Xin trích vài đoạn nhỏ của Tsurezuregusa:
Không nên đợi đến lúc về già mới bắt đầu tu đạo Phật. Hãy xem những ngôi mộ cổ kia, toàn của người chết trẻ. Ngã bệnh lúc nào không biết, rồi phút giây sắp vĩnh biệt thế gian mới ý thức được những sai lầm của đời mình. Chuyện gọi là sai lầm có gì lạ đâu: chuyện đáng lẽ phải làm bây giờ lại để sau rồi tính, chuyện thủng thỉnh suy nghĩ được thì lại hấp tấp làm ngay, chuyện đã qua đứt rồi còn đứng mà tiếc. Lúc đó có hối thì được gì nào? Chỉ nên ghi lòng tạc dạ một điều: cuộc đời chung quanh ta tất cả chỉ là vô thường, và không giây phút nào được quên điều đó. (Đoạn 49)
Những kẻ ta không nên chơi có bảy loại. một là kẻ quyền cao chức trọng, hai là đám thiếu niên, ba là những ai khoẻ mạnh không biết đau ốm là gì, bốn là bọn rượu chè, năm là bọn vũ sĩ bạo tợn, sáu là dân khoác lác và bảy là người keo kiệt.
Giao du được có ba loại : trước hết là bạn bè thảo lảo, hai là mấy ông thầy thuốc và ba là những người thông minh tinh tế (Đoạn 117).
Có phải ta chỉ nên ngắm anh đào lúc hoa mãn khai hay ngắm vầng trăng lúc ánh sáng không có gì che khuất ? Những kẻ thấy vầng trăng dễ thương sau màn mưa che hay những kẻ đóng kín cửa nằm nhà, không hay bên ngoài mùa xuân đang đi qua mới có mối cảm hoài sâu sắc. Nhìn ngọn cây tưởng sắp nở hoa thế mà đã thấy hoa kia héo rụng tả tơi trong sân, đó mới là những lúc đáng xem (Đoạn 137)
Về sau, không những hai ca tăng (nhà tu hành và đồng thời nhà thơ waka) Shôtetsu (Chính Triệt, 1381-1459) và Shinkei (Tâm Kính, 1406-1475) đều tiếp nhận ảnh hưởng lớn lao của nó mà các sách vở dạy về thuật xử thế, luận bàn về nhân sinh quan đều mang dấu ấn của ông.
D) So sánh 3 tập đại tùy bút Nhật Bản
Makura no sôshi Hôjôki Tsurezukegusa Tác giả Sei Shônagon Kamo no Chômei Kenkô (Yoshida Kaneyoshi) Thành hình năm khoảng 1001 (thời Heian) khoảng 1212 (đầu Kamakura) khoảng 1331 (cuối Kamakura) Nội dung 200 đoạn (những cái giống nhau, hồi tưởng, tùy bút) bảy tai ách xảy ra, hồi tưởng đời mình, phản tỉnh hối tiếc 243 đoạn (bản chất của thiên nhiên, sự vật, con người) Lối biểu hiện Hoà văn: Miêu tả nhẹ nhàng, sống động, mới mẽ. Văn hỗn hợp Hòa Hán (sử dụng đối ngẫu, tỉ dụ). Tả thực. Văn hỗn hợp và mô phỏng cổ nhân. Trích đối thoại.Bình dị. Đặc sắc Khái niệm Okashi (cái đẹp theo chủ quan) Khái niệm vô thường Thẩm mỹ của vô thường Đánh giá Khai phá thể loại tùy bút. Quan sát sắc bén, dí dỏm. Điển hình cho văn học ẩn dật, ảnh hưởng đến văn học trung cổ Điển hình cho văn học ẩn dật. Ảnh hưởng đến thi ca (renga, haikai) Xuất xứ Sigma Shinkokugo Binran Sigma Shinkokugo Binran Sigma Shinkokugo Binran
B) Izayoi Nikki (Thập Lục Dạ Nhật Ký) và Towazu-gatari (Không Hỏi Cũng Thưa) :
Izayoi nikki là nhật ký do bà Abutsuni (A Phật Ni, 1222 ?-1283 ?) trước tác. Bà là vợ sau của Fujiwara Tameie (Đằng Nguyên, Vi Gia) nghĩa là con dâu của Teika (Định Gia, Sadaie). Sau khi ông Tame-ie mất, con vợ trước là Tame-uji (Vi Thị, họ Nijô) và con trai bà là Tamesuke (Vi Tướng, họ Reizei) tranh giành việc thừa kế ruộng nương của cha nên bà phải lên Kamakura lo chuyện tố tụng. Nhật ký phân trần về sự việc xảy ra trong lúc nầy. Abutsuni là nhà thơ nữ có tiếng giữa thời Kamakura. Ngoài nhật ký, bà còn lưu lại thơ waka, ký sự du hành Utatane (Giấc thiu thiu) và tập bình luận về thơ Yo no Tsuru (Dạ Hạc hay Hạc Đêm).
Trong khi đang hết sức lo lắng và bồn chồn trông đợi tin tức từ kinh đô thì một người thân tín đã mang về cho tôi những vần thơ trả lời cho các bài thơ mà tôi đã nhờ một nhà sư vân du gặp trên núi Utsu chuyển đi.
Núi Utsu mưa chẳng ngừng,
Trời không ngớt giọt vì lòng còn chưa,
Áo người đi đẫm lệ mưa.
Nhìn trăng mười sáu vật vờ,
Nhắc ta người ấy bây giờ còn đi
Mịt mù về chốn nào đây !
(Trích Izayoi nikki)
Người viết Towazugatari, tác phẩm có thể đã ra đời trước năm 1313 nhưng một bản sao hồi thế kỷ 17 mới đựợc khám phá ra năm 1940 trong nhà kho của hoàng gia, là con gái của Koga Masatada (Cữu Ngã, Nhã Trung). Bà có tên hiệu là Go-Fukakusa-in Nijô (Hậu Thâm Thảo Viện Nhị Điều, 1258- ?). Năm mới 14 bà đã được thiên hoàng (thứ 89) Go-Fukakusa (1243-1304) yêu dấu nhưng vẫn tiếp tục đi lại thường xuyên với các nhà quí tộc như Saionji Sanekane (Tây Viên Tự, Thực Kiêm, 1249-1322), hoàng tử Shôjohô shinno (Tính Trợ Pháp thân vương), Kameyama-in (Qui Sơn Viện, 1249-1305). Trong Towazugatari, bà kể lại một cách không che đậy về những mối liên hệ phòng the đó. Tuy nhiên, vì ngưỡng mộ cao tăng và văn gia Saigyô (Tây Hành) nên về sau bà bỏ đi tu, du lịch nhiều nơi danh thắng như Kamakura (Liêm Thương), Itsukujima (Nghiêm Đảo). Đặc điểm của văn chương bà là đã viết về những ngày tháng yêu đương thời trẻ một cách thành thực như bộc bạch (như thể không hỏi cũng khai ra) và miêu tả bước đường du lịch trong phần đời tu hành về sau.
Xin trích dịch một đoạn văn nhỏ trong quyển thứ 2 của Towazugatari :
Ngài (Hoàng tử Shôjohô) bước vào phòng đột ngột quá. Đang tự hỏi, chết chưa, làm thế nào bây giờ, thì đã nghe ngài nói : ”Nhờ sức Phật Tổ, mới gặp được nàng đây. Bây giờ ta có bị đọa xuống địa ngục cũng cam! ”. Rồi ngài vừa khóc vừa ôm chầm lấy tôi. Bụng nghĩ người gì mà đường đột thế nầy nhưng ngài là bậc tôn quí, không thể lớn tiếng trách sao lại như thế, tôi mới thầm thì thưa: “ Phật trong lòng ngài đáng sợ quá đi thôi! ”. Nói thế mà ngài chẳng chịu buông tha cho.Giữa khi còn đang nửa mê nửa tỉnh vì sự việc xảy ra thì tăng nhân tháp tùng ngài chợt đến báo “ Đã hết giờ rồi! ”, ngài bèn lẻn ra cửa sau biến mất. Trước đó không quên nhắn thêm : “ Khuya nầy, chắc chắn ta còn đến thăm nàng lần nữa đấy!.... ”.
TIẾT IV: TÙY BÚT THỜI EDO
Nhân đây cũng nhắc đến một số tùy bút thời Edo đã nối tiếp truyền thống của Sei Shônagon, Kamo no Chômei và Toshida Kenkô :
1-Oritakushiba no Ki “ Ghi chép về những cành củi chụm”(1716) : Tác giả quyển tùy bút nầy là Arai Hakuseki (Tân Tỉnh Bạch Thạch, 1657-1725) ghi chép cảnh ngộ của tổ phụ và của mình lúc làm quan dưới thời tướng quân Tokugawa Ienobu và Ietsugu. Đây là một tập tư liệu lịch sử quan trọng.
2- Jôzan Kitan (Thường Sơn kỳ đàm, 1739) của Yuasa Jôzan (Thang Thiển Thường Sơn, 1708-1781) ghi lại hơn 100 giai thoại về các vũ tướng từ đời Sengoku đến đời Edo.
3- Sundai zatsuwa (Tuấn đài tạp thoại, 1732) do Muro Kyuusô (Thất, Câu Sào, 1658-1734) tùy bút với chủ đề về học vấn và đạo đức trên lập trường Chu Tử Học.
4- Kagetsu Sôshi (Hoa nguyệt thảo chỉ, Hoa nguyệt song chỉ 1818) của Matsudaira Sadanobu (Tùng Bình, Định Tín) luận về hoa, nguyệt, phong quang, nhân vật. Gồm 156 chương viết theo gabuntai (nhã văn thể).
TẠM KẾT
Nhật ký và tùy bút là một thể loại văn học đặc biệt trong văn học Nhật tự thời xưa. Tuy nguồn gốc cũng đến từ Trung Quốc nhưng đã phát triển rất sớm và mang màu sắc riêng tư, táo bạo hơn những tác phẩm đồng loại ở đại lục, lại được đảm đương phần lớn bởi những cây bút phụ nữ, một điều lạ trong xã hội phong kiến. Ngoài ra, nó còn là mạch nước ngầm đã biến thành một dòng sông lớn: dòng văn học shi-shôetsu (tiểu thuyết nói về cái tôi) của thời hiện đại mà nhiều người vẫn qui kết cho Ich Roman (I-Novel) của phương Tây như là nguồn cội duy nhất.
___________________________
CHÚ GIẢI
[1] Tiêu tức còn là một hình thức văn học (tiêu tức văn= shosokubun hay shosokobumi) thường được ***g khung trong các tác phẩm, ví dụ nhật ký của Izumi Shikibu. Có thể hiểu như thư viết cho người khác nhưng cũng có thể hiểu như lời nhắn nhủ của tác giả đối với chính mình.
[2]Kagerô chữ Hán viết là tinh đình hay phù du (kiếp phù du bèo bọt), ta còn gọi là chuồn chuồn (phận mỏng cánh chuồn), trong văn học thường chỉ số kiếp ngắn ngũi, mong manh, có đó không đó. Kage còn có nghĩa là cái bóng.
[3] Fujiwarano Kaneie (Đằng Nguyên Kiêm Gia, 929-990), con trai của Morosuke (Sư Phù), cha của Michitaka (Đạo Long), Michikane (Đạo Kiêm), Michinaga (Đạo Trường) và hoàng hậu Senshi (Thuyên Tử). Ông đã đặt nền móng cho thời toàn thịnh của dòng họ Fujiwara.
[4] Thời xưa, các bà vợ của quí tộc ở riêng và đợi chồng đến thăm. Từ đó trong văn chương có hình ảnh “người đàn bà trông chờ” (matsu onna).
[5] Sanuki (Tán Kỳ), tên đất cũ nay thuộc tỉnh Kagawa, phía bắc đảo Shikoku . Cha bà Nagako là Fujiwara no Akitsuna (Đằng Nguyên, Hiển Cương) giử chức quan trấn thủ vùng nầy.
[6] Theo René Sieffert, Sei Shônagon chỉ là một tên để gọi (yobina) như bút hiệu chứ không phải tên thật. Ngày xưa, ở Nhật, phụ nữ quí tộc hầu trong cung thường được gọi theo chức phận và chỗ nhậm chức của người cha. Có thể Shônagon là chức quan của bố và Sei (Thanh=Kiyo, trong trẻo) là âm Hán gọi tắt tên Kiyohara (Thanh Nguyên), họ của bà.
[7] Utamakura (Ca chẩm) là mào đầu giống như gối để gối đầu (chẩm = cái gối), qui ước cần thiết giúp cho người làm thơ (uta) dựa vào đó để giao cảm được với người đọc. Có thể hiểu như là những ước lệ trong thi ca. Sách Nô-in Utamakura (Năng Nhân ca chẩm) của tăng Nô-in (Năng Nhân), một trong 36 ca tiên thời Hei-an, cho biết thơ tả cảnh mùa xuân (haru) thì phải có hoặc là kasumi (sương lam), asamidori (màu xanh non), ume no hana (hoa mơ) hay sakura (anh đào), uguisu (chim oanh) vv…
[8] Đoạn văn này làm ta liên tưởng đến một tiểu phẩm do Kim Thánh Thán viết về những các việc khoái chí với điệp khúc “Thế chẳng sướng sao!” mà Lin Yutang (Lâm Ngữ Đường) đã dịch sang Anh văn trong cuốn The Importance of Living (bản dịch tiếng Việt có tựa là Lạc Thú Ở Đời). Nó cũng gợi ta nhớ đến Vũ Trung Tùy Bút và Mai Đình Mộng Ký.
[9] Tamakiharu ( Một đời tận tụy), một trong những tên của tập nhật ký do bà con gái ông Fujiwara Shunzei, chị ông Fujiwara Teika, không rõ tên, hiệu là Kenshunmon-in Chuunagon (Kiến Xuân Môn Viện Trung Nạp Ngôn) viết khoảng năm 1219, lúc bà đã 63 tuổi, hồi tưởng lại những ngày bà vào cung hầu hạ Kenshunmon-in, tức là hoàng thái hậu sinh ra thiên hoàng Takakura (Cao Thương).
[10] Không rõ tác giả nhưng có lẽ ra đời vào đầu thời Kamakura. Sách kể những giai thoại kèm theo tranh vẽ về cuộc đời của các công khanh họ Taira như Taira Shigehira ( Bình, Trọng Hành), Koremori (Bình, Duy Thịnh) và những nhà quí tộc chung quanh họ như bọn Fujiwara Takafusa (Đằng Nguyên, Long Phòng).
[11] Trong tác phẩm này, Ienaga kể lại quá trình biên soạn thi tập Shin kokin shuu (Tân cổ kim tập) và đường lối làm việc của từng người tham gia. Sách có lẽ ra đời đầu thời Kamakura.
[12] Tác giả Ben no Naishi tức là con gái của Fujiwara no Nobuzane (Đằng Nguyên, Tín Thực). Tập nhật ký của bà ra đời khoảng trước năm 1278, ghi chép về thời kỳ hầu cận trong hậu cung thiên hoàng (thứ 89 ) Go Fukakusa (Hậu Thâm Thảo, trị vì 1246-1260 )
[13] Bà nội thị Nakatsukasa tên thật là Fujiwara Keishi (Đằng Nguyên Kinh Tử) Nhật ký của bà ra đời có lẽ khoảng sau năm 1292, ghi chép việc hầu hạ trong hậu cung thiên hoàng (thứ 92) Fushimi (Phục Kiến, trị vì 1287-1298).
[14] Theo thiển nghĩ, ở Việt Nam, tuy không phải là văn du ký thuần túy nhưng Thượng Kinh Kỷ Sự của Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác cũng có thể liệt vào loại nầy. Ngoài ra còn có những tập kỷ sự về sứ trình, văn thơ của nhân viên các sứ bộ, chẳng hạn.
[15] Xin nhớ lúc đó, Nhật Bản chưa là một quốc gia thống nhất . Dùng chữ “ vùng” là theo nhãn quan hiện đại. Đáng lẽ phải viết là “ nước » (kuni=quốc)
[16] Tây phương thường dịch Phương trượng ký là An account of my hut (Anh Mỹ) hay Notes de mon ermitage (Pháp)
[17] Có thuyết cho là câu nói mượn từ Thán Thệ Ký trong Văn Tuyển của Trung Quốc.
[18] Tây phương thường dịch là Esays in Idleness (Anh Mỹ) hay Au fil de l’ennui (Pháp)









Bookmarks