? - Langdon chất vấn. - Ông biết quá rõ là…
    - Đó chính là lỗi của tôi. - Rocher bước lại, tỏ vẻ hối hận. - Tôi không hề biết ông đang ở trong phòng lưu trữ. Một số địa điểm thuộc khu vực trắng chung đường điện với toà nhà đó. Chúng tôi đã mở rộng khu vực tìm kiếm. Chính tôi đã dập cầu dao điện. Nếu mà biết trước thì tôi đã…
    - Robert, Đức Thánh Cha đã bị đầu độc. - Vittoria cầm bàn tay bị thương của anh. - Hội Illuminati đã ám hại người.
    Langdon nghe thấy, nhưng hầu như không hiểu gì. Quá nhiều sự kiện. Anh chỉ cảm thấy bàn tay Vittoria thật êm ái dễ chịu.
    Giáo chủ Thị thần rút từ trong ống tay áo thầy tu ra một chiếc khăn tay lụa và đưa cho Langdon. Ngài không nói gì. Nhưng ánh mắt rực lên một ngọn lửa mới mẻ.
    - Robert này, anh nói là đã xác định được địa điểm tiếp theo rồi phải không? - Vittoria hỏi.
    Langdon thấy như đang bay:
    - Đúng thế. Đó chính là…
    - Đừng. - Olivetti ngắt lời. - Ông Langdon, có một lý do khiến tôi bảo ông đừng nêu lên địa điểm đó trên máy bộ đàm. - Ông ta quay lại mấy người lính gác Thuỵ Sĩ đang có mặt trong phòng. - Phiền các anh ra ngoài hộ một chút.
    Những người lính rút hết sang trung tâm an ninh bên cạnh. Không một ai tỏ ra tự ái. Chỉ có sự phục tùng.
    Olivetti quay lại với những người trong phòng.
    - Tôi rất đau lòng khi phải nói ra điều này, nhưng để ám sát Đức Thánh Cha, kẻ xấu dứt khoát phải thông đồng với một kẻ nào đó trong hàng ngũ của chúng ta. Vì đại cục, chúng ta không thể tin tưởng bất kỳ người nào. Kể cả những người lính của tôi. - Dường như ông ta rất đau lỏng khi phải nói ra những lời cuối cùng ấy.
    Rocher có vẻ lo lắng:
    - Có sự câu kết tức là…
    - Đúng thế! - Olivetti đáp. - Hiệu quả của việc dò tìm cũng không thể đảm bảo được. Tuy nhiên chúng ta phải chấp nhận canh bạc này. Cứ tìm tiếp đi.
    Dường như Rocher định nói gì đó, nhưng lại thôi. Ông ta đi ra ngoài.
    Giáo chủ Thị thần hít một hơi thật sâu. Ngài không nói gì, nhưng Langdon cảm thấy trong con người này có một quyết tâm sắt đá dường như thời điểm có tính quyết định đã đến.
    - Ông chỉ huy này. - Giáo chủ Thị thần tỏ ra quyết đoán. - Ta sẽ tuyên bố hoãn Mật nghị Hồng y.
    Olivetti bĩu môi, có vẻ không đồng tình:
    - Con nghĩ rằng cha không nên làm thế. Chúng ta vẫn còn những 2 giờ 20 phút nữa.
    - Loáng một cái là hết.
    Giọng nói của Olivetti đầy thách thức:
    - Thế cha định một mình sơ tán toàn bộ Hồng y đoàn hay sao?
    - Ta sẽ làm mọi việc có thể để cứu lấy Giáo hội. Còn cách thức thế nào thi không cần ông phải quan tâm.
    Olivetti đứng thẳng người lên:
    - Dù cha có định làm gì thì con cũng không có quyền ngăn cản. - Ông ta ngừng giây lát. - Đặc biệt là sau thất bại này, trên cương vị chỉ huy đội lính gác Thuỵ Sĩ, con chỉ xin cha hãy kiên nhẫn thêm chút nữa. Cha hãy đợi thêm 20 phút… đợi đến sau 10 giờ. Nếu thông tin của ông Langdon chính xác thì chúng ta có cơ hội bắt sống được hung thủ. Tức là vẫn còn cơ hội để không phải phá vỡ truyền thống và giữ gìn sự tôn nghiêm cho Giáo hội.
    - Tôn nghiêm ư? - Giáo chủ Thị thần cười khẩy. - Chúng ta đã mất cái đó từ lâu rồi ông chỉ huy ạ. Có lẽ ông vẫn chưa chịu nhận ra, chúng ta đang trong tình trạng chiến tranh mất rồi.
    Một người lính từ trung tâm an ninh bước vào phòng, lên tiếng gọi Giáo chủ Thị thần:
    - Thưa cha, có tin báo chúng ta đã bắt giữ được người phóng viên BBC đó, anh ta tên là Gunther Glick.
    Giáo chủ Thị thần gật đầu:
    - Bảo cả anh ta lẫn người kỹ thuật viên camera đợi ta ở cửa nhà nguyện Sistine.
    Olivetti trợn tròn mắt:
    - Cha định làm gì thế?
    - 20 phút thôi đấy, ông chỉ huy ạ! - Vị thầy tu trẻ tuổi bước ra ngoài.
    Lần này, khi chiếc xe Alfa Romeo của Olivetti lao ra khỏi thành Vatican, không thấy có chiếc xe lạ nào bám theo sau. Trên băng ghế sau, Vittoria đang dùng những thứ tìm được trong một cái túi cứu thương để băng tay cho Langdon.
    Mắt Olivetti vẫn nhìn thẳng về phía trước:
    - Được rồi, ông Langdon, giờ chúng ta đi đâu?

    Chương 88

    Dù còi báo động rú ầm ĩ, chiếc xe Alfa Romeo của Olivetti vẫn chẳng khiến mọi người để ý. Họ đang qua cầu và lao thẳng vào trung tâm thành Rome. Tất cả các xe cộ trên đường đều đi theo hướng ngược lại, hướng về Vatican. Dường như vùng đất thiêng này vừa trở thành địa điểm giải trí số một của Rome.
    Langdon ngồi ở băng ghế sau, với vô số câu hỏi trong đầu, anh nghĩ đến hung thủ, không hiểu lần này có bắt được hắn không, liệu hắn có chịu khai ra những gì họ muốn biết hay không, hay là đã quá muộn mất rồi. Không hiểu Giáo chủ Thị thần đã công bố cho đám đông tụ tập trên quảng trưởng St. Peter biết hiểm hoạ này được bao lâu rồi. Sự kiện mới đây trong Nhà mái vòm bí mật vẫn ám ảnh tâm trí anh. Do sơ ý.
    Không một lần đạp phanh, Olivetti cho xe lạng lách giữa dòng xe cộ, hướng về thánh đường Santa Maria Della Vittoria. Nếu là vào một thời điểm khác thì anh chắc hẳn đã sợ tái mặt. Nhưng lúc này, Langdon đã trở nên hoàn toàn vô cảm. Chỉ duy nhất cảm giác giật giật ở cánh tay nhắc anh nhớ đến thực tại.
    Trên đầu họ, còi xe hú vang. Báo cho hắn biết ta đang đến thì còn nước non gì, Langdon thầm nghĩ. Nhưng quả là họ đang đi với tốc độ đáng kinh ngạc. Chắc là gần đến nơi thì Olivetti mới tắt còi đi.
    Giờ đây, trong giây phút yên tĩnh, Langdon mới cảm thấy kinh ngạc về việc Giáo hoàng bị đầu độc. Không thể tin nổi, nhưng lại cũng rất hợp lôgíc. Nội gián trong lòng kẻ địch vốn là nền tảng sức mạnh của Illuminati - phá hoại từ bên trong. Và khó có thể kháng định chắc chắn rằng không bao giờ có chuyện Giáo hoàng bị sát hại. Đã từng có vô số tin đồn về những hành động phản trắc, dù không ai có thể khẳng định bất kỳ điều gì, vì không được phép khám nghiệm tử thi. Cho tới gần đây, các nhà khoa học đã được phép dùng tia X để xem xét lăng mộ của Giáo hoàng Celestine V. Theo lời đồn thì ngài đã chết trong tay người kế nhiệm quá sốt sắng của chính mình, Boniface VIII. Họ hi vọng những tấm phim chụp X quang sẽ cho thấy một vài dấu vết của sự bạo hành - chẳng hạn như một cái xương bị gãy. Nhưng rồi phim chụp lại cho thấy cả một cái đinh dài 20 cm đã bị đóng vào hộp sọ của Giáo hoàng, thật kinh hãi.
    Langdon nhớ đến hàng loạt bài báo mà những sinh viên say mê đề tài Illuminati đã gửi cho anh. Lúc đầu anh nghĩ những bài báo đó chỉ là trò nghịch ngợm, nên đã vào kho lưu trữ của trường Harvard để xác minh lại. Thật đáng kinh ngạc, tất cả đều rất xác thực. Anh vẫn dán những bài báo đó trên bảng tin trong văn phòng của mình, để chứng minh rằng những hãng tin lớn dôi khi cũng hoang tưởng về Illuminati. Lúc này thì những nghi ngờ đó chẳng còn là hoang tưởng nữa rồi. Langdon vẫn nhớ rõ như in những bài báo ấy…
    CÔNG TY PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH ANH QUỐC
    Ngày 14 tháng 6 lăm 1998
    Giáo hoàng John Paul I, tạ thế năm 1978, chính là nạn nhân của một chi nhánh của hội Tam Điểm có tên là P2… Hội kín này đã sát hại ngài khi John Paul I quyết định buộc Tổng Giám mục người Mỹ Paul Macrinkus thôi giữ chức Giám đốc Ngân hàng Vatican. Ngân hàng này bị cáo buộc có dính líu đến những hoạt động tài chính mờ ám của hội Tam Điểm.
    THỜI BÁO NEW YORK
    Ngày 24 tháng 8 trăm 1998
    Tại sao cố Giáo hoàng John Paul I lại mặc áo sơ mi khi đi ngủ? Tại sao chiếc áo bị xé toạc? Chưa hết. Không có bất kỳ một cuộc điều tra nào. Hồng y Villot cấm chỉ việc khám nghiệm tử thi với lý do là luật thánh không cho phép khám nghiệm tử thi đối với Giáo hoàng. Và tất cả thuốc men của John Paul I đều bị lấy đi khỏi phòng ngủ của ngài, cả kính, dép lê, và di nguyện của ngài cũng vậy.
    THƯ TÍN HÀNG NGÀY LONDON
    Ngày 27 tháng 8 năm 1998
    Một âm mưu. Cái vòi bạch tuộc của hội Tam Điểm hùng mạnh, dã man và bất hợp pháp đã vươn vào tận bên trong Vatican.
    Điện thoại cầm tay của Vittoria chợt đổ chuông, giải thoát Langdon khỏi những ý tưởng đáng sợ.
    Vittoria trả lời máy, cô gái có vẻ ngạc nhiên vì có người gọi cho mình vào lúc này. Từ xa, Langdon nhận ra ngay giọng nói lạnh lẽo của Maximilian Kohler.
    - Vittoria à? Maximilian Kohler đây. Đã tìm được hộp phản vật chất chưa?
    - Max à? Ông có khỏe không?
    - Tôi đã xem tin tức trên truyền hình. Không ai nhắc gì đến CERN và hộp phản vật chất. Tốt lắm. Có chuyện gì thế?
    - Chúng tôi vẫn chưa tìm thấy hộp phản vật chất. Tình hình rất phức tạp. Robert Langdon làm việc vô cùng hiệu quả. Chúng tôi đang lần theo tung tích của kẻ đã sát hại Hồng y Giáo chủ. Bây giờ chúng tôi đang đi đến…
    - Cô Vetra. - Olivetti ngắt lời cô gái. - Nói thế thôi.
    Vittoria lấy tay che ống nói, vẻ bực bội.
    - Ông ấy là giám đốc của CERN. Ông ấy có quyền được biết…
    - Nếu thế thì bảo ông ấy đến đây mà giải quyết vụ việc này đi -Olivetti lại chen ngang. - Cô đang sử dụng kênh liên lạc thông thường. Nói thế đủ rồi.
    Vittoria hít một hơi thật sâu:
    - Max?
    - Tôi có thông tin cho cô đây. - Max nói - Liên quan đến cha cô hình như ông ấy đã tiết lộ thông tin về phản vật chất cho một người nào đó.
    Vittoria buồn buồn:
    - Max, cha tôi nói là ông ấy không hề kể với bất kỳ ai.
    Vittoria này, tôi e là cha cô có kể đấy. Tôi phải kiểm tra lại các dữ liệu an ninh đã. Tôi sẽ sớm gọi lại cho cô.
    Cuộc gọi bị ngắt.
    Trông Vittoria bỗng xanh xao hẳn đi, cô gái cất điện thoại vào túi ao.
    - Cô không sao chứ? - Langdon hỏi.
    Vittoria gật đầu, nhưng những ngón tay đang run lên, chứng tỏ đó chỉ là lời nói dối.
    - Nhà thờ này nằm ngay gần quảng trường Barberini. - Olivetti vừa nói vừa tắt còi hú và kiểm tra đồng hồ đeo tay. - Còn 9 phút nữa.
    Lúc mới xác định được địa điểm thứ ba này, vị trí của thánh đường đã khiến anh phải suy nghĩ. Quảng trường Barberini. Cái tên này nghe quen quá… nhưng sao anh chẳng nhớ ra điều gì. Giờ thì Langdon đã hiểu ra. Người ta đã tranh cãi rất nhiều về việc xây dựng một nhà ga xe điện ngầm dưới quảng trường này. Cách đây 20 năm, các nhà sử học đã tỏ ra lo lắng rằng việc xây dựng nhà ga xe điện ngầm bên dưới quảng trường có thể khiến cho Kim tự tháp đá đặt giữa quảng trường bị đổ. Và các chuyên gia quy hoạch đô thị đã cho thay Kim tự tháp đó bằng một cái đài phun nước được đặt tên là Triton.
    Vào thời của Bernini, quảng trường Barberini đã từng có một Kim tự tháp bằng đá nguyên khối, lúc này thì Langdon đã nhớ ra điều đó. Tất cả những băn khoăn trong lòng anh về địa điểm thứ ba này lập tức biến mất.
    Cách quảng trường một toà nhà, Olivetti cho xe rẽ vào một lối nhỏ, rồi dừng phắt lại giữa phố. Ông ta bỏ áo khoác ra, xắn tay áo lên, kiểm tra lại vũ khí trên người.
    - Chúng ta phải thận trọng đề phòng bị hắn nhận ra. - Ông ta nói - Các vị đã lộ diện trên truyền hình, nên bây giờ xin hãy vòng qua bên kia quảng trường cho kín đáo, và quan sát lối vào đằng trước. Tôi sẽ ra đằng sau. - Ông ta rút ra khẩu súng lục bán tự động lúc trước và đưa cho Langdon. - Chỉ để đế phòng thôi mà.
    Langdon nhíu mày. Lần thứ hai trong ngày, anh lại phải cầm súng. Langdon tuồn khẩu súng vào túi áo khoác ngực, và chợt nhớ ra trang bản thảo của cuốn Diagramma vẫn còn trong túi áo.
    Hoá ra anh đã quên không trả nó lại chỗ cũ. Chắc chắn người phụ trách phòng lưu trữ của Vatican sẽ tức điên người khi biết rằng một trang của cuốn sách vô giá ấy đã bị tha đi khắp thành Rome, chẳng khác gì một tấm bản đồ du lịch tầm thường. Rồi anh nghĩ đến đống đổ nát hoang làn trong Nhà mái vòm bí mật.
    Người phụ trách còn có khối việc để mà bận tâm. Mà chắc gì Nhà mái vòm đã tồn tại được qua đêm nay…
    Olivetti ra khỏi xe và chỉ tay xuống đầu phố.
    - Quảng trường ở đằng kia. Các vị phải quan sát cho kỹ, đừng để hắn phát hiện được. - Ông ta đập đập vào chiếc máy bộ đàm gài ngang thắt lưng - Cô Vetra, kiểm tra lại một lần đã nào.
    Vittoria rút điện thoại cầm tay trong túi ra và ấn nút gọi tự động đã cài sẵn lúc ở điện Pantheon. Máy bộ đàm trên thắt lưng của Olivetti lập tức rung.
    Ông chỉ huy gật đầu:
    - Tốt lắm. Nếu thấy bất kỳ hiện tượng gì thì báo cho tôi ngay. - Ông ta vung vẩy khẩu súng - Tôi sẽ đợi sẵn trong nhà thờ. Kẻ tà giáo này không thể thoát được.
    Cũng đúng lúc ấy, ngay sát họ, một chiếc điện thoại cầm tay khác cũng đang đổ chuông Tên sát thủ nghe máy:
    - Nói đi.
    - Ta, Janus đây. - Một giọng nói vang lên.
    Tên sát thủ mỉm cười:
    - Xin chào chỉ huy.
    - Anh có thể bị phát hiện. Có người đang đến đó để lùng tìm.
    - Quá muộn mất rồi. Tôi đã chuẩn bị xong.
    - Tốt lắm. Nhớ là phải thoát ra an toàn. Còn nhiều việc cần làm lắm.
    - Kẻ nào dám cả gan cản đường tôi thì sẽ phải chết.
    - Những kẻ đang cản đường anh đều rất hiểu biết đấy.
    - Ngài muốn nói đến gã giảng viên đại học người Mỹ phải không?
    - Anh biết ông ta à?
    Tên sát thủ cười lớn.
    - Điềm tĩnh, nhưng ngây ngô. Tôi đã nói chuyện với gã trên điện thoại rồi. Nhưng cô gái đi cùng với ông ta thì có vẻ ngược lại hoàn toàn. - Nghĩ đến tính cách sôi nổi của cô con gái nuôi của Leonardo Vetra, hắn chợt thấy tim đập mạnh.
    Đường dây im lặng giây lát, và hình như tên sát thủ đã cảm nhận được sự do dự đầu tiên của người chỉ huy hội Illuminati.
    Cuối cùng, Janus lên tiếng:
    - Nếu cần thì phải loại bỏ cả hai.
    Tên sát thủ cười mỉm:
    - Chuyện đó coi như xong. - Chỉ nghĩ đến cảnh tượng đó, hắn đã thấy sung sướng vô cùng. Nhưng con bé kia thì ta sẽ giữ lại làm chiến lợi phẩm.
    thay đổi nội dung bởi: Fang [(], 18-01-2009 lúc 09:18 AM Lý do: Automerged Doublepost

  8. #18
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 89

    Một cuộc chiến đang nổ ra trên quảng trường St. Peter.
    Quảng trường yên tĩnh bỗng chốc trở thành một bãi chiến trường. Xe hòm của các hãng tin kéo đến, y như những cỗ xe trên mặt trận đang đua nhau giành lấy những vị trí thuận lợi đằng sau công sự. Các phóng viên dọn đồ nghề từ trên thùng xe xuống, hệt như những người lính đang chuẩn bị súng ống đạn được. Quanh quảng trường, các hãng tin đua nhau xí chỗ để đặt loại vũ khí tối tân của họ trong cuộc chiến truyền thông này - các màn hình phẳng.
    Màn hình phẳng được đặt trên nóc xe tải hoặc trên một giàn giáo di động. Chúng hiển thị lô-gô của hãng tin, và chủ yếu thực hiện chức năng quảng cáo cho hãng. Nếu chọn được vị trí đắc địa, ví dụ như ngay trước địa điểm xảy ra sự kiện chẳng hạn, thì các hãng tin khác sẽ bị buộc phải quảng bá cho đối thủ đang cạnh tranh với họ khi đưa tin về sự kiện đó.
    Quảng trường nhanh chóng biến thành nơi tụ họp của các hãng tin, và của cả đám đông dân chúng. Những người hiểu kỳ từ khắp nơi nườm nượp đổ về. Trên quảng trường vốn rộng mênh mông này, chỗ trống nhanh chóng biến thành của quý. Người ta xúm đen xúm đỏ quanh các màn hình phẳng được đặt trên cao, háo hức xem các bản tin được phát đi trực tiếp.
    Cách đó khoảng 100 mét, bên trong những bức tường đá của thánh đường St. Peter, bầu không khí vẫn hoàn toàn tĩnh mịch.
    Thiếu uý Chartrand và ba người lính gác Thuỵ Sĩ khác đang di chuyển trong bóng tối. Tay cầm dụng cụ, mắt đeo kính hồng ngoại, họ vừa rà soát xong gian đại sảnh. Cho đến lúc này, nỗ lực rà soát các khu vực công cộng trong thành Vatican vẫn chưa mang lại kết quả.
    - Đến đây thì tốt nhất là tháo kính ra. - Người chỉ huy của nhóm lên tiếng.
    Chartrand lập tức làm theo. Họ đã tiến gần đến hốc Palliums - hốc lõm ở ngay giữa chính điện. Lúc nào cũng có 99 ngọn đèn dầu toả sáng trong hốc, và cặp kính khuếch đại ánh sáng này rất có thể thiêu cháy cặp mắt của họ.
    Cảm thấy nhẹ nhõm sau khi gỡ bỏ cặp kính nặng nề, Chartrand vươn cổ mấy lần, rồi bước xuống và bắt đầu rà soát dưới hốc. Căn phòng quả là đẹp… lộng lẫy và toả sáng. Đây là lần đầu tiên anh có mặt ở căn phòng này.
    Làm việc ở Vatican, dường như ngày nào anh cũng phát hiện thêm được một vài chi tiết bí ẩn. Những ngọn đèn này là một trong những chi tiết ấy. Lúc nào cũng có chính xác 99 ngọn đèn toả sáng. Đó là một truyền thống. Chúng luôn được tiếp dầu đầy đủ và không bao giờ tắt. Mọi người nói rằng những ngọn đèn này sẽ cháy đến tận cùng của thời gian.
    Hay ít ra thì cũng đến nửa đêm hôm nay, Chartrand thầm nghĩ, cảm thấy miệng lại khô đắng.
    Chartrand vung thiết bị rà soát lên trên những cây đèn. Không thấy gì. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, theo như hình ảnh trên màn hình an ninh thì cái hộp được đặt ở một cái hốc tối om.
    Trong khi rà soát bên trong hốc Palliums, Chartrand tình cờ thấy một tấm vách ngăn đặt trên một cái hố lớn trên sàn. Cái hố này lại dẫn đến một cầu thang hẹp hướng thẳng xuống dưới. Anh đã nghe mọi người nói về cái hang này. May mắn là không cần phải xuống đó để rà soát. Mệnh lệnh của Rocher rất rõ ràng. Chỉ rà soát những nơi công cộng bỏ qua khu vực trắng.
    - Mùi gì thế nhỉ? - Chartrand thắc mắc. Cái hốc này sực nức một mùi hương rất ngọt ngào.
    - Từ những cây đèn kia toả ra đấy. - Một người lính trả lời.
    Chartrand ngạc nhiên:
    - Giống mùi nước hoa thế, chẳng giống mùi dầu hoả tí nào.
    - Không phải dầu hoả đâu. Những cây đèn này ở rất gần bàn thờ Đức Thánh Cha, và một hỗn hợp gồm etanol, đường, butan và nước hoa được dùng thay cho dầu hoả.
    - Butan à? - Chartrand nhìn những cây đèn đầy cảnh giác.
    Người lính kia gật đầu.
    - Đừng có làm đổ đèn nhé. Thơm thì thơm thật, nhưng rất dễ cháy đấy.
    Rà soát xong hốc Palliums, toán lính gác Thuỵ Sĩ đang quay trở lên thì máy bộ đàm của họ nhận được tín hiệu.
    Là những tin tức cập nhật về tình hình. Tất cả đều lắng nghe.
    Rõ ràng là đã có những diễn biến mới phức tạp không thể nói trên máy bộ đàm được, nhưng Giáo chủ Thị thần đã quyết định phá vỡ truyền thống, ngài đã phát biểu trước Hồng y đoàn.
    Trong lịch sử Giáo hội, chưa bao giờ có sự kiện nào giống thế này. Và cũng trong toàn bộ lịch sử tồn tại của Giáo hội, chưa bao giờ Vatican bị đe doạ bởi một thứ vũ khí tối tân như lúc này.
    Biết rằng đã có Giáo chủ Thị thần lo lắng mọi việc nên Chartrand cảm thấy yên tâm. Trong toà thánh này, Giáo chủ Thị thần là người anh kính trọng nhất. Trong đội lính của anh, một số người cho rằng ngài thuộc kiểu người cuồng tín - kiểu người mà Chúa đối với họ là nỗi ám ảnh thay vì lòng kính yêu - nhưng tất cả đều phải thừa nhận rằng… nếu cần phải đấu tranh chống lại kẻ thù của Chúa, thì chắc chắn Giáo chủ Thị thần sẽ là chiến binh can trường nhất.
    Tuần vừa rồi, những người lính Thuỵ Sĩ thấy Giáo chủ Thị thần xuất hiện khá nhiều, ngài phải chuẩn bị cho Mật nghị Hồng y và ai cũng thấy rằng vị thầy tu trẻ tuổi này dường như trở nên mạnh mẽ hơn, cái nhìn của ngài có vẻ quyết liệt hơn. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bọn họ bàn luận, vì ngài không chỉ chịu trách nhiệm lên kế hoạch cho Mật nghị Hồng y, mà còn phải tiến hành công việc thiêng liêng ấy ngay sau cái chết của đức Giáo hoàng mà ngài hằng tôn thờ.
    Mới vào phụng sự tại toà thánh được mấy tháng Chartrand đã nghe kể rằng một quả bom đã lấy đi mạng sống của mẹ đẻ Giáo chủ Thị thần ngay trước mắt ngài, khi ngài mới là một cậu bé.
    Một quả bom phát nổ trong nhà thờ… và giờ đây sắp có một quả bom nữa. Điều đáng buồn là nhà chức trách không bắt được thủ phạm của vụ đánh bom đó, người ta tin rằng chắc chắn đó là một nhóm bài Thiên Chúa nào đó. Dần dần vụ việc chìm vào quên lãng. Chả trách Giáo chủ Thị thần rất ghét sự thờ ơ.
    Cách đây mấy tháng, vào một buổi chiều yên ả trong toà thánh, Chartrand đã tình cờ gặp Giáo chủ Thị thần trên đường đi.
    Biết Chartrand là lính mới, ngài đã rủ anh đi tản bộ. Hai người nói chuyện, và ngay lập tức, Chartrand thấy viên Thị thần này thật gần gũi.
    - Con hỏi cha một câu hơi lạ một chút được không ạ? - Chartrand nói.
    Giáo chủ Thị thần mỉm cười:
    - Được, nếu ta cũng có thể trả lời hơi lạ một chút.
    Chartrand cười phá lên:
    - Con đã hỏi tất cả những tu sĩ mà con biết, nhưng vẫn chưa thực sự hiểu thấu điều này.
    - Con băn khoăn về điều gì? - Giáo chủ Thị thần đi trước Chartrand một bước. Những bước chân nhanh nhẹn, và chiếc áo thầy tu bị hất về phía trước theo những bước chân. Đôi giày đế kếp của ngài thật phù hợp, Chartrand thầm nhận xét, hơi cũ một chút, nó thể hiện bản chất của con người này… hiện đại mà khiêm nhường.
    Chartrandhít một hơi thật sâu:
    - Con không hiểu thế nào là sự tuyệt đối - nhân đức.
    Giáo chủ Thị thần mỉm cười:
    - Con vẫn chịu khó đọc Kinh thánh phải không?
    - Vâng.
    - Thấy khó hiểu khi Kinh thánh miêu tả Chúa là vị thánh tuyệt đối và nhân đức phải không?
    - Đúng thế ạ.
    - Tuyệt đối và nhân đức nghĩa là Chúa có quyền năng tuyệt đối và nhân đức, đơn giản thế thôi.
    - Con hiểu khái niệm đó. Nhưng mà… con cảm thấy có sự mâu thuẫn.
    - Đúng thế. Sự mâu thuẫn đó chính là nỗi đau. Loài người phải trải qua đói khát, chiến tranh, bệnh tật…
    - Đúng thế đấy ạ. - Chartrand đã biết thế nào Giáo chủ Thị thần cũng sẽ hiểu anh. - Bao nhiêu điều kinh khủng xảy ra trên trái đất. Những bi kịch của con người dường như chứng minh rằng Chúa không thể nào vừa tuyệt đối vừa từ bi. Nếu Người yêu thương chúng ta và có quyền năng để thay đổi mọi thứ thì chắc chắn Người đã không để loài người phải chịu đau đớn, phải không ạ?
    Giáo chủ Thị thần nhíu mày:
    - Thật thế sao?
    Chartrand hơi lúng túng. Hay là anh đã đi quá đà? Phải chăng anh đã hỏi một câu không nên hỏi?
    - Ý con là… nếu Chúa yêu thương chúng ta thì Người phải bảo vệ chúng ta chứ. Có lẽ là Người tuyệt đối nhưng chẳng quan tâm, hoặc Người từ bi nhưng không đủ sức mạnh để cứu giúp loài người.
    - Trung sĩ này, con đã có con chưa?
    Chartrand bối rối:
    - Thưa cha, chưa ạ.
    - Chẳng hạn con có một đứa con trai 8 tuổi… liệu con có yêu thương thằng bé không?
    - Dĩ nhiên là có chứ ạ.
    - Liệu con có cho phép nó đi trượt pa-tanh không?
    Chartrand suy nghĩ. Giáo chủ Thị thần có vẻ là một tu sĩ khá nhạy cảm.
    - Vâng, chắc là có ạ. - Chartrand đáp. - Chắc chắn con sẽ cho phép nó, nhưng con sẽ dặn dò nó phải cẩn thận.
    Tức là trên cương vị của một người cha, con sẽ bảo ban nó những điều căn bản, rồi để cho nó tự học lấy đúng không nào?
    - Con sẽ không kè kè chạy theo nó từng bước một.
    - Thế nếu thằng bé bị ngã trầy đầu gối thì sao?
    - Thì nó sẽ tự học cách để không bị ngã nữa.
    Giáo chủ Thị thần mỉm cười:
    - Nghĩa là mặc dù con có khả năng can thiệp để bảo vệ cho thằng bé khỏi phải trải qua đau đớn, con vẫn muốn thể hiện tình yêu thương của mình bằng cách cho thằng bé tự mình học khôn phải không?
    - Tất nhiên. Vì phải có đau đớn mới thành người được. Ai cũng phải trải qua điều đó.
    Giáo chủ Thị thần gật đầu:
    - Con nói đúng rồi đấy.


    Chương 90


    Từ một con phố nhỏ tối tăm ở phía Tây, Langdon và Vittoria quan sát quảng trường Barberini. Nhà thờ đã ở ngay trước mặt họ, chóp mái của nó lờ mờ nhô lên từ sau những ngôi nhà chen chúc quanh quảng trường. Đêm đã mang lại cho nơi này một bầu không khí mát dịu, và Langdon ngạc nhiên thấy quảng trường không một bóng người. Những màn hình ti-vi toả sáng từ những ô cửa sổ trên đầu nhắc anh nhớ tới địa điểm mà tất cả mọi người đang đổ về trong đêm nay.
    "Vatican vẫn chưa đưa ra lời bình luận nào… Illuminati đã sát hại hai Hồng y Giáo chủ… quỷ dữ đang có mặt ở thành Rome… các nhà phân tích cho rằng chắc chắn có nội gián bên trong toà thánh…"
    Tin tức lan nhanh chẳng kém gì ngọn lửa của bạo chúa Neo. Thành Rome kinh ngạc, và cả thế giới cũng vậy. Không hiểu họ có thể chặn đoàn tàu tốc hành này lại không. Trong khi chờ đợi, Langdon đưa mắt quan sát quảng trường, và nhận thấy nó vẫn giữ được hình e-líp nguyên thuỷ, dù một số công trình xung quanh đã lấn vào khá nhiều. Trên cao, một ngọn đèn nê-ông chiếu sáng một khách sạn hạng sang, trông như một cái bàn thờ hiện đại để tưởng nhớ những anh hùng thời quá khứ. Vittoria đưa tay chỉ. Biển hiệu của khách sạn này thích hợp đến mức kỳ dị.
    KHÁCH SẠN BERNINI
    10 giờ kém 5 phút. Vittoria vừa nói vừa đưa mắt nhìn khắp quảng trường. Đúng lúc ấy, cô túm chặt lấy cánh tay Langdon và lôi anh vào một góc khuất. Vittoria chỉ tay về phía trung tâm quảng trường.
    Langdon nhìn theo hướng tay cô gái. Vừa trông thấy, cơ bắp trên người anh lập tức co cứng lại.
    Hai bóng đen vừa xuất hiện, ngay dưới bóng đèn đường, trước mặt họ. Cả hai đều mặc áo khoác, đầu đội mũ trùm màu đen, loại mũ truyền thống của những goá phụ theo Cơ đốc giáo.
    Langdon đoán rằng đây là hai người phụ nữ, nhưng tối thế này thì chẳng dám chắc bất cứ điều gì. Một người dường như đã có tuổi và đi lại một cách khó khăn, lưng còng xuống. Người kia to béo và ít tuổi hơn, đang dìu bà ta.
    - Đưa súng cho tôi. - Vittoria nói.
    - Không được…
    Nhanh như cắt, Vittoria đã thò tay vào túi anh và tự lấy ra. Lúc này khẩu súng đang lóe sáng trên tay cô gái. Rồi Vittoria đi vòng ra sau hai người kia, không một tiếng động, như thể gót chân cô không hề giẫm lên mặt đường trải sỏi. Thấy Vittoria bắt đầu tiến đến để đón lõng hai người kia từ phía sau, Langdon đờ ra. Rồi lầm bầm tự nguyền rủa bản thân, anh vội vàng bám theo cô.
    Hai người này đi rất chậm, và chỉ trong vòng nữa phút, Vittoria và Langdon đã ở sau lưng họ. Vittoria làm bộ khoanh tay trước ngực để giấu khẩu súng không lộ ra, nhưng chỉ một loáng là có thể sẵn sàng nhả đạn ngay được. Càng đến gần hai bóng đen kia, cô gái càng bước đi nhanh thoăn thoắt khiến Langdon phải vất vả lắm mới theo kịp. Anh đá phải một hòn sỏi làm nó văng tít ra xa, Vittoria liền quay sang, trừng mắt. Nhưng hai bóng đen kia dường như chẳng để ý gì cả. Họ đang nói chuyện.
    Còn cách họ khoảng 10 mét, Langdon bắt đầu nghe thấy tiếng nói. Không nghe rõ được từng từ, chỉ là những lời thầm thì khe khẽ. Ngay cạnh anh, Vittoria đang sải bước mỗi lúc một nhanh hơn. Hai cánh tay khoanh trước ngực đã bắt đầu lơi ra, sẵn sàng chĩa súng ngay lập tức. 6 mét. Những tiếng nói đã rõ hơn - một người nói to hơn hẳn. Giọng giận dữ, khàn khàn. Langdon cố lắng tai nghe xem bà ta đang nói gì, nhưng một giọng nói khác vang lên, phá tan bầu không khí tĩnh mịch.
    - Mi scusi!(1) - Giọng nói thân thiện của Vittoria như một ngọn đuốc xé tan màn đêm trên quảng trường.
    Thần kinh Langdon căng ra khi hai người kia quay lại. Vittoria vẫn phăm phăm tiến lên phía trước, thậm chí còn nhanh hơn ban nãy, như thể muốn đâm thẳng vào họ. Chắc chắn hai người này sẽ không kịp phản ứng. Langdon thấy hai chân mình đã dừng bước. Từ đằng sau, anh thấy hai cánh tay Vittoria nới lỏng hẳn ra, khẩu súng đung đưa phía trước. Rồi nhìn qua vai cô gái, anh trông thấy một khuôn mặt hiện ra dưới ánh đèn đường. Kinh hãi, Langdon nhao lên phía trước:
    - Vittoria, đừng!
    Nhưng Vittoria đã nhanh hơn anh một tích tắc. Như thể vô tình, hai cánh tay Vittoria khoanh trước ngực, không trông thấy khẩu súng đâu nữa, cô gái co vai lại y như một thiếu phụ trong sương đêm lạnh giá. Langdon loạng choạng, suýt nữa thì vấp vào hai người mặc áo choàng đen trước mặt.
    - Buona sera(2), Vittoria giật mình thốt lên, lùi ngay lại.
    Langdon thở phào nhẹ nhõm. Trước mặt họ, hai người phụ nữ đang quắc mắt nhìn. Một bà già đến nỗi gần như không đứng nổi. Bà thứ hai đang phải xốc nách bà ta. Cả hai đều cầm tràng hạt trên tay. Hình như Langdon và Vittoria đã làm họ bối rối.
    Vittoria mỉm cười, dù vẫn chưa hết run.
    - Nhà thờ Santa Maria Della Vittoria đâu ạ?
    Hai người đàn bà cùng giơ tay chỉ về phía toà nhà đồ sộ cạnh con dốc trước mặt. - E la!(3)
    - Glazie(4) - Langdon đáp lời. Anh đặt tay lên vai Vittoria và nhẹ nhàng kéo cô gái đi. Hoá ra họ vừa định tấn công hai bà già.
    - Non Si puo entrare(5) - một trong hai bà già nói - Ha chiuso presto(6)
    - Đóng cửa sớm ạ? - Vittoria ngạc nhiên. - Tại sao thế?
    Cả hai người kia nhiệt tình giải thích mọi chuyện. Họ có vẻ giận dữ. Langdon chỉ hiểu bập bõm thứ tiếng Ý làu bàu của hai bà già này. Cách đây 15 phút, hai bà này đã đến nhà thờ để cầu nguyện cho Vatican, và một người đàn ông đến nói với họ rằng nhà thờ phải đóng cửa sớm.
    - Hai bác có biết người đó không? - Vittoria hỏi với vẻ căng thẳng.
    Cả hai cùng lắc đầu. Trông lạ hoắc, hắn đuổi hết mọi người ra ngoài, chẳng thèm để ý đến vị thầy tu trẻ và người gác nhà thờ doạ sẽ gọi cảnh sát đến. Hắn chỉ cười phá lên, lại còn dặn họ bảo cảnh sát nhớ mang máy quay phim đến.
    - Máy quay à? Langdon băn khoăn.
    Hai người phụ nữ tỏ vẻ giận dữ, họ gọi hắn là bar-àrabo. Rồi vẫn chưa hết làu bàu giận dữ, họ đi tiếp.
    - Bar-àrabo? - Langdon hỏi Vittoria. - Một kẻ vô giáo dục à?
    Vittoria đột nhiên trở nên căng thẳng.
    - Không hẳn. Đó là một lối chơi chữ thể hiện sự khinh thường. Có nghĩa là… Ả-rập.
    Langdon rùng mình, anh đưa mắt quan sát thánh đường. Đúng lúc ấy anh lờ mờ trông thấy một hình ảnh từ sau khung cửa kính của nhà thờ. Langdon thấy lạnh xương sống.
    - Vẫn chưa biết gì, - Vittoria rút điện thoại ra và nhấn nút gọi tự động. - Phải báo cho Olivetti biết.
    Không nói nên lời, Langdon vươn tay ra, chạm vào cánh tay cô gái. Run run, anh chỉ về phía nhà thờ.
    Vittoria há hốc mồm.
    Trong thánh đường, lửa rừng rực cháy, những ô kính cửa sổ rực sáng, hệt như những con mắt của quỷ.
    Chú thích:
    (1) Mi scusi: Xin lỗi.
    (2) Buona sera: Xin chào.
    (3) E la: Đằng kia.
    (4) Grazie: Cảm ơn.
    (5) Non Si puo entrare: Nhưng không vào được.
    (6) Ha chiuso presto: Nó đóng cửa rồi.


    Chương 91


    Langdon và Vittoria lao vào thánh đường Santa Maria Della Vittoria, cánh cổng bằng gỗ bị khoá. Vittoria rút khẩu súng bán tự động mà Olivetti đưa cho, và bắn ba phát vào cái then gỗ, cánh cổng bật mở.
    Không có phòng chờ, nên toàn cảnh thánh đường lập tức hiện ra sau khi hai người mở tung cửa chính. Cảnh tượng bên trong thật bất ngờ và kỳ dị, đến nỗi Langdon phải nhắm mắt vào rồi lại mở mắt ra trong giây lát, để cho trí não có thời gian xử lý những hình ảnh vừa trông thấy.
    Thánh đường này được trang trí theo trường phái ba-rốc, rất cầu kỳ… với bàn thờ chúa dát vàng. Ngay giữa thánh đường, thẳng mái vòm xuống, một đống ghế băng bị xếp chồng lên nhau cao ngất ngưởng đang cháy rừng rực như một giàn thiêu. Lửa bốc cao gần lên tới tận mái vòm. Langdon đưa mắt nhìn theo ngọn lửa, và anh trông thấy cảnh tượng khủng khiếp nhất.
    Tít trên cao, những sợi dây cáp được kéo ra từ hai bên trần nhà, chúng vốn được dùng để lắc bình hương trên đầu những người đến đây hành lễ. Tuy nhiên, lúc này chẳng thấy có bình hương nào. Và cũng chẳng lắc lư. Những sợi dây lúc này đã được dùng với một mục đích khác…
    Có một người bị treo trên đó. Quần áo bị lột sạch. Cồ tay và cổ chân bị buộc vào các đầu dây và bị kéo căng đến mức gần như sắp rách ra. Hai cánh tay bị kéo đang sang hai bên như thể bị đóng đinh vào một cây thập giá vô hình đang đu đưa trong chính ngôi nhà của Chúa.
    Ngước nhìn lên, Langdon đờ người. Sau thoáng chốc, anh lại phát hiện thêm một chi tiết nữa. Người này vẫn còn sống, và đang ngóc đầu lên. Đôi mắt đờ đẫn hướng thẳng vào Langdon cầu cứu câm lặng. Trên ngực người này có một vết cháy xém. Nạn nhân đã bị đóng dấu sắt nung lên người. Không nhìn được rõ vết đóng dấu ấy, nhưng Langdon biết chắc chắn nó là cái gì. Lửa bốc cao thêm, bị lưỡi lửa táp vào chân, ông già rùng mình và thét lên đau dớn.
    Như thể vừa nhận được một sức mạnh vô hình, Langdon bất giác lao nhanh về phía đám cháy rừng rực. Gần đến nơi, anh hít phải lớp khói dày đặc. Còn cách ngọn lửa 3 mét, đang chạy hết tốc lực, Langdon vấp phải một bức tường nhiệt nóng ran. Da mặt đau rát, anh ngã ngửa ra sau, người đập mạnh xuống sàn lát đá hoa cương. Anh loạng choạng đứng dậy và lại lao lên phía trước, hai tay giơ thẳng ra để tự vệ.
    Và Langdon tức khắc nhận ra. Ngọn lửa nóng vô cùng.
    Đành phải lùi lại, anh đưa mắt nhìn bốn bức tường. Một tấm thảm thật dày, Langdon thầm nghĩ. Biết đâu có thể dập tắt ngọn lửa… Nhưng anh biết không thể tìm thấy thảm. Nhà thờ này được xây dựng thao trường phái ba-rốc, Robert ạ, có phải là một thánh đường kiểu Đức đâu cơ chứ! Nghĩ đi! Langdon quay lại nhìn con người khốn khổ đang bị treo trên đống lửa.
    Lửa và khói cuộn lên cao, gần đến tận mái vòm. Những sợi dây buộc cổ tay nạn nhân được dòng qua hai cái ròng rọc sát trên trần nhà, và đầu kia của hai sợi dây được cố định vào hai đầu cọc được bố trí hai bên thánh đường. Langdon đưa mắt nhìn đầu cọc. Nó khá cao nhưng nếu anh với được một đầu cọc và nhả cho sợi dây chùng xuống thì nạn nhân có thể tránh được ngọn lửa.
    Đột nhiên, ngọn lửa bốc vụt lên, và Langdon nghe thấy tiếng kêu thét đầy đau đớn. Da chân của nạn nhân đã bắt đầu rộp. Hồng y Giáo chủ đang bị thiêu sống. Langdon chạy ngay đến bên cái cọc buộc dây.
    Ở cuối thánh đường, Vittoria túm chặt lấy một cái ghế, cố lấy lại bình tĩnh. Những gì vừa trông thấy thật kinh hoàng. Cô cố gắng nhìn ra hướng khác. Phải làm gì đi chứ? Olivetti đâu rồi nhỉ? Ông ta đã trông thấy hung thủ chưa? Đã bắt được hắn chưa? Cả hai đang ở chỗ nào? Vittoria định tới giúp Langdon một tay, nhưng một tiếng động khiến cô chú ý.
    Đúng lúc ấy, tiếng lửa cháy lách tách bỗng dưng lo hẳn lên, nhưng thứ tiếng động kia cũng rất rõ. Tiếng rung của kim loại. Rất gần. Tiếng rung liên hồi đó dường như vọng ra từ cuối hàng ghế, phía tay trái. Nghe như tiếng chuông điện thoại, rất gắt. Siết chặt khẩu súng, Vittoria tiến về phía cuối dãy ghế. Tiếng động ấy trở nên rõ ràng hơn. Dừng. Rồi lại rung. Lặp đi lặp lại.
    Đến cuối dãy ghế, Vittoria cảm thấy tiếng động này phát ra tử trên mặt đất, đâu đó phía cuối một cái ghế băng dài. Tiếp tục tiến về phía trước, súng chĩa thẳng trước mặt, Vittoria nhận ra tay trái cô còn cầm một vật nữa - điện thoại cầm tay. Trong lúc hốt hoảng, cô quên rằng đã nhấn nút gọi tự động từ lúc ở ngoài cổng để báo động cho ông chỉ huy. Vittoria áp điện thoại vào tai.
    Chuông vẫn đang đổ. Không thấy chỉ huy nghe máy. Đột nhiên, Vittoria kinh hãi nhận ra âm thanh mà cô đang nghe thấy. Run rẩy, cô gái tiến về phía trước.
    Nhìn thấy hình hài bất động trên sàn, Vittoria cảm thấy đất dưới chân như sụt xuống. Không thấy vết máu chảy. Không có vết tích của ẩu đả. Chỉ duy nhất cái đầu của ông chỉ huy… bị vặn ngược ra sau, 180 độ, thật đáng sợ. Vittoria cố gạt khỏi tam trí hình ảnh người cha của cô nằm chết sóng soài trên sàn nhà.
    Chiếc máy bộ đàm giắt ở thắt lưng của Olivetti đang nằm lên sàn đá. Vittoria tắt điện thoại trên tay, máy bộ đàm cũng lập tức ngừng đổ chuông. Trong yên tĩnh, Vittoria nghe thấy một âm thanh khác nữa. Tiếng thở, trong bóng tối, ngay sau lưng.
    Cô gái lập tức xoay người lại, giương súng lên, nhưng đã quá muộn. Hung thủ đập mạnh khuỷu tay vào gáy cô gái, và Vittoria bị một luồng nhiệt truyền thẳng từ đỉnh đầu đến tận bàn chân.
    - Giờ thì cô em là của ta. - Một giọng nói cất lên.
    Sau đó chỉ còn một màn đêm thăm thẳm.
    Sát bức tường đối diện, trong giáo đường, Langdon đang cố giữ thăng bằng trên lưng dựa của một cái ghế băng, cố vươn lên để với chiếc cọc. Cái cọc vẫn cao hơn đầu anh gần 2 mét. Trong các nhà thờ, những cái cọc kiểu này thường được bố trí khá cao để tránh va vào đầu mọi người. Các tu sĩ vẫn thường dùng một loại thang gỗ gọi là piuòli để trèo lên chỗ cái cọc. Chắc chắn hung thủ cũng phải dùng cái thang đó để treo nạn nhân lên cao thế kia. Khỉ thật, cái thang đó đâu rồi nhỉ? Langdon cúi xuống, nhìn quanh. Hình như anh vừa thoáng thấy cái thang ở đâu đây. Chỗ nào cơ chứ? Sau giây lát, tim anh chùng hẳn xuống. Langdon đã nhớ ra chỗ của cái thang. Anh quay lại nhìn ngọn lửa đang bốc cao. Kia rồi, cái thang ở tít trên chóp, đang cháy rừng rực.
    Tuyệt vọng, Langdon đứng nguyên tại chỗ, đưa mắt quan sát khắp nhà thờ, hi vọng tìm được cái gì để với đến cái cọc. Lúc này, anh mới chợt nhận ra.
    Vittoria đâu mất rồi? Chẳng thấy cô đâu cả. Hay Vittoria đi gọi người tới giúp? Langdon gọi tên cô gái thật to. Không có tiếng đáp lại. Còn Olivetti đâu?
    Có một tiếng rú đau đớn trên cao, và Langdon biết anh chẳng còn kịp làm gì được nữa. Ngước nhìn lên, anh thấy nạn nhân đang bị thiêu sống từ từ. Và anh chỉ còn nghĩ ra được một thứ.
    Nước. Thật nhiều nước để dập lửa. Ít ra thì cũng không cho nó bốc cao thêm nữa.
    - Khỉ thật, mình phải đi lấy nước! - Langdon kêu to.
    - Cái đó để sau! - Một giọng nói cất lên từ cuối thánh đường.
    Langdon quay lại, và suýt nữa ngã nhào.
    Một gã đàn ông đen đúa như quỷ đang thẳng tiến tới chỗ anh.
    Trong ánh lửa bập bùng, Langdon đã kịp trông thấy cặp mắt trắng dã của hắn. Và khẩu súng hắn đang cầm trên tay chính là khẩu súng ban nãy còn ở trong túi áo của anh… khẩu súng mà Vittoria đã cầm.
    Một loạt những cảm giác kinh hãi đồng thời dâng lên trong anh. Sợ hãi và lo lắng cho Vittoria. Đồ thú vật kia đã làm gì cô gái? Vittoria có bị đau không? Hay còn tồi tệ hơn thế. Cùng lúc ấy vị Hồng y đang bị treo trên cao cũng kêu thét lên. Ông ấy chết mất. Nhưng không thể làm gì vào lúc này. Rồi trông thấy hung thủ đang giương súng nhằm vào ngực mình, Langdon lại thấy lo sợ cho bản thân. Đúng lúc viên đạn bay ra khỏi nòng, theo bản năng, Langdon nhảy xuống khỏi lưng ghế, đang tay lao thẳng xuống dãy ghế băng trước mặt.
    Ngã vào đống ghế, Langdon bị va mạnh, rồi ngã nhào xuống mặt sàn. Sàn đá cứng như thép. Tiếng bước chân đang tiến lại từ bên phải. Langdon quay người về phía trước, lồm cồm bò dưới những chiếc ghế băng để chạy trốn.
    Bị treo ngược trên cao, Hồng y Guidera đang trải qua những giây phút đau đớn cuối cùng. Nhìn xuống, Đức cha thấy da chân mình đã rộp hẳn lên và bắt đầu bong rời ra. Ta đang ở trong địa ngục, Hồng y thầm nghĩ. Chúa ơi, sao Người lại đoạ đày con thế này?
    Hồng y biết mình đang ở trong địa ngục, vì ngài đang nhìn dấu sắt nung trên ngực ngược từ dưới lên… ấy thế mà thật kỳ dị, nó có ý nghĩa rất rõ ràng.





    Chương 92

    Ba lần bỏ phiếu. Chưa có Giáo hoàng.
    Trong nhà nguyện Sistine, Hồng y Mortati đang cầu mong một phép nhiệm màu. Xin cho bốn người được lựa chọn xuất hiện!
    Trì hoãn thế là lâu lắm rồi. Nếu chỉ thiếu một vị thôi, thì đức cha còn hiểu được. Nhưng cả bốn cùng một lúc? Chẳng còn lựa chọn nào khác. Thế này thì chỉ có Chúa đích thân ra tay mới có được hai phần ba số phiếu cần thiết.
    Khi then cửa nhà nguyện bắt đầu dịch chuyển, Hồng y Mortati và toàn thể Hồng y đoàn đều quay sang nhìn. Hành động mở dấu niêm phong thế này chỉ có thể có một ý nghĩa duy nhất.
    Theo luật, cửa nhà nguyện chỉ được mở trong hai trường hợp - để đưa người bị ốm ra ngoài, và để đón các vị Hồng y đến muộn.
    Bốn vị được lựa chọn đã quay trở lại!
    Tim Hồng y Mortati đập rộn lên. Mật nghị Hồng y có cơ hội thành công rồi!
    Khi hai cánh cửa mở ra, tất cả những ai có mặt trong nhà nguyện đều há hốc mồm, nhưng không phải vì vui sướng. Thấy người đó bước vào, đức cha kinh ngạc. Lần đầu tiên trong lịch sử Vatican, một Giáo chủ Thị thần dám cả gan phá dấu niêm phong trên cửa nhà nguyện Sistine sau khì đã đóng hai cánh cửa ấy lại.
    Viên Thị thần này đang nghĩ gì không biết!
    Giáo chủ Thị thần sải bước đến bên bàn thờ Chúa và bắt đầu phát biểu trước sự kinh ngạc tột cùng của toàn thể Hồng y đoàn.
    - Thưa các ngài. - Anh ta nói - Tôi đã đợi quá lâu rồi. Chuyện này các ngài có quyền được biết.


    Chương 93

    Langdon chẳng cần biết sẽ đi đến đâu. Bản năng là phương tiện định hướng duy nhất để thoát khỏi hiểm nguy lúc này. Khuỷu tay và đầu gối đau rát vì phải bò lồm cồm dưới gầm ghế. Nhưng Langdon vẫn tiếp tục bò. Tâm trí mách bảo anh hãy di chuyển về bên trái. Nếu ra được đến lối đi giữa là có thể chạy thoát ra ngoài. Anh biết điều đó là không thể. Lối đi chính đã bị cả một bức tường lửa bịt mất rồi! Đầu Langdon căng ra để tìm đường thoát thân, trong khi tay và chân vẫn tiếp tục bò. Tiếng bước chân bên phải đã gần hơn.
    Langdon hoàn toàn bị bất ngờ. Anh cứ tưởng còn khoảng 3 mét nữa thì sẽ đến cửa trước của thánh đường. Nhưng anh đã ước lượng sai. Bất ngờ, những chiếc ghế đang che chắn cho anh biến mất. Langdon sợ cứng người, người anh nhô hẳn ra ngoài, ngay phía trước thánh đường. Từ góc nhìn kỳ dị của anh lúc này, Langdon thấy một hình khối rất lớn hiện ra phía tay trái, chính là tác phẩm nghệ thuật đã dẫn dắt anh đến đây. Langdon đã quên hẳn tác phẩm điêu khắc này. Khoảnh khắc đê mê của thánh Teresa hiện ra, chẳng khác nào một vật phẩm khiêu dâm thời hiện đại… vị thánh trong tư thế nằm ngửa, cơ thể oằn oại trong hoan lạc, miệng hé mở như thể đang rên rỉ đê mê, và trên người nữ thánh, một thiên thần đang giương cao cây giáo lửa.
    Một phát đạn nổ ngay trên hàng ghế băng, sượt qua đầu Langdon. Anh bất giác căng người lên như một vận động viên thể thao đang chạy nước rút. Lượng adrenaline trong máu tăng vọt, theo bản năng, anh chạy, đầu chúi xuống, chạy ngang qua thánh đường rộng lớn, hướng về phía tay phải. Lại có tiếng súng nổ sau lưng, một lần nữa Langdon chúi xuống thật thấp, rồi trượt chân, văng một đoạn dài trên sàn đá hoa cương, rồi ngã vật xuống ngay trước hàng lan can của một cái hốc tường bên tay phải.
    Đúng lúc này, anh trông thấy cô gái đang nằm bất động phía cuối thánh đường. Vittoria! Đôi chân trần của cô gái quặp lại, bất động, nhưng hình như vẫn còn thở. Langdon chẳng kịp làm gì để giúp Vittoria.
    Ngay lập tức, tên sát thủ vòng qua những hàng ghế bên tay trái nhà thờ và bắt đầu sải bước về phía Langdon. Trong tích tắc, Langdon nhận ra, thế là hết. Hắn giương súng lên, và điều duy nhất Langdon có thể làm trong lúc này là lăng người, nhảy qua lan can vào trong hốc. Đúng lúc Langdon chạm chân xuống sàn đá bên trong hốc, hàng cột đá bao quanh hốc bị một loạt đạn phá tan tành.
    Loạng choạng bò sâu thêm vào trong hốc, Langdon cảm thấy mình đã thật sự bị dồn vào chân tường trong cái hốc hình bán nguyệt này. Trước mắt anh, thứ duy nhất được đặt trong hốc hiện ra mới đúng lúc làm sao - một cái quách bằng đá. Có lẽ để dành riêng cho mình, anh thầm nghĩ. Đến cả kiểu dáng của nó cũng thích hợp một cách kỳ lạ. Đây là loại quan tài đá nhỏ, giản dị, không có các chi tiết trang trí cầu kỳ. Chứng tỏ gia tộc này không giàu có lắm. Chiếc quan tài được kê trên hai phiến đá hoa cương, Langdon quan sát khe hở giữa chiếc quan tài và sàn nhà, ước lượng xem có thể chui lọt xuống dưới không.
    Tiếng bước chân vang lên ngay sau lưng.
    Chẳng còn sự lựa chọn nào khác, Langdon dán chặt người xuống sàn, trườn vào bên dưới chiếc quan tài đá. Mỗi tay bám vào một phiến đá hoa cương, anh đẩy người vào trong, giống như một vận động viên bơi ếch, kéo thân mình vào bên dưới quan tài.
    Súng nổ.
    Cùng với tiếng súng là một cảm giác mà lần đầu tiên trong đời Langdon trải qua… một viên đạn sượt qua da thịt. Tiếng gió rít rồi như một cái roi da quất xuống thật mạnh, viên đạn sượt qua người anh, trúng vào tảng đá hoa cương và bụi bay tung tóe.
    Tim đập thình thịch, Langdon đẩy tay thật mạnh, thu nốt người vào hẳn dưới gầm quan tài. Lồm cồm, anh chui qua chiếc quan tài đá sang phía bên kia.
    Hết đường.
    Lúc này Langdon đang đối diện với bức tường sau của mộ phần. Không còn nghi ngờ gì nữa, cái góc chật hẹp này sẽ là nấm mồ của chính anh. Và rất mau lẹ, Langdon trông thấy nòng súng chĩa vào khe hở giữa quan tài đá và sàn nhà. Tên sát thủ hạ súng xuống song song với sàn nhà, chĩa thẳng vào người Langdon.
    Không thể trượt được.
    Bản năng tự vệ lúc này đã hoàn toàn chi phối đầu óc Langdon.
    Anh xoay người nằm sấp xuống, song song với chiếc quan tài. úp mặt xuống, anh tì hai tay trên sàn, vết đứt do bị kính vỡ găm vào lúc ở trong Nhà mái vòm bí mật đau nhói lên. Mặc kệ, anh chống tay thật mạnh. Anh đẩy cho toàn thân cong lên trong một tư thế khá kỳ quặc, đúng lúc súng nổ. Đạn bay sượt qua dưới bụng Langdon, không khí rung lên, những phiến đá hoa cương lát sàn bị thủng lỗ chỗ. Mắt nhắm nghiền, cố chống lại cảm giác mệt mỏi đến kiệt quệ, anh cầu cho loạt đạn chấm dứt.
    Mãi rồi nó cũng phải hết.
    Tiếng băng đạn rỗng lách cách thay cho tiếng đạn nổ ầm ầm.
    Langdon chậm chạp mở mắt ra, chỉ sợ hai mí mắt có thể gây ra tiếng động. Cố nén đau, anh giữ nguyên tư thế của mình, như một con mèo đang vươn vai. Không dám thở. Tai ù đi vì tiếng súng, nhưng Langdon vẫn cố lắng nghe xem kẻ giết người có dấu hiệu bỏ đi không. Yên lặng. Nghĩ đến Vittoria, anh thầm ước có thể làm gì đó để giúp cô gái.
    Rồi một âm thanh khủng khiếp vang lên. Gần như không phải tiếng người mà là tiếng gầm gào lên gân lên cốt.
    Chiếc quan tài đá bên cạnh Langdon bỗng nghiêng lên. Thấy khối đá hàng trăm cân sắp sửa đổ chụp xuống người, Langdon nằm bẹp xuống sàn. Trọng lực đã thắng lực ma sát, và nắp quan tài trượt xuống ngay bên cạnh anh. Tiếp đến là chiếc quan tài, nó trượt khỏi bệ đỡ, rồi úp xuống người Langdon.
    Langdon biết hoặc là anh bị chụp vào bên trong cỗ quan tài, hoặc là sẽ bị nghiền nát dưới gô mép của nó. Thu đầu và chân lại hai tay ép chặt vào mạng sườn, Langdon nhắm mắt chờ đợi cỗ quan tài đá đổ sập xuống.
    Rồi cỗ quan tài sập xuống, mặt đất rung lên. Mép trên của nó sập xuống chỉ cách đầu Langdon có vài li làm anh tê nhói đến tận chân răng. Cánh tay phải cứ tưởng sẽ bị nghiền nát, thế mà lại không hề hấn gì. Mở mắt ra, Langdon thấy một luồng sáng.
    Cạnh bên phải của chiếc quan tài vẫn chưa trượt hẳn khỏi bệ đỡ và đang lơ lửng. Tuy nhiên, ngay trên đầu anh hiện ra khuôn mặt của thần chết, thần chết theo đúng nghĩa đen của nó.
    Chủ nhân của mộ phần đang lơ lửng ngay trên đầu anh, những cái xác đã phân huỷ thường dính chặt vào đáy quan tài.
    Bộ xương đung đưa như một người tình dịu dàng, rồi nghe có tiếng nứt gãy, nó đầu hàng trước trọng lực và đổ sụp xuống. Cái xác lao xuống, ôm ghì lấy Langdon, bộ xương mục đã mủn ra thành bột rơi như mưa vào mắt và miệng anh.
    Langdon còn chưa kịp hoàn hồn thì đã thấy một bàn tay thò vào trong mép quan tài, lần mò, dò dẫm trên bộ xương mục, y như con trăn đói. Bàn tay ấy tiếp tục lần sờ cho đến khi chạm vào cổ Langdon, rồi siết chặt. Langdon cố sức chống cự lại những ngón tay cứng như thép đang siết chặt thanh quản của anh, nhưng tay áo bên trái của anh đã bị kẹp vào mép quan tài đá. Chỉ còn có tay phải được tự do, Langdon cuống quít chống chọi.
    Langdon thu chân lên, tận dụng khoảng trống ít ỏi bên trong cỗ quan tài, cố đặt bàn chân lên đáy quan tài trên đầu. Đây rồi. Thu người, anh dận mạnh hai chân. Đúng lúc những ngón tay cứng như sắt bắt đầu siết mạnh hơn nữa vào cổ bọng, Langdon nhắm mắt, chống mạnh chân lên. Cỗ quan tài chuyển động rất ít, nhưng thế là đủ.
    Có tiếng đá nghiến vào đá nghe lọng óc, rồi cỗ quan tài trượt hẳn khỏi bệ đỡ, và đổ hẳn xuống sàn. Mép quan tài nghiến vào bàn tay của hắn, kẻ giết người đau đớn kêu thét lên. Những ngón tay đang siết cổ Langdon rời ra, rồi biến mất trong bóng tối. Khi hắn rút được bàn tay ra, cỗ quan tài đổ phịch xuống, úp chặt xuống nền đá hoa cương.
    Chỉ còn lại bóng tối mịt mùng.
    Không một tiếng động.
    Không thấy có tiếng đập phá cay cú trên cỗ quan tài đã bị lật úp Không có bàn tay nào cố lần mò sờ soạng. Chẳng thấy gì.
    Nằm cạnh đống xương mục trong bóng tối, Langdon cố chống cự lại một thứ bóng tối khác đang muốn chụp lấy tâm trí, anh hướng ý nghĩ của mình về cô gái.
    - Vittoria. Em còn sống hay không?
    Nếu Langdon biết sự thật - cảm giác kinh hãi tột độ mà Vittoria sẽ phải trải qua khi hồi tỉnh lại - thì hẳn anh đã thương cô gái đến mức sẽ cầu cho Vittoria được chết đi.

  9. #19
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 94

    Trong nhà nguyện Sistine, cùng với toàn thể Hồng y đoàn, Hồng y Mortati cố hiểu những gì vừa nghe được. Trước mắt đức cha, trong ánh sáng toả ra từ những cây nến, Giáo chủ Thị thần vừa mới nói về những mối cừu thù, về sự phản trắc, khiến cho đức cha thấy run lên. Giáo chủ Thị thần vừa kể về những vị Hồng y bị bắt cóc, bị đóng dấu sắt nung lên người và bị sát hại, về một hội kín cổ xưa có tên là Illuminati - chỉ riêng cái tên thôi cũng đã đủ gợi lại những lo lắng vốn đã chìm vào quên lãng. Illuminati vừa mới hồi sinh, và nguyền sẽ trả thù giáo hội. Với giọng nói đầy đau đớn, Giáo chủ Thị thần nói về cố Giáo hoàng… người đã bị Illuminati đầu độc. Rồi với giọng nói gần như thì thầm, vị thầy tu trẻ tuổi này nói về một thứ kỹ thuật mới thật đáng sợ, phản vật chất. Chưa đầy hai giờ nữa, nó sẽ tiêu huỷ toàn bộ Vatican.
    Sau khi Giáo chủ Thị thần nói xong, toàn bộ dưỡng khí trong nhà nguyện tưởng như đã bị một con quỷ sa-tăng hút kiệt. Không một ai nhúc nhích. Những lời nói của Giáo chủ Thị thần như vẫn còn lơ lửng trong bóng đêm.
    Tiếng động duy nhất mà Hồng y Mortati nghe thấy là tiếng sè sè của máy quay phim phát ra từ phía cuối nhà nguyện. Lần đầu tiên trong lịch sử giáo hội, một thiết bị điện tử được đưa vào căn phòng này, do Giáo chủ Thị thần khăng khăng đòi như vậy.
    Trước sự kinh ngạc của toàn thể Hồng y đoàn, viên thị thần này đã dẫn hai phóng viên BBC vào nhà nguyện - một nam, một nữ - và tuyên bố trịnh trọng rằng họ sẽ truyền hình trực tiếp cho cả thế giới được biết.
    Lúc này, hướng thẳng vào ống kính máy quay, Giáo chủ Thị thần nói:
    - Có một điều ta xin nói với hội Illuminati và với các nhà khoa học, - ngài hạ giọng xuống. - Các người đã chiến thắng.
    Lúc này, sự im lặng tuyệt đối đã lan toả đến mọi ngóc ngách trong nhà nguyện. Mortati còn nghe được cả những nhịp đập tuyệt vọng trong ***g ngực mình.
    - Bánh xe lịch sử đã bắt đầu lăn từ lâu lắm rồi. - Giáo chủ Thị thần nói - Chiến thắng của các người là hiển nhiên. Và giờ đây điều đó càng rõ ràng hơn bao giờ hết. Khoa học chính là đức Chúa mới.
    Anh ta đang nói cái gì không biết! Hồng y Mortati thầm nghĩ. Hay là anh chàng này hoá điên mất rồi? Cả thế giới đang nghe cơ mà!
    - Dược khoa, các phương tiện liên lạc hiện đại, du lịch trong không gian, biến đổi gene… chính là những phép màu nhiệm mà ngày nay chúng ta vẫn kể với con trẻ. Đó chính là nhung bằng chứng để tin rằng khoa học sẽ cho chúng ta những câu trả lời. Những huyền thoại cổ xưa về sự thụ thai trinh tiết, về những rừng cây bốc cháy, về những đại dương mới được hình thành không còn thích hợp nữa rồi. Chúa trời đã trở thành một khái niệm lỗi thời. Khoa học đã chiến thắng. Chúng ta thừa nhận điều đó.
    Tiếng xì xầm kinh ngạc lan toả khắp nhà nguyện.
    - Nhưng chiến thắng của khoa học, - Giáo chủ Thị thần nói tiếp, - đi kèm với một cái giá rất đắt. Cái giá mà tất cả chúng ta đều phải trả.
    Im lặng.
    - Khoa học có thể làm dịu những chỗ đau nhức trên cơ thể, giảm sự cực nhọc của con người, tạo ra những công cụ để giải trí, nhưng nó cũng khiến cho cuộc đời trở nên trần tục hơn nhiều. Hoàng hôn đã bị thay bằng những bước sóng và tần số. Sự kỳ diệu của vũ trụ bị chặt vụn ra thành những phương trình toán học. Thậm chí cả giá trị bản thân của mỗi chúng ta cũng bị huỷ hoại. Khoa học cho rằng trái đất và những sinh vật sống trên đó chẳng qua chỉ là những đốm nhỏ vô nghĩa trong vũ trụ bao la. Chỉ là một sự cố trong vũ trụ mà thôi. - Giáo chủ Thị thần ngừng giây lát:
    - Thậm chí cả những kỹ thuật lúc đầu hứa hẹn khả năng kết nối chúng ta cuối cùng cũng khiến chúng ta bị chia rẽ. Mỗi chúng ta giờ đây được kết nối với thế giới bằng kỹ thuật điện tử, để rồi lại càng cảm thấy cô đơn hơn trước. Chúng ta phải chứng kiến biết bao cảnh bạo lực, sự chia rẽ, sự rạn nứt, và sự phản trắc. Thậm chí, giờ đây hoài nghi còn là một đức tính tốt. Sự nghi ngờ, sự đòi hỏi phải có bằng chứng giờ dây lại trở thành ý nghĩ thông thái. Phải chăng nhân loại đang cảm thấy tuyệt vọng và thất bại hơn bất kỳ một thời đại nào khác trong lịch sử? Khoa học có thể mang lại bất cứ thứ gì thiêng liêng không? Khoa học tìm câu trả lời bằng cách can thiệp vào những mầm sống chưa chào đời Khoa học còn dự định tái sắp xếp chuỗi ADN của chúng ta. Khoa học biến Chúa trời thành muôn vàn mảnh nhỏ nhằm khám phá bản chất của Người… nhưng rồi lại càng tìm thấy thêm nhiều câu hỏi khác nữa.
    Hồng y Mortati kinh hãi quan sát. Lúc này Giáo chủ Thị thần gần như đã bị thôi miên. Chưa bao giờ đức cha thấy có ai nói một cách mạnh mẽ đến thế trước bàn thờ của Vatican.
    Giọng nói của người tu sĩ này thấm đẫm cảm giác buồn bã và đau khổ.
    - Cuộc chiến cổ xưa giữa tôn giáo và khoa học đã đi đến hồi kết. - Giáo chủ Thị thần nói - Các người đã thắng. Nhưng thắng lợi đó không hề công bằng chút nào. Chiến thắng này không phải là kết quả của những lời giải đáp. Các người đã chiến thắng áp đảo bằng cách biến những chân lý vốn được coi là linh thiêng trở nên không còn thích hợp nữa. Tôn giáo không thể theo kịp các người. Khoa học phát triển theo cấp số nhân. Nó tự nuôi lớn bản thân mình, y như những con virus. Mỗi bước đột phá lại mở đường cho những bước dột phá tiếp theo. Loài người phải mất hàng ngàn năm mới phát triển được cái bánh xe lên thành chiếc xe hơi. Nhưng chỉ sau đó vài thập kỷ, nhân loại đã có thể bay vào vũ trụ Giờ đây, sự phát triển của khoa học chỉ còn tính bằng tuần. Chúng ta đang lao rất nhanh,, đến mức không thể kìm giữ nổi. Sự rạn nứt giữa các cá thể đang lớn dần lên, tôn giáo thì đã bị bỏ lại đằng sau, loài người đối mặt với một khoảng trống trong tâm hồn. Chúng ta vật vã kiếm tìm ý nghĩa của cuộc sống. Và chúng ta đã bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng. Chúng ta trông thấy các vật thể bay không xác định (UFO), thử nghiệm thần giao cách cảm, tìm hiểu về những kinh nghiệm thoát xác… tất cả những thứ đó đều mang một lớp vỏ khoa học, nhưng thật ra đều vô nghĩa. Đó thực ra là những tiếng khóc tuyệt vọng của tâm hồn trong thời hiện đại, cô độc và bị giày vò, không thể tìm thấy ý nghĩa của bất kỳ hiện tượng nào nếu tách rời khoa học và kỹ thuật.
    Hồng y Mortati nhoài người về phía trước. Cũng như ngài, toàn bộ Hồng y đoàn và tất cả mọi người trên trái đất đang lắng nghe từng từ một. Giáo chủ Thị thần không tỏ ra hùng biện, cũng chẳng đả kích. Không hề nhắc đến kinh thánh hay Chúa Giê-su.
    Toàn những ngôn từ hiện dại, giản dị, không màu mè. Nghe như thể chính Chúa trời đang lên tiếng, và dùng một thứ ngôn ngữ rất hiện đại… để chuyển tải bức thông điệp cổ xưa của mình. Lúc này thì Hồng y Mortati đã hiểu vì sao cố Giáo hoàng lại ưu ái con người này đến vậy. Trong một thế giới đầy những hoài nghi, lãnh cảm và sự sùng bái khoa học kỹ thuật như thời nay, một người vừa rất thực tế, vừa có khả năng lay động hồn người như Giáo chủ Thị thần đúng là tương lai của giáo hội.
    Lúc này, những lời nói của Giáo chủ Thị thần càng trở nên mạnh mẽ hơn.
    - Các người nói rằng khoa học sẽ cứu rỗi chúng ta. Còn ta lại cho rằng chính khoa học sẽ tiêu diệt chúng ta. Từ thời Galileo, Giáo hội đã ra sức ngăn cản những bước tiến tàn nhẫn của khoa học, đôi khi bằng những phương thức sai lầm nhưng với một mục đích cao cả và từ bi. Bất chấp điều đó, sức cám dỗ của khoa học quá lớn, và con người không thể chiến thắng được nó. Các người hãy nhìn lại mà xem, khoa học có giữ lời hứa đâu. Hứa hẹn về sự đơn giản và hiệu quả, nhưng khoa học lại đẻ ra sự hỗn loạn và ô nhiễm. Chúng ta, một loài vật điên loạn và cô đơn, đang bước trên con đường tuyệt diệt.
    Giáo chủ Thị thần ngừng lại giây lát, mắt hướng thẳng vào ống kính máy quay.
    - Đức Chúa Khoa học này là thế nào? Chúa gì mà chỉ mang lại cho con người sức mạnh, nhưng không ban cho nhân loại một quy tắc đạo đức về cách thức sử dụng sức mạnh đó? Chúa nào mà đưa cho một đứa trẻ ngọn lửa để chơi, nhưng lại không cảnh báo nó về những nguy hiểm của trò chơi đó? Ngôn ngữ của khoa học không đề cập đến cái tốt và cái xấu. Những cuốn sách giáo khoa về khoa học tự nhiên dạy người ta cách chế tạo bom nguyên tử nhưng lại không có bất cứ chương nào bàn xem đặc tính của nó là tốt hay xấu.
    Ta xin tuyên bố với giới khoa học rằng nhà thờ đã mệt mỏi rồi. Sau bao nhiêu nỗ lực để nhắc nhở về cái tốt và cái xấu, Giáo hội đã kiệt sức. Các nguồn lực của chúng ta đã cạn sau những chiến dịch để trở thành đối trọng cho những cố gắng của các người nhằm tạo ra những con chíp nhỏ hơn nữa, và những khoản lợi nhuận lớn hơn nữa. Chúng ta đã tự hỏi tại sao khoa học không thể tự kiềm chế bản thân nó, nhưng làm sao các người có thể làm được điều đó? Thế giới của các người tiến bộ nhanh đến nỗi nếu bất kỳ kẻ nào dừng lại để cân nhắc những hệ luỵ từ phát kiến của chính mình thì sẽ bị kẻ khác qua mặt ngay lập tức. Thế là các người cứ tiến về phía trước. Các người tạo ra những loại vũ khí giết người hàng loạt, để rồi chính Đức Thánh Cha phải đi khắp thế giới để khuyên nhủ các nhà lãnh đạo cố gắng kiềm chế.
    Các người tạo ra các mầm sống trong ống nghiệm, để rồi nhà thờ lại phải nhắc các người về những tác động đạo đức của phát kiến ấy. Các người khuyến khích nhân loại liên lạc bằng điện thoại di động, máy tính, màn hình video, để rồi chỉ có nhà thờ mở rộng cửa và nhắc nhở các con chiên của mình hãy giao tiếp với nhau theo đúng cách mà đáng ra phải luôn luôn như thế. Các người thậm chí còn nhân danh y học để giết hại những mầm sống chưa chào đởi, để rồi Giáo hội lại phải chỉ ra tính nguỵ biện trong những luận cứ ấy.
    Và các người cũng luôn cho rằng Giáo hội là dốt nát. Nhưng kẻ thực sự dốt nát là ai đây? Là người không thể định nghĩa được sấm chớp, hay là kẻ không biết kính trọng sức mạnh vĩ đại của hiện tượng ấy? Giáo hội luôn mở rộng lòng đối với các người, và với toàn nhân loại, thế nhưng chúng ta càng mở rộng lòng, thì các người càng đẩy chúng ta ra xa hơn nữa. Các người đòi hỏi phải có bằng chứng để chứng minh rằng có Chúa. Các người hãy dùng kính viễn vọng mà nhìn lên trời, chẳng thể thấy Chúa ở đó đâu! - Lúc này, hai mắt Giáo chủ Thị thần đã nhoà lệ. - Các người chất vấn là diện mạo của Chúa trông thế nào? Ta xin hỏi các người, câu hỏi đó xuất phát từ đâu? Câu trả lời chỉ có một mà thôi. Trong khoa học, các người không thấy Chúa đâu đúng không? Làm sao các người lại có thể không thấy Người cơ chứ! Các người tuyên bố rằng chỉ một thay đổi rất nhỏ của trọng lực hay trọng lượng một nguyên tử cũng có thể khiến cho toàn thể vũ trụ này biến thành một hoang mạc không sự sống, thay vì cả một thế giới vô cùng phong phú như chúng ta đang có hiện nay, chẳng lẽ các người không nhận ra rằng đó là nhờ bàn tay của Chúa sao? Như thế chẳng phải dễ dàng hơn nhiều so với cách giải thích rằng đó là một phần triệu xác suất may mắn hay sao? Chẳng lẽ tâm hồn các người đã trở nên cằn cỗi đến mức đặt trọn niềm tin vào một điều không thể xảy ra trên nguyên lý toán học thay vì tin vào một sức mạnh lớn lao hơn bản thân loài người?
    - Bất kể các người có tin vào Chúa hay không, - Giáo chủ Thị thần hạ giọng từ tốn, - có một điều mà các người chắc chắn phải tin. Khi nhân loại từ bỏ niềm tin vào một thế lực lớn lao hơn bản thân chúng ta, thì chúng ta cũng đã từ bỏ ý thức tự chịu trách nhiệm. Đức tin… Tất cả mọi đức tin… đều răn dạy con người về một thế lực mà chúng ta không thể thấu hiểu, một thế lực luôn dõi theo từng hành động của chúng ta… Có đức tin, chúng ta sẽ chịu trách nhiệm trước chính bản thân mình và trước một đấng tối linh cao cả. Có thể tôn giáo còn nhiều thiếu sót, nhưng chẳng qua đó là vì bản thân loài người cũng không thể hoàn thiện. Nếu các người cũng nhìn Giáo hội với con mắt giống như ta… không chấp nhặt những nghi lễ đằng sau những bức tường này… thì các người sẽ thấy có phép nhiệm màu ngay giữa thời hiện đại… một tập hợp những linh hồn giản dị và không hoàn thiện nhưng sẵn lòng cất lên tiếng nói vị tha và yêu thương giữa một thế giới đang trượt ra ngoài vòng kiểm soát của bản thân nhân loại.
    Giáo chủ Thị thần đang tay chỉ Hồng y đoàn. Theo bản năng, người kỹ thuật viên hình ảnh của BBC cũng lia máy theo, quay toàn bộ những người đang có mặt trong nhà nguyện.
    - Chúng ta có lỗi thời không? - Giáo chủ Thị thần đặt câu hỏi. Những vị ngồi đây có phải là loài khủng long hay không? Ta có phải là khủng long không? Liệu thế giới này có cần một tiếng nói bênh vực cho những kẻ nghèo hèn, yếu ớt, những kẻ bị áp bức, những sinh linh không được chào đời? Liệu thế giới này có cần những người như chúng ta, dù không phải lúc nào cũng hoàn thiện, nhưng sẵn lòng hiến dâng cả cuộc đời để nhắc nhở nhân loại hãy lắng nghe lương tâm mình, để đừng bị lạc lối?
    Lúc này thì Hồng y Mortati đã nhận ra rằng, không biết vô tình hay hữu ý, Giáo chủ Thị thần đã đưa ra một quyết định xuất sắc. Bằng cách để các Hồng y xuất hiện, Giáo hội đã được nhân cách hoá. Thành Vatican không còn đơn thuần là một công trình, mà nó là những con người - giống như chính bản thân Giáo chủ Thị thần, người đã dành cả cuộc đời để phụng sự cái tốt.
    - Đêm nay, chúng ta đang đứng bên bờ vực thẳm, Giáo chủ Thị thần nói tiếp - Không một ai trong chúng ta có thể thờ ở trước tình huống này. Dù các người có gọi tên chúng là quỷ Sa-tăng, - sự đồi bại, hay sự vô đạo, thì những thế lực đen tối vẫn đang tồn tại và phát triển từng giờ từng phút. Đừng thờ ở với điều đó!
    Giáo chủ Thị thần hạ thấp giọng, gần như là thì thầm, và người kỹ thuật viên hình ảnh tiến sát lên một chút:
    - Thế lực này, dù rất mạnh, nhưng không phải là vô địch. Cái tốt sẽ chiến thắng. Hãy lắng nghe trái tim mình. Hãy lắng nghe giọng nói của Chúa. Hãy sát cánh bên nhau, chúng ta có thể tránh được vực thầm này.
    Đến giờ thì Hồng y Mortati đã hiểu. Hoá ra đây chính là lý do Mật nghị Hồng y đã bị cắt ngang, nhưng đây đúng là cách duy nhất. Đây là lời cầu cứu tuyệt vọng và khẩn thiết. Giáo chủ Thị thần đang hướng tới cả kẻ thù lẫn bằng hữu. Vị thầy tu này đang khẩn khoản kêu gọi tất cả, cả bằng hữu lẫn kẻ thù, hãy nhận ra chân lý và dừng ngay hành động điên rồ này. Chắc chắn trong số những người đang xem truyền hình trực tiếp, sẽ có người hiểu ra và ra tay hành động.
    Giáo chủ Thị thần quỳ trước bàn thờ chúa.
    - Chúng ta hãy cùng cầu nguyện.
    Toàn thể Hồng y đoàn cùng quỳ xuống và hướng về bàn thờ Chúa. Ngoài kia, trên quảng trường St. Peter, trên khắp địa cầu… toàn thể nhân loại đang quỳ xuống cùng với họ.


    Chương 95


    Đặt cô gái đang bất tỉnh nằm sóng soài ở sau xe hòm, tên sát thủ dành một chút thời gian để chiêm ngưỡng chiến lợi phẩm của mình. Không đẹp bằng những cô gái mà hắn vẫn dùng tiền để mua, nhưng cô gái này có một sức mạnh rất hoang dại, khiến hắn thấy vô cùng phấn khích. Nước da sáng, thân thể ướt đẫm mồ hôi. Có mùi thơm của xạ hương.
    Mải chiêm ngưỡng phần thưởng của mình, tên sát thủ quên hẳn vết đau ở tay. Vết bầm dập do bị cỗ quan tài bằng đá chèn lên, dù rất đau, nhưng chẳng có gì đáng kể… phần thưởng này đã bù lại tất cả. Hắn tự an ủi bản thân rằng tay người Mỹ kia chắc giờ đã chết hẳn rồi.
    Trân trân nhìn tù nhân của mình, tên sát thủ mường tượng những gì sẽ diễn ra. Hắn lùa tay vào dưới vạt áo sơ mi của cô gái. Bầu ngực quả là hoàn hảo. Hay lắm, hắn cười mỉm. Cô em đáng đồng tiền bát gạo lắm đây. Cố kiềm chế ý muốn chiếm đoạt cô gái ngay lập tức, hắn đóng thùng xe lại, nổ máy phóng vụt đi trong đêm tối.
    Không cần phải báo cho cánh báo chí về vụ hành quyết này… ngọn lửa sẽ thay hắn làm việc đó.
    ***
    Tại CERN, Sylvie sững sờ nghe những lời phát biểu của Giáo chủ Thị thần. Là một tín đồ Cơ đốc, chưa bao giờ chị thấy tự hào đến thế. Là nhân viên của CERN, cũng chưa bao giờ chị cảm thấy xấu hổ đến mức này. Rời khỏi khu giải trí, chị thấy tất cả các phòng đều chung một bầu không khí nặng nề và buồn bã. Sylvie quay lại văn phòng của Kohler, tất cả bảy máy điện thoại đều đang đổ chuông. Điện thoại của báo chí không bao giờ được nối máy tới văn phòng của Kohler, nên chắc chắn những cuộc gọi này là vì cùng một lý do.
    Vì tiền.
    Kỹ thuật phản vật chất đã có người mua.
    ***
    Trong thành Vatican, Gunther Glick như đang đi trên mây. Anh đang theo Giáo chủ Thị thần ra khỏi nhà nguyện Sistine. Glick và Macri vừa làm một buổi truyền hình trực tiếp để đời. Quả là một chương trình tuyệt vời. Giáo chủ Thị thần quả là một nhà hùng biện tài ba.
    Ra ngoài hành lang, Giáo chủ Thị thần quay sang bảo Glick và Macri:
    - Ta đã yêu cầu lính gác Thuỵ Sĩ chuẩn bị sẵn ảnh cho anh - ảnh các vị Hồng y bị đóng dấu sắt nung, cả ảnh của Đức Thánh Cha đã tạ thế nữa. Ta phải báo trước cho anh biết là những bức ảnh này không được dễ chịu lắm đâu. Những dấu sắt nung trông rất khủng khiếp. Những cái lưỡi đen sì. Nhưng ta muốn nhờ anh phát những bức ảnh đó đi cho cả thế giới được thấy.
    Glick cảm tưởng như ngày lễ Giáng sinh đang kéo dài vĩnh viễn trong thành Vatican. Giáo chủ Thị thần yêu cầu mình phát đi những bức ảnh độc quyền chụp cố Giáo hoàng thật sao?
    - Cha thực sự muốn làm điều đó ạ? - Glick hỏi, cố không để lộ sự phấn khích trong lòng.
    Giáo chủ Thị thần gật đầu:
    - Lính gác Thuỵ Sĩ cũng sẽ cung cấp cho anh hình ảnh camera của hộp phản vật chất đang đếm ngược thời gian.
    Glick trợn tròn mắt. Giáng sinh! Giáng sinh! Giáng sinh!
    - Illuminati sẽ nhanh chóng phát hiện ra rằng chúng đã cường điệu hoá khả năng của bản thân. - Giáo chủ Thị thần tuyên bố.


    Chương 96


    Giống như điệp khúc của một bản giao hưởng hãi hùng, bóng tối ngột ngạt lại một lần nữa quay trở lại.
    Không có ánh sáng. Không có dưỡng khí. Không có lối ra.
    Nằm trong cỗ quan tài đá lộn ngược, Langdon thấy tâm trí mình đang ở sát mép vực thẳm. Để kéo những suy nghĩ trong đầu khỏi bầu không gian chật hẹp và ngột ngạt xung quanh, Langdon ép mình phải nghĩ về toán học, âm nhạc hay bất kỳ thứ gì. Nhưng những ý nghĩ an lành không thể nảy nở nổi. Mình không thở được! Mình không cử động được!
    May mắn là bên tay áo bị kẹt đã tuột được ra khi cỗ quan tài đổ sập hẳn xuống, lúc này Langdon có thể sử dụng cả hai cánh tay. Tuy thế, khi Langdon lấy cả hai tay đẩy mạnh, cỗ quan tài vẫn không hề suy chuyển. Quả là kỳ quặc, lúc này anh ước gì cánh tay trái lại bị kẹt như lúc trước. Ít ra thì còn có không khí để mà thở.
    Giơ hai tay định đẩy thêm một lần nữa, Langdon chợt trông thấy anh bạn chuột Mickey đang phát sáng. Khuôn mặt màu xanh của chú chuột trong phim hoạt hình như đang chế giễu anh.
    Langdon nhìn kỹ khắp cỗ quan tài để xem có luồng sáng nào không nhưng mép đá phẳng lỳ ăn sát xuống sàn nhà. Chủ nghĩa toàn mỹ kiểu Ý chết tiệt, anh thầm nguyền rủa. Giờ đây, Langdon đang bị đẩy vào tình thế hiểm nghèo, chính bởi sự hoàn mỹ trong nghê thuật mà anh vẫn dạy sinh viên của mình phải kính nể… những bờ mép hoàn hảo, những đường thẳng song song tuyệt đối và dĩ nhiên, trên một chất liệu duy nhất: đá hoa cương Carnara liền khối loại cứng nhất.
    Sự chuẩn xác đến chết người.
    Nhấc cái thứ quỷ quái này lên! - Langdon nói thành tiếng, tay cố đẩy mạnh hơn nữa. Cỗ quan tài hơi di chuyển chút xíu.
    Nghiến răng, anh lại dẩy một lần nữa. Nặng kinh khủng, nhưng lần này nó nhích lên được khoảng nửa phân. Một luồng sáng le lói xuất hiện quanh Langdon, rồi cái hộp đá lại nhanh chóng rơi phịch xuống. Trong bóng tối, Langdon nằm thở hổn hển. Anh thử dùng hai chân để đẩy lên, nhưng lúc này cỗ quan tài đã nằm ngang hẳn xuống, chẳng còn chỗ để co chân lên.
    Rồi cảm giác sợ bị giam hãm bủa vây lấy anh, Langdon nghĩ đến cảnh cỗ quan tài đá thu nhỏ lại và vây kín lấy bản chân mình. Kinh hãi, Langdon ráng sức huy động toàn bộ lý trí để xua đi hình ảnh kinh hoàng đó.
    "Cỗ quan tài đá". Langdon nói lên thành tiếng bằng tất cả sự dõng dạc và minh mẫn anh có thể huy động được. Nhưng hôm nay, cả đến học vấn cũng trở thành kẻ thù. Từ này bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp, nghĩa gốc của nó trong tiếng Hi Lạp là "cái hộp ăn thịt". Mình đang bị kẹt trong một "cái hộp ăn thịt".
    Những mường tượng về cái hộp sẽ ăn hết thịt và để lại bộ khung xương khiến anh càng nhớ đến bộ khung xương đang nằm ngổn ngang quanh anh. lúc này. Nghĩ đến sự thật đó, Langdon thấy buồn nôn và kinh hãi. Nhưng nó cũng khiến anh nảy ra một ý tưởng.
    Quờ quạng, mò mẫm trong cỗ quan tài, Langdon tìm được một mầu xương. Có phải xương sườn không nhỉ? Chẳng cần quan tâm. Anh đang cần một cái nêm. Nếu có nhấc được cái hộp đá này lên chút xíu, rồi chêm khúc xương này vào, thì sẽ có đủ không khí để…
    Vòng tay qua người, xếp đầu nhọn của khúc xương vào đúng chỗ cái khe giữa quan tài và nền đá, Langdon dùng tay kia ra sức chống mạnh lên. Cỗ quan tài không suy chuyển chút nào. Anh cố thêm một lần nữa. Trong tích tắc, hình như cái hộp đá nhúc nhích chút xíu. nhưng tất cả chỉ có thế.
    Thiếu khí ôxi, lại phải chịu đựng mùi hôi thối nồng nặc, Langdon biết anh chỉ còn đủ thời gian để cố thêm một lần nữa.
    Và cần phải dùng cả hai tay.
    Lần này, Langdon gài sẵn đầu nhọn của khúc xương vào chỗ cái khe, dịch người sát vào, dùng vai để đẩy khúc xương. Thận trọng để khúc xương khỏi văng đi mất, anh giơ cả hai tay lên. Bắt đầu thấy ngạt thở, Langdon chợt thấy sợ hãi. Lần thứ hai trong cùng một ngày, anh không có đủ dưỡng khí để thở. Hô to một tiếng, Langdon ráng hết sức đẩy hai tay thật mạnh. Cỗ quan tài bị đẩy cao lên trong một tích tắc. Nhưng thế là đã đủ. Anh đã dùng vai đẩy được khúc xương vào dưới mép đá. Khi cỗ quan tài rơi phịch xuống, mẩu xương vỡ vụn ra. Nhưng dù sao mép quan tài cũng đã bị chống lên chút xíu. Một luồng sáng yếu ớt chiếu xiên vào cạnh Langdon:
    Kiệt sức, anh nằm vật ra. Hy vọng cảm giác nghèn nghẹt ở cổ họng sẽ hết dần, anh kiên nhẫn đợi. Nhưng mỗi lúc cảm giác khó chịu đó càng mạnh thêm. Dù không khí có thể lọt qua cái khe, nhưng vẫn là quá ít. Không hiểu lượng dưỡng khí ít ỏi này có thể giúp anh tồn tại được không? Nếu được thì sẽ là bao lâu? Nếu anh không sống được, liệu có ai biết anh nằm ở đây hay không?
    Hai cánh tay nặng như chì, Langdon cố xem đồng hồ: 10 giờ 12 phút. Cố giữ cho ngón tay khỏi run, Langdon nỗ lực thêm một lần nữa. Anh xoay một núm, rồi nhấn một nút. Đầu óc bắt đầu mụ đi, những bức tường đá xung quanh như thu hẹp lại, Langdon lại trải qua cảm giác kinh hãi thuở còn bé.
    Như bao lần trước, anh cố tưởng tượng rằng mình đang ở ngoài bãi trống. Hình ảnh ấy hiện ra trong óc, nhưng chẳng có tác dụng gì. Cơn ác mộng ám ảnh anh từ thuở bé bỗng chốc quay trở lại…
    Hoa đẹp như tranh vẽ, cậu bé nghĩ thầm, vừa cười vừa chạy băng qua thảm cỏ. Cậu nghĩ giá có bố mẹ đi cùng thì thật là tuyệt nhưng bố mẹ còn đang bận cắm trại.
    Con đừng đi xa quá đấy nhé! - Mẹ chú dặn.
    Chú bé tảng lờ như không nghe thấy lời mẹ dặn..
    Chạy qua thảm cỏ thần tiên, cậu bé đến bên một đống đá xếp chồng lên nhau. Chắc là của một trang trại cũ. Không nên đến gần chỗ đó. Chú biết thế. Vả lại ánh mắt chú bé đã bị hút vào một bông hoa đồng nội tuyệt đẹp - giống hoa đẹp nhất và hiếm nhất ở New Hampshire mà chú chỉ mới được thấy trong sách mà thôi.
    Trong tâm trạng đầy phấn khích cậu bé đến gần cây hoa và quỳ xuống. Mặt đất xốp và mềm. Hoá ra cây hoa này đã chọn được một chỗ đẩt rất màu mỡ. Nó mọc lên giữa một đám cây mục.
    Háo hức với ý tưởng được mang bông hoa đẹp này về nhà, chú bé chìa tay ra… những ngón tay bé nhỏ vươn ra để chạm vào thân cây.
    Nhưng chú không thể nào lưới tới được.
    Nghe có tiếng nứt gẫy răng rắc, đất thụt xuống.
    Trong ba giây đồng hồ khủng khiếp, lúc bị ngã nhào xuống, chú biết mình sẽ phải chết. Bị ngã lộn nhào, cậu bé tưởng sẽ bị va đập mạnh đến gãy xương, nhưng hoá ra chẳng hề đau đớn chút nào. Chỉ có cảm giác mềm mại.
    Và lạnh.
    Chú ngã vục mặt xuống vũng chất lỏng lạnh giá và tối tăm đó. Cuộn mình, quẫy đạp lung tung, chú sờ thấy xung quanh chỗ nào cũng là tường dựng đứng. Theo bản năng, chú bé ngóc đầu lên.
    Ánh sáng.
    Rất yếu ớt. Từ trên toả xuống. Dường như từ cách xa hàng dặm.
    Hai tay chú bé khua khua trong làn nước lạnh, cố tìm một cái gờ hay mấu nào đó để bám vào, nhưng chỉ thấy toàn đá trơn tuột. Hoá ra chú bé đã ngã xuống một cái giếng nước bỏ hoang. Chú gào to kêu cứu nhưng chỉ nghe thấy tiếng vọng dội từ trong lòng giếng sâu hun hút. Chú bé gọi mãi, gọi mãi. Trên cao, cái miệng giếng nham nhở tối dần.
    Đêm xuống.
    Trong bóng tối, thời gian như kéo dài vô tận. Lạnh quá, chú bé vẫn đạp chân để giữ cho người nổi lên, chú gào khóc và kêu cứu. Mường tượng cảnh những bức tường xung quanh đổ ụp xuống đầu, chôn sống mình, chú cảm thấy thật kinh hãi. Hai cánh tay mỏi nhừ. Mấy lần cảm tưởng như nghe thấy tiếng người, cậu bé gọi thật to, nhưng chỉ phát ra được những tiếng kêu tắc nghẹn… như trong một cơn ác mộng.
    Đêm về khuya, cái giếng như càng sâu thêm. Những bức tường như tiến sát vào nhau. Cậu bé cố đẩy người ra xa bức tường. Kiệt sức! Suýt nữa cậu bé đã đầu hàng. Nhưng mặt nước như đang đỡ lấy chú, làm dịu đi cơn hoảng loạn điên cuồng, cho đến khi toàn thân chú bé lạnh cóng.
    Khi đội cứu hộ đến, chú bé gần như đã bất tỉnh. Chú bé đã quẫy đạp trong nước liên tục 5 giờ đồng hồ. Hai ngày sau, tờ Boston Globe chạy trên trang nhất một hàng tít lớn: "Thần đồng bơi lội bé nhỏ và dũng cảm".


    Chương 97

    Tên sát thủ mỉm cười đánh xe vào một toà nhà xây bằng đá trông ra dòng sông Tiber. Hắn mang cô gái lên cao… đi dọc theo một đường hầm xây bằng đá. May mà cô gái có vóc người mảnh khảnh.
    Hắn đã đến bên cánh cửa.
    Đền thờ ánh sáng, hắn lầm bầm. Phòng họp cổ xưa của hội Illuminati. Làm sao có thể ngờ được rằng nó ở ngay chỗ này cơ chứ.
    Vào bên trong, hắn đặt cô gái lên một cái tràng kỷ bọc da sang trọng. Rất thành thục, hắn trói chặt hai tay cô gái ra sau lưng, rồi trói hai cổ chân lại. Những gì hắn thèm khát sẽ phải hoãn lại đến khi mọi việc được hoàn tất. Nước.
    Nhưng hắn vẫn có thể tự dành cho mình chút xíu thời gian, tên sát thủ thầm nghĩ. Quỳ xuống bên cô gái, hắn vuốt ve cặp đùi thon dài và mềm mại. Bàn tay hắn lần lên cao hơn. Những ngón tay đen đúa lần lên trên gấu quần soóc. Cao hơn nữa.
    Rồi hắn dừng phắt lại. Phải kiên nhẫn, chợt tỉnh ra, hắn tự nhắc nhở bản thân. Phải làm xong việc trước đã.
    Hắn bước ra ngoài ban công mát rượi. Làn gió đêm nhanh chóng làm dịu đi cơn thèm khát man dại trong hắn. Tít dưới kia, sông Tiber vẫn đang chảy xiết. Hắn ngước nhìn mái vòm của Đại thánh đường St. Peter, cách hắn khoảng ba phần tư dặm, hiện ra rõ mồn một trong ánh sáng phát ra từ hàng trăm máy quay.
    - Giờ khắc cuối cùng đã tới. - Hắn nói to thành tiếng, trong lòng nghĩ tới hàng ngàn chiến binh Hồi giáo đã bị sát hại trong cuộc Thập tự chinh. - Đêm nay, các vị sẽ được đoàn tụ với Chúa của mình.
    Sau lưng hắn, cô gái bắt đầu cựa quậy. Tên sát thủ quay lại. Hắn cân nhắc xem có nên để cô gái thức dậy hay không. Nỗi khiếp đảm trong ánh mắt của phụ nữ luôn là liều thuốc kích dục tuyệt vời nhất đối với hắn.
    Nhưng hắn chọn giải pháp chắc chắn hơn. Tốt nhất là cứ để cho cô gái nằm bất tỉnh trong khi hắn đi vắng. Dù cô gái đã bị trói chặt và không thể nào trốn thoát được, nhưng hắn không muốn để cho con mồi của mình mệt lả đi vì giãy giụa quá nhiều. Ta muốn cô em khỏe mạnh… để ta còn thưởng thức.
    Nhẹ nhàng nâng đầu cô gái lên, hắn lần ngón tay tìm chỗ hõm ngay dưới xương sọ. Hắn đã từng điểm vào huyệt đạo kiểu này nhiều lần rồi. Với sức mạnh của loài mãnh thú, hắn nhấn ngón tay vào lớp xương sụn mềm, rồi ấn mạnh xuống. Cô gái nằm vật ra ngay lập tức. 20 phút thôi mà, hắn thầm nghĩ. Con mồi này sẽ là một kết thúc hoàn hảo cho một ngày tuyệt vời. Sau khi thưởng thức cô gái, chứng kiến cô ta chết ngay trên tay mình, hắn sẽ bước ra ban công để thưởng ngoạn pháo hoa trên bầu trời Vatican.
    Để con mồi nằm nguyên trên đi-văng, hắn xuống cầu thang, bước vào một căn phòng tối tăm, chỉ có một cây đuốc duy nhất toả sáng. Nhiệm vụ sau cùng. Hắn bước tới bên bàn, kính cần nhìn con dấu thiêng bằng sắt đã được để sẵn ở đó.
    Nước. Con dấu sau cùng.
    Như ba lần trước, hắn rút cây đuốc trên tường; nung cho con dấu nóng đỏ lên. Khi toàn bộ con dấu đã nóng đỏ, hắn bước vào trong ngục.
    Một người đang đứng yên lặng: Già nua và cô độc.
    - Này Hồng y Baggia. - Hắn rít lên - Ông đã cầu nguyện chưa đấy?
    Đôi mắt của vị Hồng y già người Ý không chút sợ hãi:
    - Ta đã cầu nguyện cho linh hồn của ngươi đấy!


    Chương 98


    Sáu người lính cứu hoả đã nhận được lệnh dùng khí Halon để dập tắt ngọn lửa bốc cao trong nhà thờ Santa Maria Della Vittoria. Dùng nước đỡ tốn kém hơn nhiều, nhưng sẽ làm tổn hại đến các bức bích hoạ trong nhà nguyện. Vatican đã trả lương rất hậu cho các đội cứu hoả ở Rome để bảo vệ các công trình do Vatican sở hữu.
    Do đặc thù công việc của mình, những người lính cứu hoả này gần như ngày nào cũng phải chứng kiến các bi kịch, nhưng những gì xảy ra trong nhà thờ này sẽ ghi dấu ấn rất đậm trong tâm trí. họ. Quang cảnh trong nhà thờ như được dựng lại từ những cơn ác mộng, phần giống như giàn thiêu, phần giống như một cái giá treo, phần như bị thiêu sống.
    Rủi thay, như mọi khi, cánh nhà báo đã nhanh chân hơn họ. Những người này đã quay phim chụp ảnh rất nhiều trước khi đội cứu hoả bắt tay vào hành động. Khi những người lính cứu hoả cắt được sợi dây thừng và hạ cái xác xuống mọi người nhận ra ngay lập tức đó là ai.
    - Hồng y Guidera, - một người thì thào. - Phụ trách giáo xứ Barcelona.
    Nạn nhân bị lột hết quần áo. Nửa dưới cơ thể bị cháy đen sì, máu rỉ ra từ hai vết rách toạc trên đùi. Xương ống chân lòi cả ra ngoài. Một người lính cứu hoả nôn mửa ngay tại chỗ. Một người khác phải chạy ra ngoài để hít thở khí trời.
    Tuy nhiên, đáng sợ nhất vẫn là dấu khắc nung trên ngực nạn nhân. Kinh hoàng, người đội trưởng xoay cái thi thể đúng một vòng. Chắc chắn là bàn tay của quỷ Sa-tăng, anh ta lẩm bẩm, và lần đầu tiên trong đời, người đội trưởng làm dấu thánh.
    - Un altro corpol! - Một người kêu lên. Một người lính cứu hoả vừa phát hiện thêm một xác người nữa.
    Nạn nhân thứ hai thì người đội trưởng nhận ra ngay. Người đội trưởng khắc khổ của đội lính gác Thuỵ Sĩ, vốn không được những quan chức trong ngành hành pháp ưa thích. Anh ta gọi điện đến toà thánh, nhưng tất cả các đường dây đều bận. Dù sao thì vài phút nữa tin này cũng sẽ được phát trên ti-vi, đội lính gác Thuỵ Sĩ sẽ biết ngay thôi.
    Khi người đội trưởng đang đánh giá mức độ thiệt hại và cố mường tượng xem chuyện gì đã diễn ra trong thánh đường này, anh chợt nhìn thấy một cái hố chi chít vết đạn. Cỗ quan tài đá trong hốc đã bị lật khỏi bệ đỡ, rõ ràng là đã có một cuộc ẩu đả.
    Mọi thứ tan hoang. Phần này thì để cảnh sát xử lý, người đội trưởng thầm nghĩ và định quay đì.
    Đúng lúc ấy anh dừng ngay lại. Có một tiếng động phát ra từ trong cỗ quan tài lật úp. Thứ âm thanh mà những người lính cứu hoả không muốn nghe thấy chút nào.
    - Bomba!(2) - Anh hét to. - Tutti fuori!(3)
    Khi đội phá bom lật cỗ quan tài lên, họ phát hiện ra nguyên do của những tiếng bíp bíp ấy. Họ sững sờ, trợn tròn mắt.
    - Gọi bác sĩ! - Cuối cùng một người kêu lên. - Gọi bác sĩ ngay!
    Chú thích:
    (1) Un altro copro: Một xác người nữa!
    (2) Bomba: Bom
    (3) Tutti fuori: Tất cả tránh ra.


    Chương 99

    - Có tin tức gì của Olivetti không? - Giáo chủ Thị thần hỏi. Khi hộ tống Giáo chủ Thị thần từ nhà nguyện Sistine về phòng làm việc của Giáo hoàng, đại tá Rocher thấy ngài có vẻ mệt mỏi.
    - Không, thưa cha. Con sợ là chuyện tồi tệ nhất đã xảy ra rồi.
    Về đến phòng làm việc của Giáo hoàng, giọng nói của Giáo chủ Thị thần có vẻ nặng nhọc:
    - Ông đại tá này, tối nay ta chẳng còn làm thêm được gì nữa đâu. E rằng ta đã làm quá nhiều mất rồi. Ta sẽ cầu nguyện ở đây. Đừng làm phiền ta. Những gì còn lại xin phó thác nơi Chúa.
    - Vâng, chưa cha.
    - Muộn rồi đấy, ông đại tá ạ. Tiếp tục tìm cái hộp đi.
    - Con vẫn đang tiến hành rà soát đấy ạ. - Rocher lưỡng lự. - Hình như cái hộp đó được giấu ở một nơi rất kín đáo.
    Giáo chủ Thị thần chớp mắt, như thể ngài chưa hề nghĩ đến khả năng đó.
    - Đúng thế. Đúng 11 giờ 15 phút, nếu vẫn còn trong tình trạng nguy hiểm thì ông hãy sơ tán toàn bộ Hồng y đoàn. Ta tin tường ở ông. Chỉ yêu cầu ông một điều: Hãy để cho họ ra khỏi Vatican trong danh dự. Hãy đưa họ ra quảng trường St. Peter và để họ đứng sát cánh với toàn thế giới. Ta không muốn hình ảnh cuối cùng của toà thánh là những ông già hốt hoảng chạy ra đằng cửa hậu.
    - Vâng, thưa cha. Còn cha thì sao? Đến 11 giờ 15 phút con đến đón cha luôn nhé?
    - Không cần đâu!
    - Cha bảo sao ạ?
    - Ta sẽ rời nơi này khi linh hồn đến gọi ta đi.
    Có lẽ Giáo chủ Thị thần định sống chết với con thuyền sắp chìm, Rocher thầm nghĩ.
    Giáo chủ Thị thần mở cửa phòng làm việc của Giáo hoàng và bước vào trong.
    - Thật ra thì… - ngài quay sang Rocher. - Còn một việc nữa. Đêm nay căn phòng này lạnh lẽo quá, ta đang run lên đây.
    - Lò sưởi điện đã bị ngắt mất rồi. Để con nhóm lò sưởi cho cha.
    Giáo chủ Thị thần cười mệt mỏi:
    - Cảm ơn con. Cảm ơn con rất nhiều.
    Rocher ra khỏi phòng làm việc của Giáo hoàng. Giáo chủ Thị thần đang cầu nguyện bên tượng Đức mẹ đồng trinh Maria, trước ngọn lửa. Một cảnh tượng kỳ dị. Một bóng đen đang quỳ bên một đốm sáng bập bùng. Rocher đi đến cuối hành lang thì thấy một người lính chạy đến. Trong ánh nến lờ mờ, ông ta nhận ra ngay thiếu uý Chartrand, trẻ măng, mặt tái mét, rất sốt sắng.
    - Thưa đại tá. - Chartrand gọi lớn, chìa ra chiếc máy điện thoại. - Chắc là lời kêu gọi của Giáo chủ Thị thần đã có tác dụng rồi. Có một người gọi đến, nói rằng có thể giúp chúng ta. Người này gọi đến số máy nội bộ của toà thánh. Không hiểu thế nào mà ông ta lại có được số máy này.
    Rocher dừng bước:
    - Cái gì?
    - Ông ta yêu cầu được nói chuyện với cấp chỉ huy.
    - Có tin gì của Olivetti không?
    - Không ạ.
    Rocher cầm lấy điện thoại.
    - Đại tá Rocher đây. Tôi hiện là cấp chỉ huy ở đây.
    - Rocher, tôi sẽ tự giới thiệu về mình! - Đầu dây bên kia nói - Rồi tôi sẽ cho anh biết tiếp theo phải làm những gì.
    Khi người ấy nói xong và cúp máy, Rocher kinh ngạc. Giờ thì viên đại tá đã hiểu ông ta đang nhận mệnh lệnh của ai.
    ***
    Tại CERN, Sylvie Baudeloque đang ra sức ghi lại tất cả những tin nhắn được gửi đến số máy của Kohler về việc mua bản quyền phát minh. Đường dây cá nhân trên bàn bỗng đổ chuông, Sylvie giật nảy người. Không một ai có số máy này. Chị nhấc máy trả lời.
    - Tôi nghe.
    - Cô Baudeloque đấy à? Giám đốc Kohler đây. Hãy liên lạc với phi công của tôi. Bảo chuẩn bị máy bay riêng của tôi trong vòng 5 phút nhé.

  10. #20
    Hyakusho


    Thành Viên Thứ: 39011
    Giới tính
    Tổng số bài viết: 67
    Thanks
    0
    Thanked 5 Times in 3 Posts
    Chương 100


    Mở mắt ra, trông thấy mặt dưới của mái vòm nhà thờ được trang trí theo trường phái ba-rốc, Robert Langdon không biết anh đang ở đâu, và đã bất tỉnh trong bao lâu. Khói đang bốc lên. Miệng bị bịt. Hoá ra là mặt nạ ôxi. Langdon giật cái mặt nạ ra. Căn phòng này đặc quánh một thứ mùi khủng khiếp - như mùi thịt cháy.
    Langdon nhăn mặt, đầu đau như búa bổ. Anh cố sức ngồi dậy.
    Một người mặc bộ đồng phục màu trắng đang quỳ bên cạnh anh.
    - Riposati!(1) - Anh ta vừa nói vừa đẩy Langdon nằm xuống.
    Langdon phục tùng. Đầu óc choáng váng. Chuyện quái gì đã xảy ra nhỉ? Toàn thân anh đau nhức.
    - Topo salvatore(2), người nhân viên y tế nói - Chú chuột đã cứu mạng anh đấy.
    Langdon càng không hiểu gì. Chuột cứu mạng?
    Anh ta chỉ tay vào chiếc đồng hồ có hình chuột Mickey đeo trên cổ tay Langdon. Anh bắt đầu hiểu ra. Anh nhớ rằng mình đã đặt chế độ báo thức. Lơ đễnh, Langdon nhìn đồng hồ. 10 giờ 28 phút.
    Anh ngồi bật dậy.
    Thế rồi Langdon nhớ lại tất cả.
    Langdon đứng cạnh bàn thờ chúa, cùng với người đội trưởng đội cứu hoả và một số nhân viên của anh ta. Họ đã hỏi anh khá nhiều, nhưng Langdon như không nghe thấy gì. Anh cũng có những câu hỏi của riêng mình. Toàn thân đau như dần, nhưng Langdon biết cần phải hành động ngay lập tức.
    Một người lính cứu hoả tiến lại bên Langdon.
    - Tôi đã kiểm tra lại rồi, chỉ thấy có thi thể của Hồng y Guidera và chỉ huy đội lính gác Thuỵ Sĩ. Không thấy có thi thể phụ nữ nào cả.
    - Cảm ơn anh. - Langdon đáp, anh không hiểu nổi mình đang cảm thấy nhẹ nhõm hay lo lắng thêm. Chắc chắn anh trông thấy Vittoria nằm bất tỉnh trên sàn. Lúc này thì không thấy cô gái đâu nữa. Nguyên do duy nhất nảy ra trong đầu anh lúc này chẳng dễ chịu chút nào. Trên điện thoại, tên giết người tỏ ra chẳng chút gì gượng nhẹ. Cô có vẻ mạnh mẽ đấy. Tôi thích thế. Có thể lúc nào xong việc tôi sẽ đi tìm có em. Và lúc đó thì…
    Langdon nhìn quanh.
    - Đội lính gác Thuỵ Sĩ đâu rồi?
    - Vẫn không liên lạc được. Tất cả các số máy của Vatican đều bận.
    Langdon cảm thấy kiệt quệ và đơn độc. Olivetti đã chết. Vị Hồng y cũng đã từ trần. Vittoria thì bị mất tích. Loáng một cái, anh đã để mất nửa giờ quý giá trong đời.
    Ngoài kia, cánh nhà báo đã ùn ùn kéo đến. Chắc những hình ảnh về vị Hồng y Giáo chủ bị sát hại sắp được phát trên sóng, nếu không nói là bây giờ đã lên sóng rồi. Hi vọng Giáo chủ Thị thần đã sớm lường tới tình huống xấu nhất và đã kịp thời hành động. Phải sơ tán toàn bộ Vatican! Đủ lắm rồi! Chúng ta đã thua!
    Langdon chợt nhận: thấy tất cả những gì đã thúc đẩy anh phải nỗ lực suốt ngày hôm nay - nghĩa vụ giúp Vatican tìm hộp phản vật chất, cứu bốn vị Hồng y, đối diện với một hội kín mà anh đã bỏ công sức nghiên cứu về nó bao năm nay - tất cả những thứ ấy bỗng nhiên không còn tồn tại nữa. Họ đã thua. Anh cảm thấy trong tâm trí một sự thúc bách mới. Một nhiệm vụ đơn giản. Nhưng quan trọng hơn hết thảy.
    Tìm Vittoria.
    Langdon chợt cảm thấy trống trải. Anh đã từng nghe nói rằng những tình huống hiểm nghèo có thể gắn kết hai con người lại với nhau mà quãng thời gian hàng chục năm cũng chưa chắc đã làm nổi. Giờ thì anh bắt đầu tin rằng chuyện đó là có thật.
    Không có Vittoria, Langdon chợt cảm thấy một thứ tình cảm từ nhiều năm nay anh chưa một lần trải nghiệm. Sự cô đơn. Nỗi đau bỗng khiến anh trở nên mạnh mẽ.
    Gạt khỏi tâm trí tất cả mọi thứ khác, Langdon tập trung suy nghĩ. Cầu cho tên sát thủ sẽ tập trung làm cho xong việc của hắn trước khi nghĩ đến chuyện hưởng thụ. Nếu không thì lúc này đã là quá muộn. Không đâu, anh tự an ủi bản thân, mình vẫn còn thời gian. Hắn còn việc phải làm. Hắn còn phải xuất hiện thêm một lần cuối cùng nữa trước khi biến mất mãi mãi.
    Bàn thờ khoa học cuối cùng, Langdon thầm nghĩ. Tên sát thủ còn phải tiến hành một vụ hành quyết nữa. Đất. Khí Lửa. Nước.
    Langdon xem đồng hồ. 30 phút. Băng qua những người lính cứu hoả, anh lao đến bên Khoảnh khắc đê mê của thánh Teresa của Bernini và chăm chú quan sát. Lần này thì Langdon biết chắc chắn mình cần tìm cái gì.
    Thiên thần dẫn lối trên hành trình cao cả…
    Thiên thần của Bernini đang bay lượn ngay bên trên vị thánh, trên nến một lưỡi lửa mạ vàng. Trên tay thiên thần là một lưỡi giáo lửa, Langdon đưa mắt theo hướng cây giáo được giương lên cao, chỉ về bên tay phải thánh đường. Mắt Langdon chạm phải bức tường. Anh nhìn kỹ một lượt nhưng không thấy gì. Dĩ nhiên là lưỡi giáo này hướng về một địa điểm nữa bên ngoài bức tường này, trong màn đêm, đâu đó phía bên kia thành Rome.
    - Đây là hướng gì nhỉ? - Lòng tràn đầy quyết tâm! - Langdon quay sang hỏi người đội trưởng đội cứu hoả.
    - Hướng à? Anh ta liếc nhìn về phía tay Langdon đang chỉ, vẻ hơi bối rối. - Không rõ lắm… chắc là hướng Tây!
    - Ở phía ấy có nhà thờ nào không?
    Người đội trưởng càng có vẻ bối rối hơn.
    - Hàng chục nhà thờ. Để làm gì?
    Langdon nhíu mày. Dĩ nhiên là phải đến hàng chục rồi.
    - Tôi cắn một tấm bản đổ thành phố. Ngay lập tức.
    Người đội trưởng yêu cầu một nhân viên chạy về xe lấy bản đồ Langdon quay lại quan sát bức tượng Đất… Khí… Lửa… VITTORIA.
    Yếu tố cuối cùng là Nước, anh tự nhủ. Nước của Bernini. Trong một nhà thờ nào đó, đâu đây trong thành phố này. Như một cái kim giấu trong đống cỏ khô, Langdon điểm lại trong óc tất cả những tác phẩm của Bernini anh có thể nghĩ ra được lúc này. Cần tìm một tác phẩm liên quan đến Nước!
    Anh chợt nghĩ đến bức tượng Triton của Bernini - tượng thần biển của người Hi Lạp. Rồi lại nhớ ra rằng tác phẩm đó được đặt ở quảng trường ngay trước mặt thánh đường này, nhưng lại hoàn toàn sai hướng. Langdon cố tập trung suy nghĩ. Bernini đã tạo ra tác phẩm nào để tôn vinh nước nhỉ? Thần biển hay thần mặt trời nhỉ? Rủi thay, bức tượng đó đang được trưng bày ở bảo tàng Victoria và Albert ở tận London.
    - Thưa ông, bản đồ đây. - Một người lính cứu hoả mang lại cho Langdon tấm bản đồ thành phố.
    Sau khi cảm ơn người lính cứu hoả, Langdon trải rộng tấm bản đồ Ngay lập tức, anh biết mình đã hỏi đúng người cần hỏi; bản đồ thành Rome của đội lính cứu hoả quả là chi tiết.
    - Giờ chúng ta đang ở đâu?
    Anh ta đưa tay chỉ.
    - Gần quảng trường Barberini.
    Langdon lại quay sang nhìn theo hướng ngọn giáo giương cao của thiên thần. ước lượng của người đội trưởng quả là chính xác.
    Theo tấm bản đồ này thì ngọn giáo chỉ về hướng Tây. Gần như ngay lập tức, hi vọng của anh giảm hẳn đi. Dọc, theo vệt tay đi của Langdon, cứ một hai phân lại thấy có một công trình được đánh dấu bằng một chữ thập màu đen nhỏ xíu. Nhà thờ. Thành phố này dày đặc những nhà thờ. Hết vùng nội đô, ngón tay Langdon đi ra đến vùng ngoại thành. Thở hắt ra, anh xem lại một lần nữa. Khỉ thật!
    Quan sát bao quát bản đồ, Langdon xác định lại vị trí ba nhà thờ mà các vị Hồng y đã bị sát hại. Nhà nguyện Chigi… Quảng trường St. Peter… và ở đây…
    Xác định xong cả ba vị trí, Langdon cảm thấy những địa danh này có gì đó đặc biệt. Lúc đầu anh nghĩ những địa điểm này sẽ nằm rải rác trong thành Rome, nhưng rõ ràng không phải thế.
    Thật kinh ngạc, ba thánh đường này được bố trí ở những khoảng cách đều nhau, tạo thành một hình tam giác lớn trải rộng khắp thành phố. Langdon kiểm tra lại một lần nữa. Không phải là anh tự tưởng tượng.
    - Cho tôi cái bút. - Anh nói, không ngẩng mặt lên.
    Ai đó đưa cho Langdon một cây bút.
    Anh khoanh tròn ba nhà thờ. Tim đập thình thịch. Rồi kiểm tra lại một lần nữa. Hình tam giác đều!
    Thoạt đầu Langdon nghĩ đến hình con dấu vĩ đại trên tờ bạc một đô la - một hình tam giác bao quanh con mắt nhìn thấu suốt. Nhưng như thế không có nghĩa. Anh mới đánh dấu được có ba điểm. Cần phải có bốn điểm mới đủ.
    Nước ở chỗ nào nhỉ? Thêm một điểm nữa vào bất kỳ chỗ nào thì hình tam giác đều cũng sẽ bị phá vỡ. Điểm duy nhất có thể bảo toàn được sự cân đối là ở trong hình tam giác, đúng vào tâm điểm. - Anh nhìn vào điểm ấy trên bản đồ. Không có gì. Nhưng ý tưởng đó vẫn khiến anh phải suy nghĩ. Bốn nguyên tố của khoa học được coi là đồng đẳng. Nước không có gì đặc biệt; nước không thể được đặt ở giữa ba nguyên tố còn lại.
    Thế nhưng bản năng vẫn mách bảo Langdon rằng hình tam giác đều này không thể là sự ngẫu nhiên. Mình vẫn chưa thấy hết toàn bộ bức tranh cơ mà! Chỉ còn một lựa chọn nữa. Nếu bốn điểm không tạo ra hình tam giác thì phải là một hình khác nữa.
    Langdon lại nhìn bản đồ. Biết đâu lại là hình vuông? Dù không hợp lý lắm, nhưng ít ra thì hình vuông còn có tính cân đối.
    Langdon đặt ngón tay lên một điểm trên bản đồ để biến tam giác thành hình vuông. Anh lập tức nhận thấy rằng hình vuông là không hợp lý. Các thiên thần ở ba địa điểm này chỉ tay về những hướng chếch nhau, tạo ra một hình tứ giác rất méo mó.
    Xem xét thêm một vài điểm nữa trên bản đồ, Langdon chợt phát hiện ra. Anh nhận thấy đường thẳng trước đó anh vừa vạch ra để chỉ theo hướng mũi giáo của thiên thần đi qua một trong những địa điểm anh phỏng đoán. Kinh ngạc. Langdon khoanh tròn điểm đó. Lúc này, anh quan sát bốn địa điểm được đánh dấu bằng bút bi, tạo thành viên kim cương hình cái diều khá kỳ dị.
    Langdon nhíu mày. Kim cương cũng không phải là biểu tượng của Illuminati. Ngừng một lát. Thế nhưng…
    Trong thoáng chốc, Langdon nhớ đến viên kim cương Illuminati nổi tiếng. Tuy nhiên, ý nghĩ này thật kỳ quặc. Bên cạnh đó, viên kim cương này trông như một cái điều - khó có thể là một ví dụ cho tính khuôn mẫu, đối xứng của viên kim cương Illuminati vốn rất được tôn sùng.
    Cúi xuống để nhìn cho kỹ địa điểm vừa đánh dấu, Langdon ngạc nhiên thấy nó rơi đúng vào trung tâm quảng trường Navona nổi tiếng của thành Rome. Anh biết cạnh quảng trường này là một thánh đường, nhưng ban nãy Langdon đã đi ngón tay qua, và đã nghĩ đến nó rồi. Theo như anh biết thì trong đó không có tác phẩm nào của Bernini cả. Thánh đường này có tên là Nỗi đau của thánh Agnes. Thánh Agnes là một thiếu nữ trẻ xinh đẹp, đã chấp nhận kiếp sống khổ nhục của một nô lệ tình dục chứ không chịu từ bỏ đức tin của mình.
    Chắc chắn trong nhà thờ này phải có cái gì đó! Langdon cố vắt óc mường tượng quang cảnh bên trong thánh đường. Anh chẳng nhớ ra tác phẩm nào của Bernini trong đó, liên quan đến nước thì lại càng không. Những sắp đặt hiện ra trên bản đồ cũng khiến Langdon băn khoăn. Hình viên kim cương. Đủ chính xác để không thể là ngẫu nhiên được, nhưng lại chưa đủ độ tuyệt đối để thể hiện bất kỳ ý nghĩa nào. Hay là cái diều? Hay là Langdon đánh dấu không chính xác? Mình đá bỏ sót chi tiết nào rồi!
    Mất thêm 30 giây nữa anh mới nghĩ ra câu trả lời khi đã có câu trả lời, anh thấy vô cùng phấn khởi, chưa một giây phút nào trong sự nghiệp khoa học của mình khiến anh phấn khởi đến thế.
    Dường như thiên tài của Illuminati không bao giờ bỏ qua chi tiết nào.
    Đây không phải là hình viên kim cương. Bốn điểm này tạo ra hình viên kim cương chỉ vì Langdon mới nối những điểm lân cận với nhau. Illuminati tôn thờ sự đối xứng! Tay run run, Langdon nối hai cặp đỉnh đối diện. Trước mắt anh hiện ra hình cây thập tự khổng lồ. Là hình chữ thập! Bốn nguyên tố đầu tiên của khoa học hiện ra trên tấm bản đồ… nằm rải rác khắp thành Rome, tạo thành một chữ thập lớn trải rộng khắp thành phố.
    Tròn mắt kinh ngạc, Langdon nhớ lại dòng thơ ấy… như một người bạn cũ, nay bỗng dưng mang một khuôn mặt mới.
    "Nguyên tố huyền bí hiển hiện khắp thành Rome…
    "Khắp thành Rome…
    Sương mù bắt đầu tan. Hoá ra câu trả lời đã ở ngay trước mắt anh từ lâu rồi! Bài thơ của hội Illuminati đã mách bảo anh cách thức các nguyên tố này được bố trí. Khắp.
    "Nguyên tố huyền bí hiển hiện khắp thành Rome…
    Quả là lối chơi chữ thông minh. Lúc đầu Langdon không để ý lắm đến từ "khắp". Anh tưởng sự lựa chọn từ này chỉ là để đáp ứng yêu cầu về nhịp phách của dòng thơ. Hoá ra không chỉ có thế?
    Lại thêm một đầu mối nữa hiện ra.
    Hoá ra hình chữ thập trên bản đồ thề hiện tính đối ngẫu tuyệt đối mà Illuminati tôn sùng. Nó là một biểu tượng tôn giáo, được tạo nên bởi bốn nguyên tố của khoa học. Con đường ánh sáng của Galileo tôn vinh cả khoa học lớn Chúa trời!
    Phần còn lại của câu đố hóc búa hiện ra gần như tức thì.
    Quảng trường Navona.
    Chính giữa quảng trường Navona, trước mặt nhà thờ Nỗi đau của thánh Agnes, là một trong những tác phẩm trứ danh nhất của Bernini. Tất cả những ai đến thăm thành Rome đều muốn chiêm ngưỡng tác phẩm này.
    Đài phun nước. Bốn dòng sông!
    Một cách thức tuyệt hảo để tôn vinh nước. Đài phun, nước. Bốn dòng sông của Bernini ngợi ca bốn dòng sông lớn của cựu lục địa - sông Nile, Ganges, Danube và Rio Plata.
    Nước, Langdon thầm nghĩ. Đầu mối cuối cùng. Thật hoàn hảo.
    Thêm một chi tiết tuyệt vời nữa, như một trái sơ-ri ngọt ngào trên chiếc bánh ga-tô, chính là toà Kim tự tháp bằng đá ngay giữa đài phun nước này.
    Đứng phắt dậy, mặc kệ những người lính cứu hoả còn đang ngơ ngác, Langdon chạy tới bên thi thể của Olivetti.
    10 giờ 32 phút rồi, anh thầm nghĩ. Vẫn còn thiếu thời gian. Lần đầu tiên trong ngày hôm nay, Langdon cảm thấy mình đi trước được một bước.
    Quỳ xuống bên xác Olivetti, khuất sau mấy hàng ghế, Langdon kín đáo rút khẩu súng bán tự động và chiếc máy bộ đàm ở lưng ông ta. Anh phải gọi người ứng cứu, nhưng không phải ở đây.
    Lúc này cần phải giữ bí mật về bàn thờ khoa học cuối cùng. Đám đông các nhà báo cùng với đội xe cảnh sát rú còi ầm ỹ lao về phía quảng trường Novona sẽ chẳng được tích sự gì.
    Không nói không rằng, Langdon lẻn ra khỏi cửa, vòng ra sau lưng đám nhà báo lúc này đang lũ lượt kéo vào trong thánh đường.
    Anh đi qua quảng trường Babernini, ra đến một góc tối, anh bật máy bộ đàm. Anh ra sức gọi nhưng chẳng thấy có tín hiệu. Một là anh đã ở ngoài vùng phủ sóng, hai là để sử dụng chiếc máy này cần biết một tần số đặc biệt nào đó. Langdon ra sức điều chỉnh những cái nút và cần gạt, nhưng chẳng tác dụng gì. Đột nhiên, anh nhận thấy kế hoạch gọi người đến trợ giúp không còn khả thi nữa. Langdon lập tức chạy đi tìm bốt điện thoại. Không có. Mà dù sao thì các đường dây của Vatican cũng đều bận hết rồi.
    Đơn độc. Cảm giác tự tin lúc đầu nhanh chống biến mất. Langdon đứng lặng đi, nghĩ đến tình cảnh thảm hại của mình: người dính đầy vụn xương mục, bị thương, kiệt sức và đói.
    Anh quay lại nhìn nhà thờ. Khói đen cuồn cuộn trên mái vòm sáng trưng dưới ánh đèn máy quay và xe cứu hoả. Anh phân vân không biết có nên quay vào đó nhờ người giúp đỡ hay không.
    Nhưng bản năng mách bảo rằng sự trợ giúp của những người không có chuyên môn sẽ chi mang lại nhiều bất lợi. Nhỡ tên sát thủ trông thấy mọi người kéo đến… Anh nghĩ đến Vittoria, và biết rằng đây là cơ hội cuối cùng để tóm được hung thủ.
    Quảng trường Navona, anh nghĩ, thầm biết rằng còn đủ thời gian để đến đó và khoanh vùng địa điểm. Anh nhìn quanh tìm xe taxi, nhưng phố vắng tanh. Hình như cả cánh lái xe taxi cũng bỏ hết mọi thứ để ngồi trước màn hình ti-vi. Quảng trường Navona chỉ cách có một dặm nhưng Langdon không muốn phung phí sức lực bằng cách cuốc bộ đến đó. Anh lại nhìn nhà thờ, cân nhắc khả năng mượn xe của ai đó để đi.
    Xe cứu hoả? Xe hòm của nhà báo? Phải cẩn thận.
    Biết rằng càng do dự thì càng dễ để tuột mất cơ hội, Langdon nhanh chóng quyết định. Rút súng ra, anh hành động khác hẳn phong cách thường ngày của bản thân mình, khác đến mức Langdon nghĩ mình đã bắt đầu bị quỷ ám. Chạy đến bên một chiếc xe Citroen đang đỗ bên lề đường, Langdon chĩa súng vào người lái xe đang ngồi bên trong và hét lên:
    - Fuori!(3)
    Người lái xe run rẩy bước xuống.
    Langdon nhảy ngay vào ngồi sau vô lăng và kéo cần ga.
    Chú thích:
    (1) Riposati: Nằm nghỉ đi.
    (2) Topo salvatore: Chú chuột cứu mạng.
    (3) Fouri: Ra ngoài!


    Chương 101


    Gunther Glick đang ngồi uống nước trong văn phòng của đội lính gác Thuỵ Sĩ. Anh đang cầu khấn tất cả các vị thần linh trên đời. Xin cho tối nay không phải là một giấc mơ. Glick đã đưa được một bản tin để đời. Bản tin mà mọi phóng viên đều ao ước.
    Lúc này, tất cả các phóng viên trên khắp hành tinh đều mơ ước được ở vào địa vị của Glick. Mình đang tỉnh đấy chứ, anh ta tự nhủ. Và mình vừa trở thành một ngôi sao. Dan Rather lúc này sắp phát khóc lên rồi.
    Macri ngồi ngay cạnh Glick, có vẻ kinh ngạc. Glick không trách gì cô ta hết. Ngoài việc truyền hình trực tiếp bài phát biểu của Giáo chủ Thị thần, hai người đã cho cả thế giới xem những bức ảnh kinh hoàng về Giáo hoàng và các vị Hồng y - cái lưỡi của Người! Và cả hình ảnh trực tiếp về chiếc hộp chứa phản vật chất đang đếm ngược thời gian. Không thể tin nổi!
    Dĩ nhiên là tất cả đều do mệnh lệnh của Giáo chủ Thị thần, cho nên lúc này hai người mới bị nhốt trong văn phòng của đội lính gác Thuỵ Sĩ. Đội lính gác không hài lòng về những thông tin ngoài lề mà Glick đã đưa thêm. Biết rằng mình không được phép nghe cuộc đàm thoại đó, nhưng đó là cơ hội ngàn năm có một. Một hành động phi thường nữa của Glick!
    - Nhân vật bác ái lúc 11 giờ đêm là thế nào? - Macri rên rỉ, có vẻ không thích thú chút nào.
    Glick mỉm cười:
    - Ý tưởng thông minh đấy chứ?
    - Thông minh cái con khỉ.
    Cô ta đang ghen, Glick biết thế. Không bao lâu sau khi truyền hình trực tiếp bài phát biểu của Giáo chủ Thị thần, Glick lại tình cờ có mặt đúng lúc và đúng chỗ. Anh nghe lỏm được những mệnh lệnh mới của Rocher. Rõ ràng là ông đại tá này đã nhận được một cú điện thoại của một nhân vật bí ẩn, người mà Rocher cho rằng có những thông tin có tính chất sống còn trong tình huống ngàn cân treo sợi tóc này. Nghe khẩu khí của Rocher thì người này có thể giúp họ, và ông ta ra lệnh chuẩn bị đón khách.
    Dù thông tin này thuộc loại bí mật, nhưng Glick đã hành động như tất cả những phóng viên tận tâm khác - không đếm xỉa đến danh dự. Anh ta tìm một góc tối, bảo Macri bí mật bấm máy quay từ xa, và thông báo tin đó.
    "Những tiến triển gây sốc bên trong thành phố của Chúa", Glick đã nói thế, anh ta lại còn nheo nheo mắt để tăng thêm độ biểu cảm. Sau đó anh ta thông báo rằng một vị khách bí ẩn sẽ đến cứu Vatican. Glick còn gọi người đó là nhân vật bác ái lúc 11 giờ khuya, cái tên thật thích hợp với một người giấu mặt xuất hiện vào phút chót, ra tay làm việc nghĩa. Tất cả các hệ thống phát thanh truyền hình khác lập tức chộp lấy tin đó, và lại một lần nữa Glick trở thành bất tử.
    Mình quả là xuất sắc, Glick thầm nghĩ. Peter Jenning chắc phải ghen tị đến mức nhảy cầu tự vẫn mất thôi.
    Dĩ nhiên là anh ta không chịu dừng ở đó. Nhân lúc cả thế giới đang chú ý đến mình, anh ta đã thêm mắm thêm muối vào cho mùi mẫn.
    Xuất sắc! Vô cùng xuất sắc!
    - Anh nói dối. - Macri nói - Đó hoàn toàn là điều bịa đặt.
    - Cô nói cái gì thế Tôi cực kỳ thông minh chứ!
    Macri trợn tròn mắt, tỏ vẻ không tin.
    - Cựu tổng thống George Bush, ông ấy là thành viên của Illuminati thật sao?
    Glick mỉm cười. Hiển nhiên đến thế còn gì nữa? Có vô số tài liệu về ông ta, Hội viên hội Tam Điểm, và là người đứng đầu CIA đúng vào thời gian cơ quan này quyết định dừng điều tra về Illuminati vì thiếu chứng cớ. Và những bài phát biểu về "một ngàn đốm sáng" và "một trật tự thế giới mới"… rõ ràng Bush là hội viên của Illuminati.
    - Thế còn những chi tiết về CERN thì sao? - Macri nghiêm mặt. - Sáng mai anh sẽ phải đối mặt với hàng loạt luật sư đến kiện cáo đấy!
    - CERN à? Thôi đi mà! Điều đó quá hiển nhiên rồi còn gì! Cô nghĩ mà xem! Illuminati biến mất vào những năm 1950, đúng vào thời điểm CERN được thành lập. Đó là nơi quy tụ những bộ óc sáng láng nhất hành tinh. Hàng núi tiền tài trợ từ các cá nhân. Họ tạo ra một thứ vũ khí có khả năng phá huỷ các thánh đường, và rồi đùng một cái… vũ khí đó bị mất cắp!
    - Và anh muốn cả thế giới tin rằng CERN là trụ sở mới của Illuminati chứ gì?
    - Dĩ nhiên! Các hội kín có bao giờ biến mất hoàn toàn đâu. Illuminati chắc chắn phải rút vào một địa điểm nào đó chứ. CERN là nơi ẩn náu lý tưởng cho họ. Biết đâu đó còn là hang ổ của hội Tam Điểm ấy chứ! Đa số các nhân viên bình thường thì có thể không biết gì, nhưng những cấp lãnh đạo thì…
    - Anh đã bao giờ nghe nói tới tội vu khống chưa? Về các trách nhiệm pháp lý ấy.
    - Thế cô đã bao giờ biết thế nào là nghề báo thực thụ chưa?
    - Nghề báo cái gì? Anh đưa toàn những tin bịa đặt! Đáng ra lúc ấy tôi phải tắt ngay máy đi! Lại còn những điều lảm nhảm về lô-gò hợp nhất của CERN nữa chứ. Biểu tượng của quỷ là thế nào? Anh mất trí rồi hay sao đấy?
    Glick mỉm cười. Rõ ràng là Macri đang ghen tị đây mà. Ý tưởng vế lô-gô của CERN hiển nhiên là ý tưởng thông minh nhất. Từ sau khi Giáo chủ Thị thần phát biểu trực tiếp, tất cả các kênh truyền hình đều nói về CERN và về phản vật chất. Một số kênh còn lấy luôn lô-gô của viện nghiên cứu đó làm phông nền. Thoạt nhìn thì biểu tượng đó trông khá chuẩn - hai hình tròn giao nhau tượng trưng cho hai máy gia tốc hạt, và năm đường tiếp tuyến tượng trưng cho các ống bắn hạt. Cả thế giới đang quan sát lô-gô đó, nhưng với tố chất của một nhà biểu tượng học, chính Glick là người luận ra được những biểu tượng của hội Illuminati ẩn trong đó.
    - Anh đâu phải là nhà biểu tượng học. - Macri khiển trách - Anh chỉ là một gã phóng viên chết dẫm đang vớ bở. Đáng ra phải để câu chuyện về cái biểu tượng ấy cho anh chàng Harvard kia kìa.
    - Anh ta có để ý đến nó đâu! - Glick đáp.
    Ý nghĩa biểu tượng của hội Illuminati trên lô-gô đó quá rõ ràng rồi còn gì nữa!
    Glick như mở cờ trong bụng. Dù CERN sở hữu rất nhiều máy gia tốc hạt, trên lô-gô chỉ có hai cái. Hai chính là con số chẵn được ưa chuộng của Illuminati. Mặc dù tất cả các máy gia tốc hạt chỉ có một ống bắn hạt mà thôi, trên lô-gô có những năm ống. Năm chính là con số tượng trưng cho ngôi sao năm cánh của Illuminati. Và thế là Glick đã táo bạo hành động - đó mới chính là điểm mấu chốt nhất. Glick chỉ ra rằng trên lô-gô có một con số 6 rất lớn - rõ ràng là một trong những vòng tròn và những đường thẳng đã tạo ra con số đó. Và khi xoay ngược lô-gô, lại một số 6 nữa hiện ra… đến số 6 thứ ba. Trên lô-gô có ba con số 6 tất cả! 666! Con số của quỷ!
    Glick quả là thiên tài.
    Macri có vẻ như đang muốn bóp chết anh.
    Cảm giác ghen tị rồi sẽ hết thôi, Glick biết thế. Đầu óc anh lúc này đang mơ tưởng đến chuyện khác. Nếu CERN chính là đại bản doanh của Illuminati thật, thì không hiểu viên kim cương Illuminati được cất giấu ở chỗ nào? Glick đã từng đọc về viên kim cương đó trên mạng - một viên kim cương hoàn hảo, được tạo ra từ loại đá quý nguyên thuỷ, với sự chuẩn xác đến nỗi tất cả những ai được nhìn thấy nó đều phải trầm trồ thán phục.
    Glick mơ màng, biết đâu tung tích của viên kim cương Illuminati là một bí ẩn nữa mà anh ta có thể khám phá trong đêm nay.


    Chương 102

    Quảng trường Navona. Đài phun nước Bốn dòng sông.
    Đêm ở thành Rome giống như trên sa mạc, lạnh đến mức kỳ lạ dù sau một ngày nắng ấm. Langdon đang hối hả sải bước trên quảng trường, áo khoác quấn sát vào người. Ý như tiếng rầm rầm của xe cộ, tiếng lao xao của các bản tin được phát đi vang vọng khắp nơi. Anh xem đồng hồ. 15 phút. May mắn là còn vài phút để nghỉ ngơi.
    Quảng trường vắng tanh. Đài phun nước, tuyệt tác của Bernini đang phun xì xì như có ma thuật. Đài phun nước tạo ra một đám sương, được chiếu sáng từ dưới bằng những ngọn đèn đặt ngầm dưới nước. Dường như một luồng điện lạnh lẽo nào đó đang bao trùm khắp không gian.
    Đặc điểm được ca ngợi nhiều nhất của đài phun nước này chính là độ cao của nó. Chỉ riêng phần lõi của đài phun đã cao tới 7 mét - một tảng non bộ bằng đá cẩm thạch để thô, có vô số hốc nhỏ phun nước ra. Toàn bộ quả núi nhỏ này được trang trí bằng các hoạ tiết có tính ngoại đạo. Trên đỉnh núi là một Kim tự tháp cao 12 mét. Langdon ngước mắt nhìn lên. Trên đỉnh Kim tự tháp có một chú chim bồ câu lặng lẽ, đơn độc.
    Hình chữ thập, Langdon thầm nghĩ, anh vẫn chưa hết kinh ngạc về cách thức bố trí các đầu mối của con đường trên khắp thành Rome. Đài phun nước Bốn dòng sông của Bernini chính là bàn thờ khoa học cuối cùng. Cách đây vài giờ đồng hố, Langdon còn đang đứng trong điện Pantheon, đinh ninh rằng con đường ánh sáng đã bị huỷ hoại, không ngờ giờ đây anh có thể đến được nơi này. Quả là một sai lầm ngớ ngẩn. Hoá ra toàn bộ con đường vẫn còn nguyên vẹn Đất, Khí, Lửa, Nước. Và Langdon đã lần theo dấu con đường này, từ đầu đến cuối.
    Chưa hẳn là đến cuối, con đường này có năm điểm dừng, không phải là bốn. Đài phun nước thứ tư này sẽ chỉ ra cái đích sau cùng nới tụ họp bí mật của hội Illuminati. Đền thờ ánh sáng. Không hiểu địa điểm đó có còn tổn tại không? Không hiểu có phải tên sát thủ đã đưa Vittoria tới đó hay không?
    Langdon quan sát kỹ đài phun nước, cố tìm một đầu mối nào đó dẫn tới điểm tụ họp bí mật kia. Thiên thần dẫn lối trên hành trình cao cả. Nhưng gần như ngay lập tức, anh nhận ra một điều không dễ chịu chút nào. Đài phun nước này không có thiên thần nào cả. Từ chỗ đứng hiện thời, Langdon không thấy thiên thần nào hết… và xưa nay anh cũng chưa bao giờ trông thấy. Đài phun nước Bốn dòng sông là một tác phẩm ngoại đạo. Tất cả những hình chạm khắc ở đây đều đậm nét trần tục - người, thú, thậm chí cả một con ta-tu thô kệch nữa. Nếu có thì thiên thần cũng sẽ rất cô độc ở nơi này.
    Hay không phải là chỗ này? Langdon lại suy nghĩ về hình chữ thập với bốn Kim tự tháp đá ở bốn điểm. Anh siết chặt nắm đấm. Đài phun nước này quả là hoàn hảo.
    10 giờ 46 phút, một chiếc xe hòm màu đen xuất hiện từ một con hẻm bên kia quảng trường: Langdon đã chẳng mảy may để ý đến nó, nếu như chiếc xe không bật đèn. Ý như một con cá mập đang tuần tiễu ở vùng vịnh sáng trăng, chiếc xe lượn một vòng quanh quảng trường.
    Langdon khom người xuống, nép sát vào một góc tối dưới chân cầu thang nhà thờ Nỗi đau của thánh Agnes. Anh căng mắt nhìn ra quảng trường, tim đập mỗi lúc một nhanh hơn.
    Sau khi lượn hai vòng, chiếc xe hướng vào đài phun nước của Bernini. Nó lượn sát vào, cho đến khi áp thật sát vào mép đài phun. Rồi chiếc xe dừng lại cánh cửa trượt bên hông xe chỉ cách mặt nước chưa đến một tấc.
    Bọt nước vẫn bắn tung toé.
    Langdon cảm thấy sự kiện này báo điềm gở. Hay là tên sát thủ đến sớm? Chẳng lẽ hắn đến bằng xe hòm? Anh những tưởng hắn sẽ đi bộ và dìu nạn nhân đến đây, y như lúc ở quảng trường St. Peter, như thế thì anh có thể ngắm bắn dễ dàng. Nhưng nếu hắn đi xe đến thì mọi thứ sẽ khác đi.
    Bất thần, cánh cửa trượt bên hông thùng xe mở ra. Trên sàn xe, một người bị lột hết quần áo đang quằn quại đau đớn. Toàn thân người này quấn dây xích. Người đó đang cố quẫy ra, nhưng những mắt xích vừa to vừa nặng. Một mắt xích gang mồm nạn nhân, chắc để cho người này khỏi kêu cứu. Đúng lúc đó, Langdon trông thấy bóng một người nữa, trong bóng tối đang di chuyển phía sau nạn nhân, như thể đang chuẩn bị những chi tiết cuối cùng.
    Langdon biết thời gian hành động của anh chỉ được tính bằng giây.
    Súng cầm tay, anh thả áo xuống đất. Anh không muốn chiếc áo to nặng này cản bước, và cũng không muốn trang bản thảo của cuốn Diagramma bị đưa đến gần chỗ có nước. Trang tài liệu sẽ ở đây chỗ khô ráo và an toàn.
    Langdon bò về bên phải. Vòng qua đài phun nước, anh hướng tới vị trí đối diện chiếc xe hòm. Hòn núi nhỏ giữa đài phun cản mất tầm nhìn. Đứng thẳng người dậy, anh chạy thẳng đến bên đài phun nước, hi vọng tiếng nước phun sẽ lấp đi tiếng chân chạy thình thịch. Đến dài phun, anh trèo qua mép tường, nhảy vào trong bể nước ngầu bọt.
    Nước sâu đến ngang bụng và lạnh như băng. Langdon nghiến răng mà lội. Đáy bồn trơn nhẫy, đã thế lại phủ một lớp dày những đồng xu người ta ném xuống để cầu may. Langdon biết lúc này anh không chỉ cần đến sự may mắn. Bụi nước mù mịt khắp xung quanh, Langdon thầm băn khoăn, không hiểu vì lạnh hay vì sợ hãi mà khẩu súng lục trên tay anh run lên bần bật.
    Vào đến gần giữa bồn nước, Langdon vòng qua bên trái. Anh cố lội thật nhanh, và luôn cố ẩn mình sau tảng núi đá nhỏ ở chính giữa đài phun nước. Nấp sau một chú ngựa đá ở trung tâm đài phun, Langdon nhìn ra quan sát. Chiếc xe hòm chỉ cách anh khoảng 5 mét. Tên sát thủ đang lom khom trên sàn xe, hai tay đặt lên người vị Hồng y đã bị trói chặt bằng dây xích, hắn sắp đẩy ngài qua cánh cửa trượt đã mở sẵn.
    Trong bồn nước ngập đến ngang thắt lưng, Langdon giương súng, bước ra khỏi đám bụi nước mịt mù. Như thể anh chính là một chàng cao bối đang chọn điểm ngắm bắn.
    - Đứng im.
    Langdon hô to, giọng nói của anh nghe điềm tĩnh hơn bàn tay đang cầm khẩu súng.
    Tên sát thủ ngước nhìn lên. Trong thoáng chốc, dường như hắn giật mình và không hiểu nổi những từ vừa nghe thấy. Rồi bĩu môi, hắn mỉm cười đầy xảo trá, giơ hai tay lên trời.
    - Tay giơ rồi đây này.
    - Ra khỏi xe mau.
    - Ông bạn ướt hết rồi kìa.
    - Mày đến hơi sớm.
    - Vì tôi muốn sớm quay về với chiến lợi phẩm của tôi.
    Langdon giương súng lên:
    - Súng của tao không biết do dự đâu!
    - Ông bạn đang do dự rồi đấy thôi.
    Ngón tay Langdon siết chặt cò súng. Vị Hồng y Giáo chủ lúc này đang nằm bất động trên sàn xe. Trông ngài có vẻ đã kiệt sức, và dường như đang hấp hối.
    - Cởi trói cho ông ấy mau.
    - Quên ông ta đi, ông bạn đến để tìm con bé cơ mà. Đừng giả bộ làm gì?
    Langdon phải cố kìm ý nghĩ muốn hạ thủ hắn ngay lúc này.
    - Cô gái đâu?
    - Ở một nơi an toàn, đợi tôi trớ về.
    Vittoria còn sống. Langdon thấy có một tia hi vọng.
    - Có phải trong Đền thờ ánh sáng không?
    Kẻ giết người nhếch mép cười.
    - Ông bạn làm sao mà tìm được!
    Langdon thấy nghi ngờ. Hoá ra nơi gặp gỡ của họ vẫn còn tồn tại.
    Anh chĩa súng vào người hắn.
    - Ở đâu?
    - Đó là một địa điểm bí mật từ nhiều thế kỷ nay. Thậm chí đến cả tôi cũng mới được biết chưa bao lâu. Có chết tôi cũng không tiết lộ bí mật đó.
    - Không cần mày tao cũng tự tìm được.
    - Ông bạn quá ngạo mạn.
    Langdon hất đầu về phía đài phun nước:
    - Tao đã đến được đây đấy thôi.
    - Thì khối người khác cũng thế. Bước cuối cùng bao giờ cũng khó nhất.
    Langdon tiến lại gần hơn, chân loạng choạng trong nước. Tên sát thủ có vẻ rất bình tĩnh, hắn đang ngồi xổm ở cuối xe, hai tay giơ lên. Chĩa súng vào ngực hắn, Langdon thầm băn khoăn có nên bắn một phát đạn để kết liễu đời hắn ngay lúc này hay không. Không nên. Hắn biết Vittoria ở chỗ nào. Hắn biết hộp phản vật chất giấu ở đâu. Mình thì đang cần thông tin.
    Ngồi trong thùng xe tối tăm, tên sát thủ chăm chú nhìn kẻ uy hiếp hắn, và không nén nổi cảm giác vừa thương hại vừa khoái trá. Gã người Mỹ này thuộc loại dũng cảm, điều đó thì đã rõ.
    Nhưng gã đúng là đồ gà mờ. Dũng cảm mà không có kỹ năng thì chẳng khác nào tự sát. Muốn tự vệ phải biết các quy tắc. Những quy tắc từ ngàn xưa. Và gã người Mỹ này đã vi phạm tất cả những quy tắc đó.
    Ông bạn có một lợi thế - đó là yếu tố bất ngờ. Nhưng ông bạn đã lãng phí cái đó.
    Gã người Mỹ này không quyết đoán… có lẽ gã đang đợi người đến hỗ trợ… hay đợi mình lỡ lời để lộ thông tin quan trọng nào đó.
    Nếu chưa đánh bại được đối thủ thì chưa được phép tra khảo. Con mồi bị dồn vào chân tường chính là đối tượng nguy hiểm nhất.
    Gã này lại nói tiếp, giọng dỗ dành.
    Suýt nữa thì tên sát thủ cười phá lên. Đây đâu phải là một bộ phim tà giáo của Hollywood cơ chứ… chẳng ai đi tào lao mãi trong khi đang bị chĩa súng vào người. Thời điểm quyết định đã tới. Nào!
    Vẫn nhìn thẳng vào mắt Langdon, tên sát thủ lần tay lên nóc xe cho đến khi hắn tìm thấy vật cần tìm. Vẫn chăm chăm nhìn thẳng về phía trước, hắn cắm vật đó gọn trong lòng bàn tay.
    Rồi hắn bắt đầu hành động.
    Hành động của hắn vô cùng bất ngờ. Trong một thoáng chốc, Langdon tưởng như tất cả các quy luật vật lý đều không còn tác dụng. Tên sát thủ đu người lên cao, hai chân hắn vươn dài ra, hất vị Hồng y đã bị trói bằng xích xuống nước. Nạn nhân của hắn rơi tõm xuống, nước bắn lên tung tóe.
    Nước văng đầy lên mặt, Langdon nhận ra quá muộn màng. Kẻ giết người đã bám vào một thanh giằng trên nóc xe để đu người về phía trước. Trong bụi nước mịt mù, hắn lao thẳng vào người Langdon, chân choãi ra trước.
    Langdon kéo cò, bộ phận giảm thanh kêu đánh cách một tiếng.
    Viên dạn nổ đúng vào mũi giày bên trái của hắn. Nhưng ngay lập tức anh bị hai gót giày của hắn đá mạnh vào ngực, và bị hất về phía sau.
    Hai người đàn ông ngã nhào xuống, nước lẫn máu bắn tung tóe.
    Bị thứ chất lỏng lạnh kinh khủng ấy bao kín lấy toàn thân, cảm nhận đầu tiên của Langdon là đau. Bản năng sinh tốn trỗi dậy trước tiên. Anh nhận thấy khẩu súng không còn trên tay mình nữa. Nó đã bị đá văng đi. Lặn sâu xuống, Langdon mò mẫm quờ quạng dưới đáy bốn nước. Tay anh chạm vào kim loại. Hoá ra là một nắm tiền xu. Anh thả ra. Langdon mở mắt, quan sát đáy bốn. Làn nước lạnh buốt đang vây kín lấy anh.
    Cố nhịn thở Langdon lặn xuống đáy bồn để khỏi bị tấn công. Không ngừng quẫy đạp. Không biết cú đánh tiếp theo sẽ từ hướng nào. Phải tìm cho được khẩu súng! Hai tay anh tuyệt vọng dò dẫm.
    Mình đang có một lợi thế, anh tự khích lệ bản thân, mình đang ở trong môi trường của mình. Dù chiếc áo len sũng nước trở nên rất vướng víu, Langdon vẫn là một tay bơi nhanh nhẹn. Nước chính là môi trường của mình.
    Tay sờ phải kim loại lần thứ hai, Langdon chắc mẩm vận rủi của mình đã kết thúc. Thứ anh cầm trong tay không còn là một nắm tiền xu nữa. Nắm thật chặt, lôi nó về phía mình, nhưng thay vì kéo được vật ấy, anh thấy mình bị kéo về đằng trước. Vật đó không hề xê dịch chút nào.
    Còn chưa chạm vào thân thể đang quằn quại của đức Hồng y, Langdon đã nhận ra ngay, anh vừa nắm phải sợi dây xích đang kéo vị thầy tu này xuống dưới đáy nước. Trông thấy khuôn mặt đầy kinh hãi dưới đáy nước đang nhìn mình chằm chằm, Langdon đờ người, chùng chằng mất một khoảnh khắc.
    Nhưng ngay khi thấy đôi mắt ấy vẫn ánh lên sự sống, Langdon lập tức hành động: Anh sục tay xuống, túm lấy sợi dây xích, rồi ra sức kéo ông già khốn khổ lên khỏi mặt nước.
    Thân thể của nạn nhân nổi lên rất chậm chạp, chẳng khác gì cái mỏ neo. Langdon kéo mạnh tay hơn. Khi mặt nhô được lên khỏi mặt nước, vị Hồng y già thở hổn hển một cách tuyệt vọng. Rồi bỗng dưng thân thể của ngài lăn mạnh, khiến cho sợi xích trơn tuột vuột ra khỏi tay Langdon. Như một tảng đá nặng, Hồng y Baggia rơi xuống nước, rồi chìm nghỉm dưới làn nước ngầu bọt.
    Langdon lặn xuống, căng mắt ra để nhìn xuyên làn nước tối âm u. Anh tìm được đức Hồng y Giáo chủ. Nhưng lần này, khi Langdon chạm tay vào, sợi xích ngang ngực nạn nhân bị kéo lệch đi để lộ ra thêm một vết thương đau đớn trên cơ thể nạn nhân… một dấu sắt nung làm cháy sém da thịt.



    Trong giây lát, hai chiếc giày hiện ra trong tầm mắt Langdon. Một chiếc đỏ lòm những máu.


    Chương 103


    Là vận động viên môn bóng Polo nước, Robert Langdon đã từng chịu rất nhiều đòn chơi xấu ngầm dưới mặt nước. Trong lòng nước, nơi mà trọng tài không thể trông thấy, cuộc ganh đua có thể trở nên quyết liệt và bạo lực chẳng kém gì một trận đấu vật. Langdon bị đá, bị cào, bị ghì chặt, thậm chí có lần còn bị một cầu thủ hậu vệ phát khùng cắn cho đau điếng vì anh ta không thể túm được anh.
    Tuy nhiên, Langdon biết những trận đấu Polo ở trường Harward còn lâu mới bì được với những gì đang xảy ra trong bồn nước buốt giá lúc này. Anh đang phải tranh đấu, không phải để giải trí, mà để bảo vệ mạng sống của mình. Đây là lần thứ hai anh phải đối chọi với hắn. Ở đây không có trọng tài, cũng chẳng có hiệp đấu thứ hai. Hai bàn tay của hắn đang ghì chặt đầu anh và dúi xuống nước thật mạnh, chắc chắn là với mục đích giết người.
    Theo bản năng, Langdon xoay người như một quả ngư lôi. Phải bẻ gãy gọng kìm này! Nhưng hai bàn tay cứng ngắc xoay anh lại.
    Kẻ đang tấn công Langdon có một lợi thế mà không một cầu thủ Polo nào có được - hai bàn chân vững chãi trên nền bồn nước.
    Langdon vùng vẫy, cố chạm chân xuống đáy bồn. Dường như kẻ giết người này chỉ thích dùng một tay… nhưng bàn tay hắn cứng kinh khủng.
    Lúc này, Langdon hiểu ra rằng anh sẽ không có cách gì để ngoi lên được. Thế là anh làm điều duy nhất có thể nghĩ ra được trong tình huống này. Anh không tìm cách ngoi lên nữa. Nếu không đi được về hướng Bắc thì hãy chuyển sang hướng Đông. Thu hết sức lực còn lại trong cơ bắp, Langdon co hai chân đạp thật mạnh rồi vươn hai tay xuống dưới, kiểu như một người đang tập bơi bướm. Thân thể anh trôi về phía trước.
    Sự chuyển hướng đột ngột của Langdon khiến tên sát thủ bị bất ngờ. Hai tay hắn chới với, hai chân lảo đảo. Bàn tay túm cổ ánh hơi lơi ra, Langdon đạp mạnh một cú nữa. Cảm giác như sợi dây néo của con thuyền đột ngột đứt phăng ra, Langdon được tự do.
    Nhả hết khí thải trong phổi ra, Langdon ngoi lên mặt nước. Anh chỉ hít được một hơi duy nhất. Tên sát thủ này rất khỏe, và hắn lại đã đứng sát bên cạnh, hai tay chộp lấy vai Langdon, rồi dồn hết sức lực dúi anh xuống một lần nữa. Hai chân Langdon chới với tìm điểm tì, nhưng hắn choãi chân ra, đẩy mạnh anh xuống.
    Langdon lại bị chìm dưới nước một lần nữa.
    Cơ bắp đau nhức, nhưng anh vẫn quẫy thật mạnh. Lần này chẳng có tác dụng gì. Anh nhìn xuống đáy nước, cố tìm khẩu súng.
    Tất cả đều mờ mịt. Nước ngầu bọt. Một luồng sáng chói loà chiếu thẳng vào mắt Langdon khi hắn dúi anh xuống sâu, thẳng xuống một bóng đèn điện chìm dưới đáy đài phun nước. Langdon với tay túm lấy hộp đèn. Nóng rẫy. Anh bám chặt, cố thoát khỏi tay tên sát thủ, nhưng cái hộp được gắn bản lề, nó xoay một vòng trong tay anh. Lập tức Langdon bị mất đà.
    Kẻ giết người lại dúi anh xuống sâu thêm.
    Đúng lúc này, Langdon trông thấy một vật hình trụ nhỏ, màu đen nhô lên giữa lớp tiền xu phủ kín đáy đài phun, ngay trước mắt anh. Bộ phận giảm thanh trên khẩu súng của Olivetti!
    Langdon với tay ra, nhưng khi chạm tay vào, Langdon nhận ra nó không phải bằng kim loại, mà chỉ là đồ nhựa. Lúc anh rút lên, cái ống nhựa mỏng bập bềnh như một cỏn rắn nhỏ. Cái ống này dài hơn nữa mét, một đầu có gắn ống tạo bọt. Thứ anh vừa tìm được không phải là khẩu súng, mà chỉ là một cái ống tạo bọt vô hại… một trong vô số ống tương tự ở đài phun nước này.
    Cách đó chỉ mấy thước, Hồng y Baggia cảm thấy linh hồn mình sắp rời khỏi thể xác. Dù cả đời đã chuẩn bị tinh thần cho giờ phút này, vị thầy tu già vẫn không ngờ kết cục lại thế này.
    Phắn xác thịt của ngài đang đau đớn… bị nướng bằng sắt nung, bị bầm dập, và bị vật nặng kéo xuống đáy nước. Hồng y tự nhắc nhở bản thân rằng thế này vẫn chưa thấm tháp gì so với những khổ ải mà Giê-su đã phải chịu đựng.
    Người đã hi sinh thân mình để chuộc lỗi cho chúng con…
    Hồng y Baggia nghe rõ tiếng hai người vật lộn ngay sát bên ngài. Tên giết người này sắp sát hại thêm một người nữa… một người có đôi mắt hiền từ, người đã tìm cách cứu giúp ngài.
    Cơn đau trở nên dữ dội hơn, Hồng y Baggia nằm ngửa ra, nhìn xuyên qua làn nước, trông lên bầu trời đen kịt trên cao. Trong thoáng chốc, vị Hồng y già tưởng như vừa trông thấy những vì sao.
    Đã đến lúc rồi.
    Bỏ qua tất thảy mọi sợ hãi và lo lắng, vị Hồng y Giáo chủ mở miệng, thở ra, ngài biết đây là hơi thở cuối cùng. Ngài nhìn linh hồn theo những bọt nước nổi dần lên. Rồi như một phản xạ tự nhiên, ngài ngáp. Nước ộc vào hai lá phổi, như những mũi dao găm. Cảm giác đau dớn chỉ kéo dài trong giây lát.
    Sau đó là… sự bình an.
    Mặc cho bàn chân đau như xé, tên sát thủ ra sức dìm người đàn ông Mỹ xuống dưới nước. Làm cho xong mọi chuyện. Hắn siết chặt bàn tay, biết chắc lần này thì Langdon không thể thoát chết. Đúng như hắn dự đoán, nạn nhân quẫy đạp mỗi lúc một yếu đi.
    Đột nhiên toàn thân Langdon gồng cứng lên, rồi co giật dữ dội.
    Hay lắm, tên sát thủ thầm nghĩ. Hắn giãy chết. Nước bắt đầu chảy vào phổi. Hắn biết cơn giãy chết sẽ kéo dài khoảng 5 giây.
    6 giây sau Langdon mới thôi co giật.
    Sau đó, đúng như dự đoán của tên sát thủ, toàn thân nạn nhân mềm nhũn ra. Như một quả bóng bị xì hơi, Langdon rũ ra. Thế là hết. Tên sát thủ tiếp tục dìm anh xuống thêm 30 giây nữa, để cho nước vào đầy hai lá phổi. Rồi hắn từ từ thả tay, để cho thi thể nạn nhân chìm dần xuống đáy. Cuối cùng hắn buông hẳn tay ra. Cánh nhà báo sẽ tha hồ mà kinh ngạc khi kéo đến Đài phun nước Bốn dòng sông.
    - Tabban!(1)
    Kẻ sát nhân chửi thế, loạng choạng ra khỏi bồn nước, rồi nhìn bàn chân bê bết máu. Mũi giày của hắn nát bét và đầu ngón chân cái đã bị bắn văng mất. Cáu tiết vì sự bất cẩn của bản thân, hắn xé ống quần, nhồi mảnh vải vào mũi giày. Cơn đau buốt lên tận cẳng chân Hắn nghiến răng nhét mảnh vải vào sâu thêm nữa. Máu chảy chậm dần, cuối cùng chỉ còn nhỏ giọt.
    Quên cả đau đớn, tên sát thủ nghĩ tới chuyện hưởng thụ, và leo lên cabin xe. Nhiệm vụ của hắn ở Rome thế là đã hoàn tất.
    Hắn biết rõ phải làm gì để xoa dịu vết đau ở chân. Vittoria Vetra, bị trói chặt, đang đợi hắn. Dù đang bị ướt sũng và lạnh cóng, tên sát thủ cảm thấy cơ thể hắn lập tức cương cứng lên.
    Ta đã giành được một chiên lợi phẩm.
    ***
    Ở đầu bên kia thành Rome, Vittoria tỉnh dậy, đau nhức khắp toàn thân. Toàn bộ cơ bắp nặng như chì. Cứng ngắc. Căng dừ. Hai cánh tay đau dữ đội. Khi cố gắng cử động, cô gái thấy vai nhức buốt. Một lúc sau Vittoria mới biết mình đã bị trói trật cánh khuỷu về phía sau. Cô gái cảm thấy bối rối. Mình đang ngủ mơ hay sao? Nhưng khi bắt đầu ngẩng đầu lên, cảm giác đau buốt ở gáy nhắc nhở rằng cô đang tỉnh.
    Từ bối rối chuyển sang sợ hãi, cô gái đưa mắt quan sát xung quanh. Vittoria đang ở trong một căn phòng xây bằng đá rộng rãi, có nhiều đồ đạc sang trọng, được thắp sáng bằng đuốc. Một kiểu phòng họp cổ xưa. Ngay gần đó là những chiếc ghế bành kiểu cổ xếp quây thành một vòng tròn.
    Lúc này Vittoria mới nhận thấy một làn gió lạnh buốt đang thổi vào người ngay gạn chỗ cô nằm là một cánh cửa đôi mở rộng, trông ra ban công. Qua khe hở giữa các thanh lan can, Vittoria trông thấy Vatican.
    Chú thích:
    (1) Tabban: Câu chửi thề.


    Chương 104

    Robert Langdon nằm trên đống tiền xu phủ kín đáy bồn của Đài phun nước Bốn dòng sông. Miệng anh vẫn ngậm chật cái ống nhựa mỏng. Sau khi được bơm qua cái ống nhỏ này, luồng không khí vào đến phổi Langdon không còn tinh khiết nữa, khiến cố họng anh đau rát. Nhưng Langdon không mấy bận tâm. Anh đã giữ được mạng sống.
    Langdon không dám chắc là màn đóng giả người chết đuối vừa rồi có giống thật lắm không, vốn ưa bơi lội, anh đã nghe kể rất nhiều chuyện. Langdon đã cố hết sức. Gần đến lúc cuối, anh còn thở hết không khí trong phổi ra và ngừng thở để cho toàn thân chìm dần xuống.
    May mắn là hắn đã bị mắc lừa và buông tay ra.
    Lúc này, nằm nghỉ xả hơi dưới đáy nước, Langdon cố đợi thật lâu Anh sắp sửa ngạt thở đến nơi. Không biết hung thủ có còn ở đó không, anh hít thêm một hơi thở nữa, thứ không khí đã trở thành cay xè sau khi chảy qua cái ống. Langdon vứt bỏ cái ống, anh bơi vào giữa đài phun nước, và dừng lại khi tìm thấy một chỗ đáy bồn dốc lên, sát tảng núi đá nhỏ ở chính giữa. Anh khẽ khàng trồi lên mặt nước, ở một góc khuất sau những hình khối trang trí được đẽo trên đá cẩm thạch.
    Chiếc xe đã đi khỏi.
    Langdon chỉ chờ có thế. Hít không khí tinh khiết vào đầy hai lá phổi, anh bơi lại chỗ Hồng y Baggia. Anh biết rằng lúc này thì chắc chắn vị thầy tu già đã bất tỉnh rồi, và cơ hội sống sót là rất mỏng manh, nhưng vẫn cần phải cố gắng hết sức. Khi tìm thấy nạn nhân, anh choãi rộng hai chân, khom lưng xuống, tay túm sợi xích sắt quấn quanh thân thể Hồng y. Rồi anh kéo mạnh lên. Đưa được vị thầy tu ra khỏi lòng nước, Langdon thấy hai mắt nạn nhân đã lồi ra và trợn ngược lên. Không phải là điềm lành. Không thấy có hơi thở, mạch cũng đã dừng.
    Biết không thể nào nhấc được nạn nhân qua thành bồn nước, Langdon kéo vị thầy tu đến một chỗ nước nông gần trung tâm đài phun. Ở chỗ này đáy bồn hơi dốc lên, khá nông. Langdon ráng sức kéo thân thể Hồng y Baggia lên cao. Nhưng chẳng được bao xa.
    Rồi anh bắt đầu hành động. Ấn mạnh ngực Hồng y đang bị quấn đầy xích, anh đẩy cho nước trong hai lá phổi chảy hết ra ngoài, rồi bắt đầu làm động tác hô hấp nhân tạo. Cẩn thận, từ tốn, từng thao tác một, cố không hà hơi nhanh và mạnh quá. Trong vòng 3 phút, Langdon làm tất cả để cấp cứu cho vị thầy tu già. Sau 5 phút, anh đành chấp nhận sự thật, không còn cơ hội nữa.
    Người được ân sủng. Người đáng ra đã trở thành Giáo hoàng, giờ đã chết, ngay trước mắt Langdon.
    Tuy nhiên, ngay cả vào giờ phút này, dù nằm sõng soài trên nền đài phun mờ tối, nước ngập ngang người, Hồng y Baggia vẫn toát ra một thứ uy lực nào đó. Nước vỗ nhè nhẹ lên ngực ngài, như thể muốn bày tỏ sự ân hận… như thể cầu xin được tha thứ vì đã huỷ hoại tấm thân của ngài… như thể muốn rửa sạch vết thương trên ***g ngực bị đóng dấu sắt nung…
    Langdon vuốt nhẹ nhàng để đôi mắt của ngài khép lại. Đúng khoảnh khắc ấy anh thấy hai mắt mình nhoà lệ. Langdon ngạc nhiên. Rồi anh khóc, đã bao nhiêu năm nay anh chưa cảm thấy xúc động đến thế này.

Trang 2/3 đầuđầu 1 2 3 cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. [Truyện ngắn]Lương thực của thiên sứ
    By LeeTongWook in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 0
    Bài mới gởi: 07-01-2009, 10:25 PM
  2. Quan Niệm Về Thần (kami) Của Nhật Bản
    By Kasumi in forum Tìm hiểu Nhật Bản
    Trả lời: 2
    Bài mới gởi: 10-05-2006, 03:59 PM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •