>
Trang 4/5 đầuđầu 1 2 3 4 5 cuốicuối
kết quả từ 31 tới 40 trên 41

Ðề tài: [Truyện dài] Biểu tượng thất truyền- Dan Brown

  1. #31
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 32


    - Sắp tới nơi rồi, - Anderson dẫn Langdon và Sato đi xuống hành lang vô tận chạy suốt toàn bộ chiều dài tầng hầm phía đông của Điện Capitol - Thời Tổng thống Lincoln, nền lối này rất bẩn thỉu và nhung nhúc chuột bọ.
    Langdon rất mừng là nền đã được lát gạch, anh vốn không ưa giống chuột. Cả nhóm tiếp tục đi tới, tiếng bước chân họ vang lên bập bõm, nghe rất kỳ cục trong hành lang dài. Dọc theo hành lang là những ô cửa, một số đóng kín, khá nhiều mở hé. Nhiều căn phòng ở tầng này trông như bị bỏ phế. Langdon chú ý thấy số hiệu trên các cánh cửa giảm dần, giảm đến tận cùng.
    SB4… SB3… SB2… SB1…
    Họ tiếp tục đi qua một cánh cửa không đánh số, nhưng Anderson dừng phắt lại khi số hiệu bắt đầu tăng.
    HB1… HB2…
    - Xin lỗi, - Anderson lên tiếng - Qua mất rồi. Tôi gần như chẳng bao giờ đặt chân xuống tận chỗ này.
    Cả nhóm lùi lại vài thước, tới một cánh cửa kim loại cũ kỹ mà bấy giờ Langdon mới nhận thấy. Nó nằm ở điểm chính giữa hành lang - nơi phân chia Tầng hầm Thượng viện (SB) và Tầng hầm Hạ viện (HB). Thực tế cánh cửa này có đánh số, nhưng đã quá mờ, rất khó nhận ra:
    SBB
    - Đây rồi - Anderson nói - Sẽ có người mang chìa khoá tới ngay.
    Sato cau mày và nhìn đồng hồ.
    Langdon nhìn dòng chữ SBB và hỏi Anderson.
    - Tại sao chỗ này lại thuộc phía Thượng viện mặc dù nó ở chính giữa?
    Anderson lộ vẻ bối rối.
    - Ý ông là sao?
    - Nó ký hiệu là SBB, tức là bắt đầu bằng chữ S chứ không phải chữ H.
    Anderson lắc đầu.
    - Chữ S trong SBB không phải là viết tắt của Thượng viện. Nó…
    - Chỉ huy? - tiếng một nhân viên an ninh cất lên phía xa. Anh ta hối hả băng qua hết hành lang để tới chỗ họ, giơ ra một chiếc chìa khoá - Xin lỗi anh, phải mất vài phút đấy. Chúng tôi không thể xác định được chìa khoá chính của SBB. Đây là cái dự phòng lấy từ một hộp phụ.
    - Cái gốc bị mất à? - Anderson hỏi, giọng lộ rõ ngạc nhiên.
    - Chắc là mất, - người kia đáp, thở hổn hển - Lâu lắm rồi có ai yêu cầu xuống đây đâu.
    Anderson cầm lấy chiếc chìa khoá.
    - Không có chìa phụ cho SBB13 à?
    - Xin lỗi, cho đến lúc này chúng tôi vẫn không tìm thấy chìa khoá của bất kỳ phòng nào trong SBB cả. MacDonald đang tiếp tục tìm - Viên cảnh vệ rút bộ đàm và gọi - Bob? Tôi đang ở chỗ Chỉ huy. Có thêm thông tin gì về chìa khoá SBB13 chưa?
    Bộ đàm của viên cảnh vệ có tiếng xột xoạt, và một giọng nói vang lên.
    - Thực ra là có đấy. Lạ lắm. Kể từ khi chúng ta vi tính hoá, chưa có trường hợp nào vào đó, nhưng theo sổ đăng ký thì tất cả các phòng kho trong SBB đều đã được dọn sạch và bỏ không hơn hai mươi năm nay. Giờ chúng được ghi rõ là khu vực không sử dụng - Anh ta ngừng lại - Tất cả, chỉ trừ SBB13.
    Anderson giật lấy bộ đàm.
    - Chỉ huy đây. Cậu nói sao, tất cả chỉ trừ SBB13 thôi à?
    - Vâng, thưa sếp - giọng kia đáp lại - tôi tìm thấy một câu chú giải viết tay cho biết SBB13 là phòng “riêng”. Đã từ lâu lắm rồi, do chính Kiến trúc sư viết và ký nháy.
    Langdon biết, cụm từ Kiến trúc sư không phải để chỉ người đã thiết kế Điện Capitol mà là người điều hành toà nhà. Tương tự như viên quản lý, người được bổ nhiệm vào chức Kiến trúc sư Điện Capitol sẽ chịu trách nhiệm về tất cả mọi việc, bao gồm bảo dưỡng, tu bổ, an ninh, thuê nhân viên, và phân bổ các phòng làm việc.
    - Điều lạ là - giọng trên bộ đàm nói - chú thích của Kiến trúc sư ghi rõ rằng “khu vực riêng” này dành cho Peter Solomon sử dụng.
    Langdon, Sato và Anderson đưa mắt nhìn nhau thảng thốt.
    - Tôi đoán, thưa sếp - giọng nói tiếp tục - ông Solomon giữ chìa khoá gốc xuống SBB cũng như mọi chìa khoá của SBB13.
    Langdon không thể tin vào tai mình. Peter có hẳn một phòng riêng trong tầng hầm ĐiệnCapitol ư? Anh vốn biết Peter Solomon có nhiều bí mật, nhưng điều này thì vượt quá mọi sự hình dung.
    - Tốt lắm - Anderson nói, rõ ràng là không thích thú gì - Chúng tôi hy vọng có thể tiếp cận được SBB12, cho nên cứ tìm chìa khoá phụ đi.
    - Rõ, thưa sếp. Chúng tôi cũng đang xử lý bức hình số mà anh yêu cầu…
    - Cảm ơn - Anderson bấm nút thoại để cắt ngang lời người kia - Tốt lắm. Khi nào xong cậu gửi ngay file đó tới điện thoại Giám đốc Sato nhé.
    - Rõ, thưa sếp - Máy bộ đàm im bặt.
    Anderson đưa trả bộ đàm cho anh nhân viên đang đứng đấy.
    Người này rút ra một bản sao sơ đồ toà nhà và đưa cho Chỉ huy.
    - Thưa sếp, SBB tô màu xám, chúng tôi đã đánh dấu X vào gian phòng SBB13 nên cũng không khó tìm lắm. Khu vực này khá nhỏ.
    Anderson cảm ơn thuộc cấp của mình và dồn mọi chú ý vào bản sơ đồ.
    Người cảnh vệ trẻ tuổi vội vã rời đi. Langdon ngó xem, rất ngạc nhiên trước số lượng dày đặc các căn phòng nhỏ tạo thành mê cung kỳ dị bên dưới Điện Capitol.
    Anderson nghiên cứu sơ đồ một lát, gật gù đút tọt nó vào túi.
    Quay về cánh cửa có dòng chữ SBB, anh ta rút chìa khoá, rồi lại do dự, vẻ ngần ngại không muốn mở ra. Langdon cũng rơi vào tâm trạng e dè tương tự, anh không biết đằng sau cánh cửa này là những gì, nhưng anh tin chắc rằng dù là gì đi nữa, một khi đã cất giấu tít dưới này thì rõ ràng Solomon muốn giữ bí mật cho nó.
    Hoàn toàn bí mật.
    Sato hắng giọng, và Anderson hiểu ý. Viên Chỉ huy hít một hơi thật sâu, tra chìa khoá xoay thử. Chìa khoá không nhúc nhích.
    Trong khoảnh khắc, Langdon tràn trề hy vọng là không mở được.
    Nhưng đến lần thử thứ hai, ổ khoá xoay, và Anderson kéo cánh cửa về phía mình.
    Khi cánh cửa nặng nề kêu ken két và mở ra phía ngoài, mùi không khí ẩm mốc ùa ra khắp hành lang.
    Langdon đăm đăm nhìn vào bóng tối nhưng chẳng thấy gì cả.
    - Giáo sư, - Anderson cất tiếng, vừa mò công tắc vừa liếc Langdon - Về thắc mắc của ông, chữ S trong SBB không phải là Thượng viện. Nó mang nghĩa là bên dưới cơ.
    - Bên dưới à? - Langdon ngơ ngác hỏi lại.
    Anderson gật đầu và bật công tắc ngay mé trong cánh cửa. Ngọn đèn duy nhất soi rõ một cầu thang dốc đứng chạy sâu xuống vùng tối đen như mực.
    SBB là tầng dưới tầng hầm.


    hết Chương 32

  2. #32
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 33


    Chuyên gia an ninh hệ thống Mark Zoubianis ngồi sâu hơn vào chiếc phô-tơi, mặt cau có trước những thông tin hiển thị trên màn hình máy tính.

    Địa chỉ này thuộc loại chó chết gì không biết?

    Những công cụ xâm nhập tốt nhất của anh ta hoàn toàn vô hiệu trong việc đột phá vào tài liệu này cũng như xác định địa chỉ IP bí ẩn của Trish. Mười phút đã trôi qua mà chương trình của Zoubianis vẫn không thể vượt qua được tường lửa của hệ thống. Hy vọng xâm nhập rất thấp. Chẳng trách họ trả mình nhiều tiền thế. Anh ta định trang bị lại công cụ và thử một cách tiếp cận khác thì điện thoại đổ chuông.

    Trish, lạy Chúa, anh đã bảo anh sẽ gọi lại cơ mà. Anh ta tắt tiếng chương trình bóng bầu dục và trả lời máy.
    - Tôi nghe đây?
    - Anh Mark Zoubianis? - một giọng đàn ông vang lên - Ngụ tại số 357 Kingston Drive ở Washington phải không?
    Zoubianis nghe rõ tiếng trao đổi lào xào xung quanh người đang nói chuyện với mình. Lại một thằng cha tiếp thị trên điện thoại đây mà? Điên chắc?
    - Để tôi đoán thử xem nào, chắc tôi vừa giành giải thưởng trong tuần tại Anguilla phải không?
    - Không, - người kia trả lời, giọng không mảy may đùa cợt - Đây là An ninh hệ thống của Cục Tình báo Trung ương. Chúng tôi muốn biết vì sao anh lại tìm cách xâm nhập vào một trong các cơ sở dữ liệu đặc biệt của chúng tôi?

    ***

    Cách tầng đáy Điện Capitol ba tầng, trong không gian thoáng đãng của trung tâm khách tham quan, nhân viên an ninh Nunez đang khoá các cửa chính như anh vẫn làm vào giờ này hằng tối. Khi quay trở lại, băng qua sàn nhà bằng cẩm thạch rộng mênh mông, anh nghĩ đến gã đàn ông mặc chiếc áo choàng quân đội với những hình xăm.

    Mình đã để hắn lọt vào. Nunez băn khoăn không biết ngày mai anh còn tiếp tục được làm việc không.

    Khi Nunez tiến đến cầu thang máy, bỗng có tiếng đập ở cửa phía ngoài buộc anh phải quay lại nhìn. Nunez ngoái ra cửa chính. Một người Mỹ da đen đứng tuổi đang vỗ mạnh tay lên lớp kính chắn, ra hiệu xin vào.

    Nunez lắc đầu và chỉ đồng hồ.

    Người kia lại đập tay và bước hẳn ra chỗ sáng đèn. Ông ta mặc bộ đồ màu lam thẫm rất sang trọng, mái tóc muối tiêu cắt ngắn. Tim Nunez đập thình thình. Trời ạ. Cho dù còn ở cách xa một quãng, Nunez vẫn nhận ra người đàn ông này là ai. Anh vội vã quay lại cửa ra vào và mở khoá.
    - Tôi xin lỗi, thưa ngài. Mời ngài vào ạ.

    Warren Bellamy - Kiến trúc sư Điện Capitol - bước qua ngưỡng cửa và cảm ơn Nunez bằng một cái gật đầu nhã nhặn. Ông có vóc người mềm mại, dong dỏng, dáng đi thẳng, ánh nhìn xuyên thấu toát ra sự tự tin rằng mình làm chủ được mọi việc xung quanh. Bellamy giữ cương vị giám thị Điện Capitol đã suốt hai mươi lăm năm qua.
    - Tôi giúp gì được ngài chăng? - Nunez hỏi.
    - Có đấy cảm ơn anh - Bellamy nói với giọng rành rẽ, dứt khoát.
    Tốt nghiệp ở một trong tám trường đại học danh giá nhất nước Mỹ, ông có cách diễn đạt chính xác chẳng khác gì người Anh chính gốc - Tôi được biết rằng các anh đã gặp một rắc rối tại đây tối hôm nay - ông lộ vẻ cực kỳ lo lắng.
    - Vâng, thưa ngài. Đó là…
    - Chỉ huy Anderson đâu?
    - Ở tầng dưới cùng với Giám đốc Sato thuộc Văn phòng An ninh của CIA.
    Mắt Bellamy càng mở to, lo lắng.
    - CIA ở đây à?
    - Vâng, thưa ngài. Giám đốc Sato xuất hiện gần như ngay sau sự cố.
    - Tại sao? - Bellamy hỏi.
    Nunez nhún vai. Tôi biết hỏi ai bây giờ?
    Bellamy đi thẳng tới thang máy.
    - Họ đâu rồi?
    - Họ vừa đi xuống các tầng dưới - Nunez rảo bước theo sau.
    Bellamy liếc nhìn lại với vẻ lo ngại.
    - Xuống dưới à? Tại sao nhỉ?
    - Tôi thật sự không biết. Tôi chỉ nghe nói thế qua bộ đàm.
    Bellamy bước nhanh hơn.
    - Đưa tôi tới chỗ họ ngay.
    - Vâng, thưa ngài.
    Hai người vội vã băng qua quãng trống, Nunez thoáng nhìn thấy một chiếc nhẫn vàng rất lớn trên ngón tay Bellamy.
    Nunez rút bộ đàm ra.
    - Tôi sẽ thông báo cho Chỉ huy biết ngài đang xuống.
    - Không - ánh mắt Bellamy sáng quắc - Tôi không muốn thông báo trước.
    Nunez đã phạm phải một vài sai lầm tối hôm nay, và anh không muốn tiếp tục phạm sai lầm bằng cách giấu Chỉ huy Anderson về sự hiện diện của Kiến trúc sư trong toà nhà.
    - Thưa ngài? - anh lên tiếng, vẻ bất an - Tôi nghĩ Chỉ huy Anderson sẽ muốn…
    - Anh có biết rằng chính tôi tuyển dụng Anderson không? - Bellamy nói.
    Nunez gật đầu.
    - Vậy thì tôi nghĩ anh ta muốn anh làm theo mong muốn của tôi.
    hết Chương 33

  3. #33
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 34


    Trish Dunne bước vào sảnh SMSC và ngạc nhiên khi nhìn thấy vỉ khách đang đợi. Trông anh ta chẳng hề giống các ông tiến sĩ nhân chủng, đại dương, địa lý và nhiều nhà khoa học khác đã từng vào toà nhà này. Không vận đồ flannel và chẳng có vẻ gì là chúi mũi vào sách vở suốt ngày, bác sĩ Abaddon giống một nhà quý tộc hơn, với bộ đồ may đo không chê vào đâu được. Anh ta cao lớn, thân hình nở nang, gương mặt mịn màng, mái tóc vàng óng được chải chuốt rất kỹ, tạo cho Trish ấn tượng rằng anh ta quen với những thứ xa xỉ hơn là các phòng thí nghiệm.
    - Bác sĩ Abaddon phải không ạ? - Trish lên tiếng và chìa tay ra.
    Người đàn ông có vẻ do dự, nhưng anh ta cũng nắm lấy bàn tay mũm mĩm của Trish trong bàn tay to lớn của mình.
    - Tôi xin lỗi. Thế chị là…?
    - Tôi là Trish Dunne. - Trish đáp - Tôi là trợ lý của bà Katherine. Bà ấy nhờ tôi ra đón bác sĩ vào phòng thí nghiệm.
    - Ồ, tôi hiểu rồi - Giờ thì người kia gật đầu - Rất vui được gặp cô, Trish. Xin lỗi, đều tại tôi nhầm lẫn. Tôi cứ đinh ninh rằng Katherine chỉ ở đây một mình tối nay - Anh ta ra hiệu về phía đại sảnh - Giờ thì xin phó thác cả cho cô. Mời cô dẫn đường.

    Mặc dù người đàn ông trấn tĩnh rất nhanh nhưng Trish vẫn thoáng nhận ra vẻ thất vọng trong ánh mắt anh ta. Chợt cô thấy ngờ ngợ về động cơ giữ bí mật của sếp mình. Katherine chẳng bao giờ tâm sự với Trish về cuộc sống riêng tư, song vị khách này, dẫu trẻ hơn Katherine, nhưng hấp dẫn và ăn mặc rất chải chuốt, rõ ràng xuất thân từ cùng tầng lớp giàu sang và nhiều đặc quyền đặc lợi của chị ấy.

    Chuyện bồ bịch đây chăng? Tuy nhiên, cho dù bác sĩ Abaddon có hình dung cuộc thăm viếng tối nay sẽ dẫn tới đâu thì dường như sự hiền diện của Trish cũng không nằm trong dự liệu của anh ta.

    Tại chỗ kiểm tra an ninh trong tiền sảnh, nhân viên bảo vệ nhanh tay tháo tai nghe, và Trish có thể bắt được tiếng ồn ào từ trận đấu của đội bóng Redskins. Anh chàng bảo vệ hướng dẫn bác sĩ Abaddon đi qua máy dò kim loại và đưa cho gã đeo phù hiệu an ninh tạm thời.
    - Đội nào đang thắng vậy? - Bác sĩ Abaddon vừa niềm nở hỏi vừa bỏ hết điện thoại, chìa khoá và một chiếc bật lửa ra khỏi túi.
    - Đội Đỏ dẫn trước ba bàn, - anh bảo vệ đáp, giọng nôn nóng, tỏ rõ ý muốn xem tiếp - Một trận đấu gay cấn quá!
    - Ông Solomon sẽ đến ngay bây giờ đấy. - Trish dặn anh bảo vệ - Nhờ anh dẫn ông ấy tới phòng thí nghiệm ngay khi ông ấy đến nhé!
    - Vâng - Anh bảo vệ nháy mắt vẻ biết ơn khi hai người đi qua - Xin cảm ơn vì báo trước - Tôi sẽ lưu ý.

    Lời nhắn của Trish không chỉ nhắc nhở anh chàng bảo vệ mà còn ngầm bảo bác sĩ Abaddon rằng Trish không phải là người duy nhất tham dự vào buổi tối riêng tư của anh ta với Katherine ở đây.
    - Anh quen Katherine thế nào vậy? - Trish hỏi, liếc mắt nhìn vị khách bí ẩn.
    Bác sĩ Abaddon cười khan.
    - Ồ, đó là một câu chuyện dài. Chúng tôi đang cùng phối hợp với nhau một vài việc.
    Hiểu rồi, Trish nghĩ. Không phải việc của tôi.
    - Đây là một cơ ngơi tuyệt vời, - Abaddon lên tiếng, ngoảnh nhìn xung quanh trong khi theo Trish tiến xuống hành lang lớn - Tôi chưa đến đây bao giờ cả.

    Giọng nói nhẹ nhàng của anh ta trở nên hoà nhã thêm theo mỗi bước chân, Trish nhận thấy người này đang dụng tâm để ý tất cả mọi thứ. Nhờ ánh sáng rực rỡ trong hành lang, cô nhận thấy da mặt anh ta trông không được thật cho lắm. Kỳ cục. Tuy nhiên, khi họ đi qua hành lang vắng vẻ. Trish vẫn giới thiệu sơ bộ với anh ta về mục đích và chức năng của SMSC, kể cả các khoang và những thứ chứa bên trong.
    Vị khách lộ vẻ thán phục.
    - Nghe như thể nơi này có một kho tàng khổng lồ gồm toàn mẫu vật vô giá. Tôi cứ tưởng phải có bảo vệ ở khắp mọi nơi.
    - Không cần, - Trish nói, đưa tay trỏ dãy ống kính mắt cá chạy dài trên trần nhà - An ninh ở đây được tự động hoá. Mỗi phân của hành lang này đều được ghi hình 24 tiếng suốt 7 ngày trong tuần, và hành lang này chính là xương sống của cả toà nhà. Không thể vào được bất kỳ phòng nào từ hành lang này mà không có thẻ và số PIN.
    - Một cách sử dụng máy quay rất hiệu quả.
    - Tạ ơn Trời, chúng tôi chưa bao giờ bị trộm cắp cả. Vả chăng, đây không phải là bảo tàng khiến ai đó phải tới ăn cướp, nào có ai ra chợ đen để tìm mua những bông hoa đã tuyệt chủng, những chiếc thuyền độc mộc của người Inuit, hay xác những con mực khổng lồ đâu.
    Bác sĩ Abaddon cười khùng khục.
    - Cô nói rất đúng.
    - Hiểm hoạ an ninh lớn nhất của chúng tôi là lũ gặm nhấm và côn trùng - Trish giải thích rằng người ta ngăn ngừa toà nhà khỏi sự phá hoại của côn trùng bằng cách làm lạnh toàn bộ rác thải và bằng một kết cấu kiến trúc gọi là “Tử địa”, dùng các bức tường kép vây lấy toàn bộ toà nhà như lớp vỏ bọc, tạo thành một không gian không thích hợp cho sự sống.
    - Rất tuyệt vời, - Abaddon nói - Thế phòng thí nghiệm của bà Katherine và ông Peter ở đâu?
    - Khoang 5 - Trish đáp - Phải đi hết lối này tới cuối hành lang.
    Abaddon đột ngột dừng lại, ngoái sang phải, nhìn về phía một ô cửa sổ nhỏ.
    - Chúa ơi! Cô có nhìn thấy thứ đó không?
    Trish cười.
    - Có đó là Khoang 3. Người ta gọi là Thuỷ trì.
    - Thuỷ trì à? - Abaddon hỏi lại, áp mặt vào sát lớp kính.
    - Có hơn 11.000 lít ethanol lỏng trong đó. Anh còn nhớ tôi vừa đề cập tới xác con mực khổng lồ chứ?
    - Đó là con mực à? - Bác sĩ Abaddon rời ánh nhìn khỏi cửa sổ, mắt mở lớn - Nó to thật?
    - Một con Architeuthis cái, - Trish nói - Nó dài hơn 12m.
    Bác sĩ Abaddon rõ ràng vô cùng thích thú trước con mực và dường như không thể nào rời mắt khỏi lớp vách kính. Hình ảnh ấy khiến Trish liên tưởng tới một cậu bé con đứng ở cửa hàng bán sinh vật cảnh. ao ước được vào trong và xem một chú cún con. Năm giây sau, anh ta vẫn đăm đăm nhìn qua cửa sổ.
    - Được rồi, được rồi - cuối cùng Trish đành lên tiếng, vừa cười vừa nhét thẻ và nhập mã PIN của cô - Nào. Tôi sẽ cho anh xem con mực.

    Khi bước vào không gian lờ mờ của Khoang 3, Mal’akh lướt mắt dọc các bức tường để tìm máy quay an ninh. Cô trợ lý bé nhỏ mập mạp của Katherine bắt đầu huyên thuyên về mẫu vật trong phòng.

    Mal’akh đâu có để tâm. Gã chẳng hứng thú với bất kỳ thứ gì ở mấy con mực khổng lồ. Mối quan tâm duy nhất của gã là dùng cái không gian kín đáo, tối tăm này để giải quyết một trở ngại ngoài dự tính.

    hết Chương 34

  4. #34
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 35


    Cầu thang bằng gỗ dẫn xuống tầng đáy Điện Capitol cũng dốc và nông như các cầu thang Langdon vừa đi qua. Anh thở gấp hơn, phổi như thắt lại. Không khí dưới này lạnh lẽo và ẩm ướt vô chừng. Langdon bất giác nhớ lại một dãy cầu thang tương tự mà anh đã gặp vài năm trước ở Địa Ngục môn. Nghĩa địa Vatican.
    Anderson đi đầu, dẫn đường với cây đèn pin trên tay. Tiếp đến là Langdon. Sato theo sát đằng sau, bàn tay nhỏ bé của bà ta thỉnh thoảng lại thúc vào lưng anh. Mình sẽ đi càng nhanh càng tốt. Anh hít vào thật sâu, cố gắng không để tâm tới những bức tường chật hẹp hai bên. Cầu thang này vốn chẳng rộng rãi gì so với vai anh, thành thử cái túi đeo trên người cứ cọ quệt vào vách tường.
    - Lẽ ra ông nên để cái túi lại trên kia - Sato góp ý.
    - Không sao. - Langdon đáp, hoàn toàn không muốn cái túi rời khỏi tầm mắt mình. Anh nhớ tới gói nhỏ của Peter và chưa hình dung nổi nó liên quan thế nào với thứ gì đó ở tầng đáy này.
    - Chỉ vài bước chân nữa thôi, - Anderson nói - Gần tới rồi.
    Cả nhóm đi sâu hơn vào bóng tối, tách khỏi tầm ánh sáng của ngọn đèn duy nhất trên cầu thang. Khi rời chân khỏi bậc thang gỗ cuối cùng, Langdon cảm thấy sàn nhà dưới chân mình là nền đất.
    Hành trình vào trung tâm Trái đất đây. Sato bước xuống sau anh.
    Anderson giơ đèn lên, kiểm tra xung quanh. Tầng đáy không hẳn là một tầng nhà mà chỉ là một hành lang cực kỳ chật hẹp chạy vuông góc với cau thang. Anderson rọi đèn sang trái rồi sang phải. Langdon thấy lối đi chỉ dài khoảng 15 mét và có những cánh cửa gỗ nhỏ ở cả hai bên. Những cánh cửa sát nhau đến mức phòng ốc đằng sau chúng có lẽ không thể rộng hơn 3 mét.
    Kho lưu trữ ACME(53) kết hợp với hầm mộ Domatilla(54), Langdon nghĩ thầm trong khi Anderson xem tấm sơ đồ. Cái phần nhỏ xíu mô tả tầng đáy được đánh dấu X để chỉ vị trí của SBB13. Langdon nhận thấy bố cục khu này rất giống một lăng tẩm với mười bốn ngôi mộ chạy thành hai hàng đối diện nhau, mỗi bên bảy mộ, song có một khoang bị bỏ đi để lấy chỗ bố trí cái cầu thang mà họ vừa theo xuống.

    Tổng cộng là mười ba.
    Anh ngờ rằng “mười ba” nhà lý luận của nước Mỹ sẽ tranh luận gay gắt nếu họ biết rằng có đúng mười ba gian phòng kho bên dưới Điện Capitol. Nhiều người cứ băn khoăn không hiểu vì sao Quốc ấn của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ có đúng 13 ngôi saio, 13 mũi tên, 13 bậc kim tự tháp, 13 đường sọc trên tấm khiên, 13 chiếc lá ô liu, 13 quả ô liu. 13 chữ cái trong dòng chữ annuit coeptis (“Người phê chuẩn nhiệm vụ của chúng ta”), 13 chữ cái trong dòng chữ e pluribus unum (“Trong rất nhiều, có một”), và nhiều nhiều nữa.
    - Bị bỏ hoang hay sao ấy, - Anderson nói, rọi quầng sáng đèn vào gian phòng ngay trước mặt họ. Cánh cửa gỗ nặng nề mở toang.
    Quầng sáng soi rõ một gian phòng bằng đá rất hẹp, khoảng 3 mét chiều rộng và 9 mét chiều sâu, tương tự một lối đi cụt không dẫn tới đâu cả. Gian phòng chẳng có gì ngoài vài cái thùng gỗ cũ nát và mấy mảnh giấy bọc đồ nhàu nhĩ.
    Anderson rọi đèn lên tấm biển đồng gắn trên cửa. Tấm biển toàn gỉ đồng, nhưng vẫn có thể đọc được các chữ: SBB IV
    - SBB Bốn, - anh ta nói.
    - Thế SBB13 ở đâu? - Sato hỏi, có vài làn hơi uốn lượn toả ra từ miệng bà ta do không khí lạnh lẽo ở tầng này.
    Anderson xoay ánh đèn về đầu phía nam của hành lang.
    - Đằng kia.
    Langdon nhìn xoáy vào lối đi hẹp và rùng mình, cảm thấy vã mồ hôi mặc dù ở đây khá lạnh.
    Họ đi qua cả dãy ô cửa, tất cả các phòng trông đều giống nhau, cửa khép hờ, rõ ràng là bị bỏ phế từ lâu. Đến cuối dãy, Anderson xoay sang phải, nhấc đèn rọi thẳng vào phòng SBB13. Tuy nhiên, quầng sáng đèn pin bị chặn lại bởi cánh cửa gỗ nặng nề.
    Không như các phòng khác, cửa phòng SBB13 đóng chặt.
    Cánh cửa cuối cùng này trông giống hệt những cửa khác - bản lề to nặng, tay nắm bằng thép, và biển số bằng đồng đã gỉ xanh. Bảy chữ cái nằm trên biển số đúng là những chữ cái trên bàn tay Peter.
    SBB XIII
    Xin hãy bảo rằng cửa bị khoá đi, Langdon nhủ thầm.
    Sato nói không do dự.
    - Thử mở xem nào.
    Viên Chỉ huy cảnh sát lộ vẻ miễn cưỡng, nhưng vẫn bước tới, nắm lấy tay nắm thép to nặng và kéo nó xuống. Tay nắm không nhúc nhích. Anh ta rọi đèn, soi rõ một ổ khoá kiểu cũ rất to.
    - Thử bằng chìa chính xem, - Sato gợi ý.
    Anderson xỏ chiếc chìa khoá mở cánh cửa lối vào ở phía trên, nhưng nó không vừa.
    - Tôi lầm chăng, - Sato nói, giọng đầy cay nghiệt - hay lực lượng An ninh các anh không cần tiếp cận được mọi ngóc ngách của một toà nhà trong trường hợp khẩn cấp?
    Anderson thở hắt ra và nhìn lại Sato.
    - Thưa bà, người của tôi đang tìm chìa khoá phụ, nhưng…
    - Bắn vỡ ổ khoá đi, - Sato ra lệnh, hất đầu về phía ổ khoá phía dưới tay nắm.
    Mạch đập của Langdon như vọt lên.
    Anderson hắng giọng, nói một cách khó khăn.
    - Thưa bà, tôi đang đợi thông báo về chiếc chìa khoá phụ. Tôi chắc là phá tung lối vào thì không dễ…
    - Thế ngồi tù vì cản trở cuộc điều tra của CIA thì dễ hơn chăng?
    Anderson có vẻ bàng hoàng. Sau một lúc lâu. anh miễn cưỡng đưa đèn cho Sato và rút súng ra.
    - Đợi đã! - Langdon lên tiếng, thấy không thể cứ thờ ơ đứng ngoài được nữa - Nghĩ kỹ đi. Peter đã phải hy sinh cả một bàn tay chứ không chịu tiết lộ thứ gì đằng sau cánh cửa. Các vị có chắc rằng chúng ta cần làm thế này không? Phá khoá một cánh cửa chỉ để đáp ứng yêu cầu của một tên khủng bố.
    - Ông có muốn cứu Peter Solomon không? - Sato hỏi.
    - Dĩ nhiên, nhưng…
    - Vậy thì tôi đề nghị ông làm đúng những gì gã bắt cóc đòi hỏi.
    - Mở một cánh cổng cổ ư? Bà nghĩ đây là cánh cổng chắc?
    Sato rọi đèn vào mặt Langdon.
    - Thưa Giáo sư, tôi không biết nó là cái quái gì. Cho dù đây là phòng kho hay lối vào bí mật của một kim tự tháp cổ thì tôi vẫn định mở nó ra. Tôi nói thế đủ rõ chưa?
    Langdon nheo mắt vì chói sáng và gật đầu.
    Sato hạ đèn xuống, rọi vào ổ khoá cũ kỹ trên cánh cửa.
    - Chỉ huy! Tiến hành đi.
    Chừng như vẫn băn khoăn trước kế hoạch này, Anderson rút khẩu súng rất chậm, và đăm đăm nhìn nó với vẻ do dự.
    - Ôi lạy Chúa! - Sato vươn bàn tay nhỏ bé giật lấy vũ khí của Anderson, đoạn nhét đèn pin vào bên tay để không của anh - Rọi đèn đi.
    Cầm khẩu súng với vẻ tự tin của một người đã được huấn luyện về vũ khí. Sato lanh lẹ bật chốt an toàn, lên đạn và nhằm vào ổ khoá.
    - Đợi đã!- Langdon kêu lên, nhưng đã quá muộn.
    Súng nổ ba phát.
    Langdon cảm giác màng nhĩ vỡ tung. Bà ta điên rồi?! Tiếng súng ở không gian chật hẹp nghe thật đinh tai nhức óc.
    Anderson cũng chấn động không kém, anh ta run run rọi đèn lên cánh cửa đầy vết đạn.
    Ổ khoá đã bung, phần gỗ xung quanh vỡ nát. Khoá mở, cánh cửa cũng hé ra.
    Sato chĩa súng lên và ấn đầu nòng vào cửa, đẩy mạnh. Cánh cửa bật vào khoảng tối đen phía trong.
    Langdon căng mắt nhìn nhưng chẳng thấy gì. Cái mùi quái quỷ gì thế nhỉ? Một mùi hôi thối khác lạ thoát ra từ bóng tối.
    Anderson bước vào ô cửa và rọi đèn lên sàn, thận trọng lần theo suốt dọc chiều dài phần nền bẩn thỉu. Gian phòng này cũng dài và hẹp như những phòng khác. Tường xây bằng đá gồ ghề, làm cho căn phòng phảng phất không khí một buồng giam cổ xưa. Nhưng cái mùi đó…
    - Chẳng có gì ở đây cả, - Anderson nhận xét, di chuyển quang sáng đèn xa thêm trên sàn. Cuối cùng, khi ánh sáng chạm tới cuối phòng, viên Chỉ huy nâng cao nó lên để rọi được cả bức tường xa nhất.
    - Chúa ơi…! - anh ta thét.
    Tất cả mọi người cùng trông theo và nhảy lùi lại.
    Langdon trân trối nhìn chỗ sâu nhất của gian phòng, không sao tin nổi vào mắt mình.
    Trước vẻ hãi hùng của anh, một thứ cũng đang trừng trừng nhìn lại.

    Chú thích:
    (53) Tập đoàn Acme hay Công ty sản xuất mọi thứ là một doanh nghiệp hư cấu tồn tại trong nhiều phim hoạt hình, nổi tiếng với những sản phẩm cực kỳ nguy hiểm và kỳ quặc thường gặp sự cố vào đúng những thời khắc tồi tệ nhất. Tên Acme mang tính châm biếm vì từ acme xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là đỉnh cao - ND.
    (54) Hầm mộ Domifilla (đặt theo tên Thánh Domitilla) là một trong những hầm mộ rất lớn và ấn tượng, chạy dài 15 km dưới lòng đất ở Rome. Đây là hệ thống hầm mộ cổ nhất và cũng là nơi duy nhất còn thấy hài cốt. Trên các lối đi còn có một bức tranh tường từ thế kỷ II mô tả Bữa tiệc ly và nhiều hiện vật giá trị khác. Cuối cùng, đây là hầm mộ duy nhất có một nhà thờ ngầm dưới đất, lối vào hầm mộ phải đi qua nhà thờ có từ thế kỷ thứ IV này - ND.
    hết Chương 35

  5. #35
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 36


    - Lạy Chúa lòng lành…? - Anderson giật lui một bước ở ngưỡng cửa, ánh đèn chới với.
    Langdon cũng bật ngược trở lại, giống hệt Sato, người giật mình lần đầu trong buổi tối hôm nay.
    Sato chĩa khẩu súng về phía bức tường hậu và ra hiệu cho Anderson rọi đèn lần nữa. Viên Chỉ huy nhấc đèn lên. Quầng sáng mờ dần khi chạm tới bức tường phía xa, nhưng ánh sáng vẫn đủ soi rõ hình dáng một gương mặt ma quái và vàng vọt, trừng trừng nhìn lại họ qua hốc mắt trống rỗng.
    Một cái sọ người.
    Cái sọ nằm trên một cái bàn gỗ ọp ẹp kê dựa vào bức tường hậu của gian phòng. Hai đoạn xương ống chân nằm bên cạnh cái sọ, cùng với một vài thứ được bố trí có chủ định trên bàn như ở một nơi thờ cúng - một cái đồng hồ cát cổ, một cái bình thót cổ bằng pha lê, một cây nến, hai cái đĩa đựng thứ bột nhờ nhờ, và một tập giấy. Đứng dựa vào tường bên cạnh cái bàn là hình dáng đáng sợ của một lưỡi hái dài, với phần lưỡi cong quen thuộc.
    Sato bước vào phòng.
    - Chà… xem ra Peter Solomon cất giữ nhiều bí mật hơn tôi tưởng.
    Anderson gật đầu, tiến theo sát bà ta.
    - Tàng trữ xương cốt trong phòng riêng - Anh ta nhấc cao đèn và soi khắp không gian còn lại của căn phòng trống - Lại còn cái mùi đó? anh ta nói thêm, mũi nhăn lại - Gì thế nhỉ?
    - Lưu huỳnh - Langdon đáp từ phía sau - Có hai cái đĩa trên bàn. Đĩa bên phải đựng muối. Đĩa kia đựng lưu huỳnh.
    Sato quay ngoắt lại, vẻ nghi ngờ.
    Làm thế quái nào mà ông biết điều đó?
    - Bởi vì, thưa bà, có những căn phòng giống hệt thế này ở khắp nơi trên thế giới.
    ***
    Trên họ hai tầng, nhân viên an ninh Nunez đang tháp tùng Kiến trúc sư Điện Capitol, Warren Bellamy, đi dọc hành lang chạy hết chiều dài tầng hầm phía đông. Nunez dám khẳng định anh vừa nghe thấy ba phát súng dưới lòng đất. Không thể xảy ra chuyện đó được.
    - Cửa xuống tầng đáy đang mở, - Bellamy nói, nheo mắt nhìn dọc hành lang tới một cánh cửa he hé ở phía xa.
    Một buổi tối kỳ lạ, Nunez nghĩ bụng. Chẳng ai xuống đó cả.
    - Tôi rất mừng nếu biết chuyện gì đang diễn ra. - anh ta nói, lần tay lấy bộ đàm.
    - Quay lại vị trí của anh đi, - Bellamy ra lệnh - Từ đây, tôi tự xoay xở được!
    Nunez chần chừ.
    - Ngài chắc chứ?
    Warren Bellamy dừng lại, đặt một bàn tay rắn chắc lên vai Nunez.
    - Con trai, ta đã làm việc ở Điện Capitol hai mươi lăm năm rồi. Ta nghĩ ta có thể tự tìm được lối đi.
    hết Chương 36

  6. #36
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 37


    Trong đời mình, Mal’akh đã từng nhìn thấy một vài không gian kỳ quái, nhưng rất ít nơi ganh đua được với thế giới bất phàm của Khoang 3. Thuỷ trì. Trông như thể một nhà khoa học điên khùng đã chiếm lấy siêu thị Walmart và chất các bình mẫu vật đủ hình đủ dạng lên mọi giàn và giá đựng đồ để tạo ra hiện trạng của căn phòng rộng mênh mông này. Với kiểu chiếu sáng như trong phòng rửa ảnh, Khoang 3 tràn ngập thứ “ánh sáng an toàn” màu đỏ nhờ nhờ phát ra từ bên dưới các giá đỡ, toả ngược lên trên và soi thẳng tới những bình chứa đựng đầy ethanol. Mùi hoá chất bảo quản khiến người ta buồn nôn.
    - Khoang này chứa hơn 20.000 mẫu vật. - cô gái mũm mĩm giới thiệu - Cá, động vật gặm nhấm, động vật có vú, bò sát.
    - Tôi hy vọng tất cả đều chết hẳn rồi chứ? - Mal’akh hỏi, cố tỏ ra lo lắng.
    Cô gái cười.
    - Vâng, vâng. Tất cả đều chết rồi. Nhận việc ở đây xong, suốt sáu tháng đầu tôi không dám bước vào phòng này đấy.
    Mal’akh có thể hiểu lý do tại sao. Nhìn đến đâu cũng chỉ thấy tiêu bản của đủ mọi loại sinh vật đã chết - kỳ nhông, sứa, chuột, sâu bọ, chim, và nhiều giống khác mà gã không xác định được. Chừng như sợ bản thân bộ sưu tập còn chưa đủ kinh dị, người ta mới lắp những ngọn đèn đỏ nhờ nhờ kia. Chúng giữ cho các mẫu vật nhạy sáng nọ không bị ánh sáng trực tiếp chiếu vào quá lâu, khiến khách tham quan có cảm giác mình đang đứng trong một bể thuỷ sinh khổng lồ, xung quanh là bóng tối với các sinh vật vô hồn đang âm thầm theo dõi.
    - Kia là một con cá vây tay, - Trish giới thiệu và trỏ một bình chứa bằng Plexiglas rất lớn đựng con cá xấu xí nhất mà Mal’akh từng nhìn thấy - Người ta cứ nghĩ loài này đã tuyệt chủng cùng với khủng long, nào ngờ mấy năm trước có người lại tìm được nó ngoài khơi châu Phi và chuyển tặng cho viện Smithsonian.
    May cho cô đấy, Mal’akh nghĩ, hầu như chẳng buồn nghe. Gã còn bận lướt nhìn các bức tường để tìm kiếm máy quay an ninh. Gã mới nhìn thấy một cái - bố trí ngay ở cửa chính - không có gì lạ bởi vì cửa là lối ra vào duy nhất ở đây.
    - Còn kia là thứ anh muốn xem… - Trish nói, dẫn Mal’akh tới cái bể khổng lồ mà gã nhìn thấy từ cửa sổ - Tiêu bản dài nhất của chúng tôi - Cô dang rộng cánh tay để mô tả con vật kinh khủng, chẳng khác gì người dẫn chương trình đang giới thiệu một chiếc xe hơi mới - Một con Architeuthis.
    Bể chứa con mực trông giống một loạt buồng kính điện thoại được đặt nghiêng và đục thông với nhau. Bên trong cỗ quan tài bằng Plexiglas trong suốt, dài thượt này là một hình dáng nhợt nhạt và khó xác định Mal’akh trân trối ngó cái đầu hình củ hành và đôi mắt to bằng quả bóng rổ.
    - Thứ này khiến cho con cá vây tay của cô trông vẫn còn hấp dẫn chán, - gã nhận xét.
    - Cứ đợi tới lúc anh nhìn phần tua của nó nhé!
    Trish lật phần nắp bể lên. Mùi ethanol ùa ra khi cô nhoài người vào bể và bật một cái công tắc ngay phía trên vạch chất lỏng. Một dãy đèn huỳnh quang nhấp nháy sáng lên dọc theo toàn bộ phần đáy bể. Con Architeuthis liền hiện ra với toàn bộ vẻ rực rỡ của nó - một cái đầu khổng lồ gắn vào khối thân đồ sộ trơn trượt gồm toàn những xúc tu và giác hút sắc như dao cạo.
    Trish bắt đầu kể một con Architeuthis có thể đánh gục một con cá voi như thế nào.
    Mal’akh hờ hững nghe.
    Đã đến lúc rồi.

    ***

    Mỗi lần vào Khoang 3, Trish Dunne lại cảm thấy hơi bất an, nhưng cảm giác ớn lạnh vừa chạy qua người cô rất khác lạ.
    Rất bản năng. Rất nguyên thuỷ.
    Trish cố gắng phớt lờ, nhưng nó mau chóng nổi lên rõ rệt và bám riết lấy cô. Mặc dù không xác định nổi căn nguyên nỗi lo lắng của mình, nhưng linh tính mách bảo Trish rằng đã đến lúc phải rời khỏi nơi này.
    - Dẫu sao đó cũng chỉ là con mực, - cô kết luận, tiến lại bể và tắt đèn - Có lẽ chúng ta nên vào chỗ Katherine…
    Một bàn tay to lớn bịt cứng lấy miệng Trish, giật mạnh đầu cô ra sau. Ngay lập tức, một cánh tay chắc khỏe siết lấy cổ cô, ép mạnh cô vào một bộ ngực cứng như đá. Trong khoảng khắc, Trish đờ đẫn vì bất ngờ.
    Tiếp đến là nỗi kinh hãi.
    Gã kia đưa tay sờ soạng ngực Trish, tóm lấy tấm thẻ từ và giật ra. Dây đeo miết vào gáy cô bỏng rát trước khi đứt tung. Chiếc thẻ rơi xuống sàn ngay dưới chân họ. Trish vùng vẫy, cố gắng thoát thân, nhưng bàn tay gã nọ vẫn bịt chặt miệng cô. Gã cúi xuống và ghé sát miệng vào tai cô, thì thào.
    - Khi anh buông tay khỏi miệng cưng, cưng không được kêu, rõ chưa?
    Trish cuống quít gật đầu, phổi như rách toang vì thiếu không khí.
    Mình ngạt thở quá!
    Gã đàn ông bỏ tay khỏi miệng Trish, và cô há miệng, hít thật sâu.
    - Hãy để cho tôi đi? - cô hổn hển van nài - Anh làm gì vậy?
    - Cho anh biết số PIN của cưng nào, - gã đàn ông nói.
    Trish hoàn toàn bối rối. Katherine! Giúp em! Gã đàn ông này là ai?!
    - Bảo vệ có thể nhìn thấy anh đấy! - cô nói, nhưng biết rõ rằng họ ở ngoài tầm nhìn của các máy quay. Không có ai đang quan sát cả.
    - Số PIN của cưng, - gã đàn ông nhắc lại - Số PIN khớp với thẻ của cưng ấy.
    Nỗi sợ hãi lạnh buốt xâm chiếm ruột gan Trish, cô quẫy đạp dữ dội, vùng vẫy cánh tay còn tự do và cào lên mắt gã đàn ông. Những ngón tay của cô chạm vào thịt và cào sâu một bên má. Bốn vết rách thẫm màu lộ ra trên da thịt gã. Khi đó, cô nhận ra những vết thẫm màu trên da thịt gã kia không phải là máu. Cô vừa cào rách lớp mặt nạ hoá trang của gã, để lộ ra những hình xăm xám xịt phía dưới.
    Con quái vật này là ai? Với sức mạnh kinh người, gã đàn ông xoay mạnh Trish và nhấc bổng cô lên, giơ cô lơ lửng phía trên cái bể ngâm mực khổng lồ vẫn để ngỏ. Khuôn mặt cô gần sát với dung dịch ethanol. Mùi hoá chất xộc vào mũi cô bỏng rát.
    - Số PIN của mày là gì? - gã kia nhắc lại.
    Mắt Trish cay xè, cái xác tái nhợt của con mực nằm chìm phía dưới, rất gần mặt cô.
    - Nói cho tao biết, - gã đàn ông ra lệnh, hạ Trish xuống sát mặt dung dịch - Là gì nào?
    Cổ họng Trish rát bỏng.
    - Không-tám-không-bốn! - cô nói vội, gần như nghẹt thở - Hãy thả tôi ra! Không-tám-không-bốn!
    - Mày nói dối, - gã đàn ông đe doạ, hạ tay xuống thấp hơn nữa khiến tóc Trish chạm vào ethanol.
    - Tôi không nói dối! - cô đáp và ho sặc sụa - Mùng 4 tháng Tám! Đó là sinh nhật tôi!
    - Cảm ơn nhé, Trish.
    Hai bàn tay rất khỏe của gã đàn ông nghiến chặt vào đau Trish, và một sức mạnh kinh người ấn mạnh cô xuống thấp, làm mặt cô ngập vào làn bể. Hai mắt cô bỏng rát. Gã đàn ông nhấn mạnh hơn, khiến cả đầu cô gái chìm hẳn trong dung dịch ethanol. Trish cảm thấy mặt mình áp vào cái đầu con mực.
    Thu hết sức lực trong người, cô quẫy đạp dữ dội, cong người về phía sau, cố gắng nhấc đầu mình lên khỏi bể dung dịch. Nhưng hai bàn tay chắc khỏe kia vẫn không nhúc nhích.
    Mình phải thở
    Vẫn chìm trong dung dịch, Trish cố gắng không mở mắt và miệng, cố gắng không hít vào, dù hai phổi đau rát. Không. Đừng! Nhưng cuối cùng phản xạ hô hấp của Trish đã thắng thế.
    Miệng cô há ra, hai lá phổi mở căng hết cỡ, hối hả hút lấy dưỡng khí mà cơ thể đang cần. Dòng ethanol cuồn cuộn ộc vào miệng cô.
    Khi các hoá chất xộc tới phổi, Trish cảm nhận một cơn đau đớn chưa từng hình dung nổi trong đời. Thật may, nó chỉ kéo dài vài giây trước khi thế giới quanh cô vụt tắt.

    ***

    Mal’akh đứng cạnh bể, thở dốc và xem xét hiện trường.
    Người phụ nữ bất động nằm gục trên thành bể, mặt vẫn chìm trong ethanol. Nhìn xác cô gái. Mal’akh chợt nhớ lại một người phụ nữ khác từng bị gã sát hại.
    Isabel Solomon.

    Đã lâu lắm rồi. Một sinh mạng khác.

    Mal’akh chòng chọc nhìn cái xác mềm nhũn. Rồi gã ôm lấy hông Trish và dùng chân kê, nhấc cô lên, đẩy vào qua mép bể. Trish Dunne trượt xuống dung dịch ethanol, đầu trước, thân sau, và rơi tùm xuống. Mặt nước lắng dần, chỉ còn thấy cô gái nổi lập lờ phía trên sinh vật biển khổng lồ kia. Khi lớp quần áo ngấm dung dịch và nặng dần, Trish bắt đầu chìm xuống lòng bóng tối, từng chút, từng chút một, cuối cùng nằm yên phía trên con mực.

    Mal’akh lau tay và đậy nắp Plexiglas, khoá bể lại.
    Thuỷ trì có thêm một mẫu vật mới.
    Gã nhặt chiếc thẻ trên sàn và đút vào túi: 0804.

    Lúc mới nhìn thấy Trish ở sảnh. Mal’akh cho rằng cô là một trở ngại. Sau đó, gã nhận ra tấm thẻ và mã PIN của cô chính là những yếu tố bảo đảm cho âm mưu của gã. Nếu phòng lưu trữ dữ liệu được bảo vệ đúng như Peter nói thì sẽ hơi khó khăn để thuyết phục Katherine mở ra. Giờ thì ta đã có chìa khoá. Gã rất hài lòng vì không phải phí thời gian phỉnh phờ Katherine làm theo ý gã nữa.
    Lúc đứng thẳng lên. Mal’akh nhìn thấy bóng mình phản chiếu trong ô cửa sổ, với lớp hoá trang đã bị cào rách nát. Nhưng chẳng sao.
    Khi Katherine hiểu ra mọi việc thì đã quá muộn rồi.
    hết Chương 37

  7. #37
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 38


    - Phòng này là của Hội Tam điểm ư? - Sato hỏi, rời mắt từ cái đầu lâu sang phía Langdon.
    Langdon thản nhiên gật đầu.

    Người ta gọi nó là Gian buồng Suy niệm. Những căn phòng loại này được thiết kế như những nơi rất lạnh lẽo, giản đơn để cho một hội viên Tam điểm có thể suy niệm về cái chết của chính mình. Bằng cách ngồi thiền định, ngẫm nghĩ về tính tất yếu của cái chết, một hội viên Tam điểm có thể ngộ ra nhiều điều rất giá trị về bản chất của cuộc sống.

    Sato nhìn quanh một lượt cái không gian quái dị này, rõ ràng là chưa tin tưởng lắm.
    Đây là một dạng phòng thiền ư?

    Hoàn toàn đúng. Những gian buồng này luôn chứa cùng một loại biểu tượng: đầu lâu và xương bắt chéo, lưỡi hái, đồng hồ cát, lưu huỳnh, muối, giấy trắng, nến và vài thứ khác. Các biểu tượng của cái chết gợi cho hội viên Tam điểm nhiều suy nghĩ, xem sống thế nào cho tốt khi còn tồn tại trên cõi đời này.

    Trông cứ như một miếu thờ thần chết vậy, - Anderson nói.
    Đó cũng là một nhận định.

    Hầu hết các sinh viên môn biểu tượng học của tôi đều có chung một phản ứng ban đầu - Langdon thường gợi ý họ đọc cuốn Các biểu tượng Của Hội Tam điểm do Beresniak soạn, trong đó có những bức ảnh rất đẹp về các Gian phòng Suy niệm.
    - Và sinh viên của ông không hề kinh hãi khi biết các hội viên Tam điểm ngồi thiền với đầu lâu và lưỡi hái? - Sato gặng hỏi.
    - Cũng không kinh hãi hơn là bao so với cảnh tín đồ Thiên Chúa giáo cầu nguyện dưới chân người bị đóng đinh thập giá, hay tín đồ Hindu tụng kinh trước mặt vị thần voi bốn tay Ganesh. Việc hiểu sai các biểu tượng của một nền văn hoá là nguyên nhân phổ biến gây ra sự kỳ thị.

    Sato quay đi, rõ ràng là không hứng thú lắm tới bài giảng. Bà ta tiến về phía chiếc bàn. Anderson cố gắng rọi đèn theo, nhưng quầng sáng bắt đầu mờ dần. Anh ta vỗ vỗ vào đế đèn để làm cho nó sáng hơn một chút.

    Ba người tiến sâu hơn vào khoảng không gian chật hẹp. Mùi lưu huỳnh cay xè xộc vào lỗ mũi Langdon. Tầng đáy rất ẩm ướt, và hơi ẩm trong không khí chính là tác nhân kích thích lưu huỳnh. Sato đến bên chiếc bàn và đăm đăm nhìn xuống cái sọ cùng những đồ vật đi kèm. Anderson theo chân bà ta, cố hết sức soi rọi chiếc bàn bằng ánh sáng đang mờ dần của chiếc đèn pin.

    Sato kiểm tra mọi thứ trên bàn rồi chống tay lên hông, thở dài.
    - Cái đống đồng nát này là gì nhỉ?
    Langdon biết rằng đồ vật trong căn phòng này được lựa chọn và bài trí rất tỉ mỉ.
    - Là các biểu tượng của quá trình biến cải. - anh giải thích, cảm thấy gò bó khi tiến tới và cùng đứng với hai người kia bên chiếc bàn - Đầu lâu là biểu tượng cho quá trình cải biến cuối cùng của con người thông qua giai đoạn phân rã, nó cũng nhắc nhở rằng một ngày nào đó tất cả chúng ta đều sẽ trút bỏ xác thịt. Lưu huỳnh và muối là các chất xúc tác giả kim để thúc đẩy quá trình này. Đồng hồ cát tượng trưng cho sức mạnh khả biến của thời gian - Anh trỏ cây nến không cháy - Thứ này đại diện cho ngọn lửa nguyên sơ và việc đánh thức con người khỏi giấc ngủ mê muội của mình, đó là một quá trình thay đổi thông qua khai sáng.
    - Thế thứ kia? - Sato hỏi, tay trỏ vào góc.
    Anderson xoay cây đèn pin về phía lưỡi hái to tướng đứng dựa vào bức tường hậu.
    - Không phải là biểu tượng của cái chết như nhiều người lầm tưởng, - Langdon nói - Lưỡi hái thực ra là một biểu tượng cho sự nuôi dưỡng của trời đất, người ta dùng nó để thu hoạch những món quà tự nhiên.
    Sato và Anderson đều im lặng, rõ ràng là đang cố ghi nhận không gian kỳ quặc xung quanh.
    Langdon chỉ muốn rời khỏi đây thật mau.
    - Căn phòng có vẻ dị thường với các vị, - anh bảo họ - nhưng chẳng có gì để xem ở đây cả, thật sự thì nó rất bình thường. Vô khối nơi hội họp của Hội Tam điểm cũng có những căn buồng giống hệt thế này.
    - Nhưng đây không phải là nơi hội họp của Hội Tam điểm! - Anderson tuyên bố - Đây là Điện Capitol, và tôi muốn biết căn phòng này có tác dụng quái quỷ gì trong toà nhà của tôi.
    - Đôi khi các hội viên Tam điểm bố trí riêng những không gian này trong văn phòng hoặc tư gia của mình để làm nơi thiền định. Chuyện đó không phải là hiếm - Langdon biết một bác sĩ mổ tim ở Boston đã biến một ngăn nhỏ trong văn phòng mình thành Gian buồng Suy niệm để suy ngẫm về cái chết trước khi tiến hành ca phẫu thuật.
    Sato có vẻ bồn chồn.
    - Ý ông là Peter Solomon xuống đây để suy niệm về cái chết ư?
    - Thật sự thì tôi không biết, - Langdon thành thực đáp - Có lẽ ông ấy tạo ra gian phòng này cho các huynh đệ Tam điểm đang làm việc trong toà nhà, dành cho họ một không gian tinh thần tách biệt hẳn với những hỗn loạn của thế giới trần tục… một nơi để nhà làm luật quyền thế suy niệm trước khi đưa ra những quyết định gây ảnh hưởng đến người khác.
    - Một tình cảm đáng trân trọng, - Sato nói giọng mỉa mai - nhưng tôi có cảm giác dân Mỹ sẽ thấy bất ổn khi biết các nhà lãnh đạo của mình ngồi cầu nguyện trong mấy gian buồng chứa lưỡi hái và đầu lâu.
    Ồ, không hề, Langdon nghĩ thầm và tin rằng thế giới sẽ khác hẳn nếu có nhiều nhà lãnh đạo dành thời gian suy ngẫm về ý nghĩa của cái chết trước khi phát động chiến tranh.
    Sato bĩu môi và cẩn thận xem xét tất cả bốn góc gian buồng.
    - Dứt khoát phải có gì đó ở chỗ này ngoài đống xương người và mấy cái bát hoá chất, thưa Giáo sư. Có kẻ đưa ông từ nhà riêng ở Cambridge tới đây chỉ để có mặt trong gian buồng này mà.
    Langdon nắm chặt cái túi đeo bên sườn, vẫn không hiểu nổi gói nhỏ anh mang theo có liên hệ gì với gian buồng này.
    - Thưa bà, tôi xin lỗi, nhưng tôi không thấy có gì khác thường ở đây cả - Langdon hy vọng rằng cuối cùng họ cũng có thể tiến hành việc tìm kiếm Peter.
    Ánh đèn của Anderson lại chập chờn, và Sato quay phắt về phía anh ta, lộ rõ vẻ cáu kỉnh.
    - Trời đất ơi, phiền phức ghê! - Bà ta thọc tay vào túi và lôi ra một cái bật lửa hút thuốc. Bật lửa lên, bà ta giơ tay thắp ngọn nến để trên bàn. Bấc nến nổ lách tách và cháy sáng, toả ra thứ ánh sáng ma quái trong không gian ngột ngạt này. Những cái bóng dài nhảy nhót trên tường đá. Khi ngọn lửa sáng hơn, một cảnh tượng bất ngờ hiện ra trước mắt họ.
    - Nhìn kìa! - Anderson nói và giơ tay chỉ.
    Dưới ánh nến, họ nhìn thấy một bức tranh graffiti đã mờ, nội dung là bảy chữ cái viết hoa nguệch ngoạc chạy suốt bức tường hậu:
    VITRIOL
    - Từ ngữ gì mà vớ vẩn thế, - Sato lên tiếng trong khi ánh nến chiếu rõ một cái bóng đáng sợ hình đầu lâu vắt ngang dãy chữ cái.
    - Nói cho đúng thì đó là một cụm từ viết tắt. - Langdon nói - Nó được viết trên tường hậu của hầu hết những gian buồng kiểu này, một dạng tốc ký của câu thần chú thiền định của Hội Tam điểm: Visita interiora terrae, rectificando invenies occultum lapidem
    Sato nhìn anh, vẻ rất thán phục.
    - Nghĩa là gì?
    - Hãy ghé thăm lòng đất, và bằng cách chỉnh sửa. anh sẽ tìm thấy hòn đá được cất giấu.
    Ánh mắt Sato sáng ngời.
    - Thế hòn đá được cất giấu có liên hệ gì với một kim tự tháp được giấu kín không nhỉ?
    Langdon nhún vai, không muốn gợi ra sự so sánh.
    - Những kẻ thích thêu dệt về kim tự tháp bí mật ở Washington sẽ bảo bà rằng occultum lapidem là nói đến kim tự tháp đá. Những người khác sẽ bảo nó ám chỉ Hòn đá Triết học - một chất mà các nhà giả kim tin rằng có thể mang lại cho họ cuộc sống vĩnh hằng hoặc biến chì thành vàng. Những người khác nữa thì lại bảo nó nhắc đến Điện Thánh, một gian phòng bằng đá được giấu kín ở trung tâm Đại Đền(55). Một số lại nói nó mang ý nghĩa Thiên Chúa giáo, chỉ những lời dạy được giấu kín của Thánh Peter. Tất cả các truyền thống bí truyền đều diễn giải “hòn đá” theo cách của mình, nhưng occultum lapidem luôn là một nguồn sức mạnh và sự khai sáng.
    Anderson hắng giọng.
    - Có thể Solomon nói dối gã điên kia? Biết đâu ông ấy bảo gã rằng dưới này có gì đó… song thật sự là chẳng có gì.
    Langdon cũng đang có những ý nghĩ tương tự.
    Đột nhiên, ánh nến chao đảo như bị gió tạt. Nó lụi đi trong chốc lát rồi cháy sáng trở lại.
    - Chết rồi. - Anderson nói - Tôi hy vọng không ai đóng lối cửa cầu thang - Anh ta sải bước khỏi gian buồng và tiến ra hành lang tăm tối - Ai đấy?
    Langdon không để ý nhìn anh ta đi ra. Mắt anh đột nhiên bị hút vào bức tường hậu. Cái gì thế nhỉ?
    - Ông trông thấy không? - Sato hỏi, mắt cũng đăm đăm nhìn bức tường.
    Langdon gật đầu, tim đập rộn lên. Mình vừa nhìn thấy cái gì nhỉ?
    Chỉ mới khoảng khắc trước đó, bức tường hậu dường như lung lay, cứ như thể có một làn sóng năng lượng quét qua nó.
    Giờ Anderson lại sải bước vào phòng.
    - Không có ai ngoài kia - Khi anh ta bước vào, bức tường lại lay động - Trời ơi! - anh ta kêu lên và nhảy bật trở lại.
    Cả ba đứng bất động một lúc lâu, trân trối nhìn bức tường hậu. Langdon cảm thấy cơn ớn lạnh chạy suốt toàn thân khi nhận ra những gì vừa nhìn thấy. Anh ngập ngừng vươn tay, cho tới khi đầu ngón tay chạm vào bề mặt bức tướng hậu của gian buồng.
    - Không phải là tường, - anh nói.
    Anderson và Sato bước lại gần hơn, chăm chú nhìn.
    - Nó là một tấm toan, - Langdon nói.
    - Nhưng nó gợn sóng, - Sato nói nhanh.
    Phải, một cách rất kỳ lạ. Langdon kiểm tra lại bề mặt tấm toan.
    Lớp óng ánh trên mặt toan đã khúc xạ lại ánh nến một cách rất lạ bởi vì tấm toan vừa gợn sóng lùi xa khỏi căn phòng… bay về phía sau qua mặt phẳng bức tường hậu.
    Langdon duỗi các ngón tay rất nhẹ nhàng ấn lớp toan về phía sau.
    Giật mình, anh rụt phắt tay lại. Có một chỗ hổng!
    - Kéo sang một bên đi, - Sato ra lệnh.
    Tim Langdon đập loạn lên. Anh vươn tay và nắm lấy mép tấm toan, từ từ kéo lớp vải sang một bên. Anh trân trối nhìn những gì ẩn giấu sau đó, không tin nổi vào mắt mình. Lạy Chúa.
    Sato và Anderson đứng lặng đờ khi nhìn qua chỗ hổng ở bức tường hậu.
    Cuối cùng, Sato lên tiếng.
    - Rõ ràng chúng ta đã tìm thấy kim tự tháp.

    Chú thích:
    (55) Theo quan niệm Do Thái, thế giới của Chúa rất vĩ đại và thiêng liêng. Mảnh đất thiêng liêng nhất trên thế giới là đất Israel. Ở Israel, thành phố thiêng liêng nhất là Jerusalem. Tại đây, nơi thiêng liêng nhất là Đại Đền, và trong Đại Đền, vị trí thiêng liêng nhất là Điện Thánh. Nơi này từng cất giữ hai tấm thẻ ghi lại Mười điều răn. Những tấm thẻ này đã biến mất khi người Babylon phá huỷ Đại Đền. Sau này, Điện Thánh chỉ là một gian phòng nhỏ, không có gì, nơi mỗi năm một lần, Đại Tư tế vào để thay mặt Israel cầu khấn Chúa Trời - ND.
    hết Chương 38

  8. #38
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 39


    Robert Langdon đăm đăm nhìn chỗ hổng ở bức tường hậu gian buồng. Ẩn sau tấm toan là một lỗ hổng vuông vức được trổ lõm vào tường. Chỗ hổng đó, mỗi chiều khoảng gần 1 mét, có vẻ như được tạo ra bằng cách gỡ bỏ một vài hàng gạch. Trong bóng tối. Langdon thoáng nghĩ cái lỗ đó là ô cửa sổ mở sang một gian buồng khác.
    Còn giờ thì anh thấy không phải như vậy.
    Chỗ hổng chỉ ăn sâu vào tường tầm 1 mét thì hết. Nhìn cái hốc khoét vội vàng. Langdon nhớ tới hốc tường được thiết kế để đặt một pho tượng trong viện bảo tàng, và ô tường này cũng bày một vật nhỏ nhắn vừa in.
    Vật ấy cao khoảng 23 centimet, đẽo từ đá hoa cương đặc. Bề mặt nó láng bóng với bốn mặt được mài nhẵn, sáng rõ trong ánh nến.
    Langdon không hiểu nổi nó có tác dụng gì ở đây. Một kim tự tháp bằng đá?
    - Trông vẻ ngạc nhiên của ông, tôi đoán thứ này không hề phổ biến trong một Gian buồng Suy niệm - Sato lên tiếng, vẻ rất hả hê.
    Langdon lắc đầu.
    - Có lẽ ông nên xem xét lại những lời kể trước đây về truyền thuyết Kim tự tháp Tam điểm được cất giấu ở Washington chăng? - Giọng bà ta đầy tự mãn.
    - Bà Giám đốc, - Langdon đáp trả tức thì - cái kim tự tháp nhỏ bé này không phải là Kim tự tháp Tam điểm.
    - Nhưng trùng hợp làm sao khi chúng ta tìm thấy một kim tự tháp cất giấu tại trung tâm Điện Capitol, trong một gian phòng bí mật thuộc về một thủ lĩnh Hội Tam điểm?
    Langdon dụi mắt và cố gắng suy nghĩ.
    - Thưa bà, kim tự tháp này không giống truyền thuyết tí nào cả. Kim tự tháp Tam điểm được mô tả là rất lớn, với phần chóp đúc bằng vàng đặc.
    Hơn nữa, Langdon biết rằng cái kim tự tháp nhỏ bé này - với đỉnh bằng phẳng - thậm chí còn không phải là một kim tự tháp đích thực. Không có chóp, nó chỉ là một biểu tượng khác mà thôi. Vẫn được biết đến bằng tên gọi Kim tự tháp Dang dở, nó là một biểu tượng nhắc nhở rằng hành trình tiến tới tiềm năng đầy đủ của con người luôn là một công việc đang phải thực hiện. Mặc dù ít người nhận ra, nhưng biểu tượng này là biểu tượng phổ biến nhất trên Trái đất. Hơn hai mươi tỉ bản in. Xuất hiện trên tất cả các tờ tiền 1 đô la đang lưu hành, Kim tự tháp Dang dở kiên nhẫn chờ đợi cái chóp sáng ngời của nó, nằm lơ lửng phía bên trên như lời nhắc nhở về định mệnh vẫn chưa hoàn thành của nước Mỹ, về công việc còn phải tiến hành, vừa với tư cách một quốc gia vừa với tư cách của những cá nhân.
    - Nhấc nó xuống đi. - Sato bảo Anderson, mắt dán chặt vào cái kim tự tháp - Tôi muốn nhìn kỹ hơn - Bà ta bắt đầu dọn chỗ trên bàn bằng cách thô bạo gạt hết cái sọ và những khúc xương sang một bên.
    Langdon bắt đầu cảm thấy họ như những kẻ cướp lăng mộ, mạo phạm linh đường của một con người.
    Anderson thận trọng bước qua Langdon, chui vào trong hốc tường và bấu chặt hai bàn tay hộ pháp vào hai mặt kim tự tháp. Sau đó, cảm thấy khó nhấc lên được ở góc đứng bất tiện này, anh ta kéo cái kim tự tháp về phía mình và nặng nề hạ nó xuống mặt bàn gỗ, rồi lùi lại để nhường chỗ cho Sato.
    Vị Giám đốc OS nhấc cây nến lại gần kim tự tháp và săm soi bề ngoài nhẵn bóng của nó. Bà ta chậm rãi rê những ngón tay nhỏ thó trên bề mặt, kiểm tra kỹ từng phân phần chóp bằng, và sau đó là các mặt. Bà ta vòng tay xung quanh để sờ phía sau, rồi cau mày vẻ thất vọng thấy rõ.
    - Giáo sư, lúc trước ông nói người ta xây Kim tự tháp Tam điểm để bảo vệ các thông tin bí mật nhỉ!
    - Truyền thuyết nói thế.
    Vậy thì, giả sử kẻ bắt cóc Peter tưởng đây là Kim tự tháp Tam điểm, chắc chắn gã sẽ tin rằng nó chứa đựng những thông tin rất ghê gớm.
    Langdon cau có gật đầu.
    - Phải, cứ cho là hắn tìm thấy thông tin ấy thì nội dung cũng đã được mã hoá, và rất khó giải… trừ phi gặp được người thích hợp nhất.
    - Nghĩa là sao?
    Mặc dù càng lúc càng thấy sốt ruột nhưng Langdon vẫn trả lời bằng giọng từ tốn.
    - Các kho báu trong truyền thuyết luôn được bảo vệ bằng các cuộc kiểm tra mức độ thích hợp. Như các vị còn nhớ, theo truyền thuyết Thanh gươm cắm trong đá, tảng đá không chịu nhả thanh gươm ra cho đến khi gặp Arthur, người được thiên định là sẽ đủ sức điều khiển sức mạnh ghê gớm của nó. Kim tự tháp Tam điểm dựa trên ý tưởng tương tự. Trong trường hợp này, thông tin là kho báu, và người ta nói rằng nó được viết bằng một ngôn ngữ mã hoá, một ngôn ngữ bí ẩn với những từ ngữ thất truyền, chỉ người thích hợp mới đọc được.
    Môi Sato thoáng một nụ cười.
    - Điều đó lý giải vì sao ông bị triệu tới đây tối nay.
    - Xin lỗi tôi không hiểu?
    Rất thản nhiên, Sato xoay tròn cái kim tự tháp tại chỗ, rồi xoay ngược nó lại đúng 180 độ. Mặt thứ tư của kim tự tháp được ánh nến chiếu rõ.
    Robert Langdon tròn mắt nhìn với vẻ kinh ngạc.
    - Xem ra, có kẻ tin rằng ông là người thích hợp - Sato nhận xét.
    hết Chương 39
    Chương 40


    Tại sao Trish đi lâu thế nhỉ?
    Katherine Solomon lại xem đồng hồ lần nữa. Cô đã quên không thông báo với bác sĩ Abaddon về lộ trình đi tới phòng thí nghiệm của mình, nhưng cô không nghĩ rằng quãng đường tối tăm đó lại khiến hai người đi chậm đến vậy. Lẽ ra giờ này họ phải tới đây rồi chứ?
    Katherine bước lại phía cửa chính, ráng sức mở cánh cửa bọc chì và đăm đăm nhìn vào khoảng tối vô định. Cô lắng nghe một lúc, nhưng chẳng thấy gì cả.
    - Trish? - cô gọi, tiếng chìm nghỉm trong bóng tối đặc quánh.
    Im lặng.
    Bối rối, Katherine đóng cửa lại, lấy điện thoại di động và gọi ra sảnh.
    - Tôi Katherine đây. Trish có ở ngoài đó không nhỉ?
    - Không, thưa cô, - người bảo vệ ở sảnh đáp - Cô Dunne và vị khách đã quay vào được mười phút rồi mà.
    - Thế à? Thậm chí họ còn chưa tới Khoang 5 ấy, tôi nghĩ thế.
    - Chờ chút. Tôi sẽ kiểm tra - Katherine nghe rõ tiếng ngón tay của người bảo vệ gõ lách tách trên bàn phím máy tính - Cô nói đúng. Theo dữ liệu thẻ của cô Dunne thì cô ấy vẫn chưa mở cửa Khoang 5. Lần truy cập cuối cùng của cô ấy là khoảng 8 phút trước… ở Khoang 3. Tôi đoán cô ấy muốn dẫn khách của cô tham quan một chút trên đường đi.
    Katherine cau mày. Rõ rồi. Tin báo có phần hơi kỳ cục nhưng ít nhất cô biết Trish không mấy khi ở lâu trong Khoang 3. Mùi ở đó rất kinh khủng.
    - Cảm ơn anh. Anh trai tôi đến chưa nhỉ?
    - Chưa, thưa cô, chưa thấy ạ.
    - Cảm ơn anh.
    Katherine tắt máy, và bỗng thấy lòng trào lên một nỗi lo lắng. Cảm giác khó chịu ấy khiến cô chững lại, nhưng chỉ trong chốc lát. Nó chính là tâm trạng bất an xâm chiếm tâm khảm cô lúc bước vào nhà bác sĩ Abaddon. Trực giác phụ nữ của cô đã không có tác dụng ở nơi đó Thật tệ.
    Chẳng có gì đâu, Katherine tự nhủ.
    hết Chương 40
    Chương 41


    Robert Langdon chăm chú nhìn cái kim tự tháp bằng đá. Không thể nào tin nổi.

    - Một ngôn ngữ cổ đã được mã hoá, - Sato nói mà không hề nhìn lên - Hãy cho tôi biết, điều này có ý nghĩa gì không?

    Trên bề mặt mới lộ ra của kim tự tháp, một loạt 16 ký tự được khắc rất ngay ngắn trên lớp đá nhẵn thín.
    Ch41.jpg


    Ở bên cạnh, Anderson đứng há hốc miệng, như phản ánh lại chính sự bất ngờ của Langdon. Trông bộ dạng viên Chỉ huy an ninh, dễ tưởng anh ta vừa nhìn thấy một loại bàn phím máy tính rất lạ lẫm.

    - Giáo sư? - Sato lên tiếng - Tôi nghĩ là ông đọc được những chữ này?

    Langdon ngó lại.

    - Tại sao bà lại nghĩ thế?

    - Bởi vì ông được mang tới đây, Giáo sư ạ. Ông được lựa chọn. Những chữ khắc này có vẻ là một dạng mật mã nào đó, và căn cứ vào tiếng tăm của ông, tôi thấy rõ ràng là người ta đưa ông tới để giải mã nó.

    Langdon phải thừa nhận rằng sau những trải nghiệm ở Rome và Paris, anh liên tục nhận được đề nghị nhờ hoá giải các mật mã vẫn trong vòng tranh cãi, từ Đĩa Phaistos(56), Mật mã Dorabella(57), tới di cảo Voynich bí hiểm(58).

    Sato rờ tay trên những dòng khắc.

    - Ông cho tôi biết ý nghĩa của những tiêu ký này đi!

    Đây không phải là những tiêu ký, Langdon nghĩ. Chúng là các biểu tượng. Anh đã nhận ra ngôn ngữ này, một loại ngôn ngữ mật mã từ thế kỷ XVII, và anh biết rất rõ cách giải mã nó.

    - Thưa bà, kim tự tháp này là tài sản riêng của Peter. - anh ngập ngừng nói.

    - Nếu thực tế đoạn mật mã này chính là lý do đưa ông tới Washington, thì tôi sẽ không cho ông cơ hội bàn đến chuyện của riêng hoặc của chung. Tôi muốn biết nó nói gì.

    Chiếc Blackberry bật kêu to, Sato móc ngay ra khỏi túi, xem tin nhắn vừa gửi tới. Langdon rất ngạc nhiên vì mạng không dây nội bộ của Điện Capitol vẫn có thể hoạt động tít sâu dưới này.

    Sato lầm bầm và nhướng mày, ném về phía Langdon một cái nhìn là lạ.

    - Chỉ huy? - bà ta quay sang Anderson - Trao đổi riêng một chút, được không?

    Giám đốc OS ra hiệu cho viên Chỉ huy an ninh đi theo, và họ biến mất ngoài hành lang tối đen như mực, bỏ Langdon lại một mình trong ánh nến chập chờn của Gian buồng Suy niệm.

    ***

    Chỉ huy Anderson tự hỏi không biết khi nào thì buổi tối hôm nay mới kết thúc. Một bàn tay bị chặt đứt trong Nhà tròn của mình?Một linh đường chết chóc ngay trong tầng hầm của mình? Rồi những hình khắc kỳ quái trên một kim tự tháp đá? Trận đấu của đội Redskins giờ không còn ý nghĩa gì nữa.

    Vừa theo Sato tiến vào bóng tối hành lang. Anderson vừa gõ nhẹ cây đèn pin. Quầng sáng đã yếu hẳn nhưng vẫn còn tốt hơn là chẳng có đèn đóm gì. Sato dẫn anh ta men theo hành lang vài thước, khuất khỏi tầm nhìn của Robert Langdon.

    - Hãy xem cái này, - bà ta thì thào và đưa cho Anderson chiếc Blackberry của mình.

    Anderson cầm lấy và chăm chú nhìn màn hình sáng rực. Nó hiển thị một bức hình đen trắng - hình X quang chiếc túi của Langdon mà Anderson đã yêu cầu gửi tới cho Sato. Ở tất cả các máy chụp X quang, những đồ vật có tỷ trọng lớn nhất sẽ xuất hiện với màu trắng sáng rõ nhất. Trong cái túi của Langdon có một vật nổi bật so với tất cả những thứ khác. Rõ ràng vật này cực kỳ đặc biệt vì nó hiện rõ như một món đồ trang sức sáng chói giữa cả mớ đồ linh tinh. Hình dáng của nó không lầm lẫn vào đâu được.

    Anh ta đeo cái đó suốt buổi tối ư? Anderson nhìn Sato với vẻ ngạc nhiên.

    - Sao cái tay Langdon này không nhắc đến nó nhỉ?

    - Câu hỏi vớ vẩn quá, - Sato thì thào.

    - Hình dạng… không thể là sự trùng hợp được.

    - Không hề, - Sato đáp, giọng bà ta bừng bừng giận dữ - Tôi khẳng định là không.

    Có tiếng lạo xạo mơ hồ trong hành lang khiến Anderson phải chú ý. Giật mình, anh ta quét cây đèn pin dọc theo lối đi tối đen. Luồng ánh sáng yếu ớt soi lên dãy hành lang vắng ngắt, các cánh cửa hai bên mở toang.

    - Ai đó? - Anderson nói - Ai ở đó không?

    Im lặng.

    Sato ném cho viên Chỉ huy một cái nhìn kỳ quái, tỏ rõ rằng bà ta chẳng hề nghe thấy gì.

    Anderson nghe ngóng một lúc nữa rồi mới bỏ cuộc. Mình phải chuồn khỏi đây thôi.

    ***

    Còn lại một mình trong gian phòng thắp nến, Langdon dùng ngón tay rờ các viền sắc cạnh của dòng chữ trên kim tự tháp. Anh rất muốn biết bức thông điệp này nói gì, nhưng anh sẽ không xâm phạm bí mật riêng tư của Peter Solomon thêm nữa. Mà tại sao gã điên kia lại quan tâm đến cái kim tự tháp nhỏ này chứ?

    - Chúng ta có một vấn đề, thưa Giáo sư, - giọng Sato vang lên rõ to ngay phía sau anh - Tôi vừa nhận được một thông tin mới, và tôi có đủ bằng chứng về những lời khai dối trá của ông.

    Langdon xoay người lại. Vị Giám đốc OS đang bước vào với chiếc Blackberry trên tay, đôi mắt như bốc lửa. Langdon giật lui, liếc nhìn Anderson như cầu xin giúp đỡ, nhưng viên Chỉ huy lúc này đang đứng chắn ở cửa, vẻ mặt không hề có chút cảm thông.

    Sato bước tới trước mặt Langdon và gí chiếc Blackberry của mình vào sát mặt anh.

    Langdon kinh ngạc nhìn bức ảnh đen trắng như một âm bản phim trên màn hình. Bức hình hiển thị đủ thứ linh tinh, và một trong số đó rất sáng. Mặc dù không chính diện, nhưng vẫn có thể nhận ra đấy là một cái kim tự tháp nhỏ, đầu nhọn.

    Một cái kim tự tháp bé xíu? Langdon nhìn Sato.

    - Cái gì thế?

    Câu hỏi dường như khiến Sato điên tiết.

    - Ông giả vờ giả vịt đấy hả?

    Cơn giận của Langdon bùng phát.

    - Tôi chẳng vờ vịt gì hết! Tôi chưa bao giờ nhìn thấy thứ này!

    - Vớ vẩn! - Sato cáu kỉnh, giọng bà ta xuyên qua màn không khí ẩm ướt - Suốt cả tối. Ông đã mang theo nó trong cái túi kia!

    - Tôi… - Langdon chững lại nửa chừng. Mắt anh từ từ dịch chuyển xuống chiếc túi trên vai mình. Sau đó, anh lại ngước lên nhìn màn hình Blackberry. Lạy Chúa… cái gói. Anh ghé sát vào bức hình. Giờ anh đã nhận ra. Một cái hộp vuông có chứa kim tự tháp. Thì ra đây là bức hình chụp X quang túi vải của anh… và cả gói nhỏ hình hộp bí ẩn của Solomon. Khối hộp rỗng lòng… chứa một ngọn kim tự tháp.

    Langdon toan phân trần, nhưng mọi ngôn từ bỗng bay biến đâu hết. Nhận thức giáng cho anh một đòn chí mạng, buồng phổi như không còn chút không khí nào nữa.

    Đơn giản. Rõ ràng. Tàn phá.

    Lạy Chúa. Anh nhìn lại cái kim tự tháp đá cụt ngọn nằm trên bàn. Đỉnh nó phẳng lì - một mặt cắt vuông vức nho nhỏ - một không gian bỏ trống đang chờ đợi cấu phần cuối cùng của mình… Cấu phần sẽ biến cải nó từ một Kim tự tháp Dang dở thành một Kim tự tháp Đích thực.

    Giờ Langdon đã vỡ lẽ, cái kim tự tháp nhỏ xíu mà anh mang theo người không phải là một kim tự tháp hoàn chỉnh. Nó là phần chóp.

    Trong khoảnh khắc đó, anh hiểu rõ tại sao chỉ mình anh mới đủ khả năng mở khoá những bí ẩn của kim tự tháp này.

    Chính mình giữ phần chóp.

    Và trên thực tế đó là một… lá bùa.

    Khi Peter bảo Langdon rằng cái gói có chứa một lá bùa (talisman), Langdon đã không nhịn được cười. Giờ đây anh hiểu bạn mình nói đúng. Cái đỉnh kim tự tháp bé xíu này là một lá bùa, chứ không phải phép màu. Rất lâu trước khi từ bùa chú mang ý nghĩa phép thuật, nó đã có một nghĩa khác - “hoàn chỉnh”, Bắt nguồn từ telesma trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là “hoàn chỉnh”, một lá bùa là bất cứ thứ gì hoặc ý tưởng gì hoàn tất thứ khác và làm cho thứ ấy trở thành chỉnh thể.

    Nó là nhân tố hoàn thiện. Một cái chóp, nói một cách hình tượng, là lá bùa cuối cùng, biến Kim tự tháp Dang dở thành một biểu tượng của sự hoàn hảo trọn vẹn.

    Lúc này, Langdon cảm thấy một sự pha trộn kỳ quái buộc anh phải chấp nhận một sự thật rất lạ: nếu không xét đến kích cỡ, thì kim tự tháp đá trong Gian buồng Suy niệm của Peter dường như đang dần biến đổi thành một thứ giống với Kim tự tháp Tam điểm trong huyền thoại.

    Căn cứ vào độ sáng mà cái chóp thể hiện trên máy X quang, Langdon tin rằng nó được làm bằng kim loại… một thứ kim loại rất đặc. Liệu nó có phải là vàng khối hay không thì anh chưa biết và cũng không định để tâm trí đánh lừa chính mình. Cái kim tự tháp này quá nhỏ. Mật mã quá dễ đọc, và… nó là một huyền tích, lạy Chúa!

    Sato vẫn quan sát anh.

    - Là người hiểu biết mà Giáo sư lại xử sự rất dở tối nay. Định nói dối một Giám đốc tình báo ư? Hay cố tình cản trở cuộc điều tra của CIA?

    - Tôi có thể giải thích, nếu bà cho phép.

    - Ông sẽ phải giải thích tại trụ sở CIA. Còn lúc này, tôi bắt giữ ông.

    Người Langdon cứng đờ.

    - Bà không thể làm như vậy được.

    - Hoàn toàn được. Tôi đã nhấn mạnh rằng ván bài tối nay rất lớn, và ông đã chọn nước bài không chịu hợp tác. Tôi khuyên ông nên nghĩ đến việc giải thích dòng chữ khắc trên kim tự tháp này, bởi vì khi chúng ta đến CIA… - Bà ta giơ chiếc Blackberry lên và chụp cận cảnh nội dung chữ khắc trên cái kim tự tháp đá - Các chuyên gia phân tích của tôi sẽ tiến hành trước đấy.

    Langdon toan mở miệng phản đối, nhưng Sato đã ngó ra cửa, bảo Anderson.

    - Chỉ huy, - bà ta ra lệnh - hãy cho cái kim tự tháp đá vào túi ông Langdon và xách lấy. Tôi sẽ bắt giữ ông Langdon. Vũ khí của anh đâu?

    Anderson tiến vào phòng với bộ mặt lạnh lùng, rút khẩu súng của mình đưa cho Sato. Bà ta lập tức chĩa súng vào Robert Langdon.

    Langdon tưởng đâu tất cả như không thật. Sao lại thế này chứ?

    Bấy giờ Anderson tiến tới chỗ Langdon, nhấc cái túi khỏi vai anh, mang nó tới bên bàn và đặt lên ghế. Anh ta mở khoá, vạch miệng túi ra và nhét cái kim tự tháp đá nặng trịch trên bàn vào túi, cùng với sổ sách của Langdon và cái gói nhỏ.

    Đột nhiên, có tiếng động ngoài hành lang. Bóng một người hiện ra ở ô cửa, lao bổ vào phòng và xẹt đến phía sau Anderson. Viên Chỉ huy chưa kịp phát giác thì đã bị người đó rùn vai huých mạnh vào lưng. Anderson chúi về phía trước, đầu va mạnh vào mép hốc tường.

    Anh ta ngã sụp xuống bàn, làm cho mấy khúc xương cùng các đồ vật bắn tung lên. Chiếc đồng hồ cát vỡ tan dưới sàn. Cây nến đổ nghiêng trên nền nhà nhưng vẫn cháy.

    Sửng sốt trước cảnh rối loạn này, Sato giơ ngay súng lên, nhưng người vừa đến đã chụp lấy một đoạn xương đùi và quật mạnh vào vai bà ta. Sato rú lên đau đớn và bật ngửa, đánh rơi cả vũ khí. Người kia đá văng khẩu súng đi rồi quay về phía Langdon. Đó là một người da đen cao dong dỏng, ăn vận rất lịch sự mà Langdon chưa gặp mặt bao giờ.

    - Chụp lấy cái kim tự tháp! - người đàn ông ra lệnh - Theo tôi!

    Chú thích:

    (56) Đĩa Phaistos là một chiếc đĩa bằng đất sét nung lấy từ cung điện Phaistos từ thời Minoa, có lẽ từ giai đoạn giữa hoặc cuối Thời kỳ đồ đồng (thế kỷ II trước Công nguyên). Nó có đường kính khoảng 15 cm và cả hai mặt đều phủ kín một vòng xoáy ốc gồm các biểu tượng được đóng dầu. Mục đích và ý nghĩa của nó, cũng như nơi sản xuất ra nó vẫn là một điều gây tranh cãi, làm cho nó trở thành một trong những bí ẩn nổi tiếng nhất của ngành khảo cổ. Hiện vật độc đáo này hiện được trưng bày tại bảo tàng khảo cổ Heraklion ở Crete, Hy Lạp. Đĩa do nhà khảo cổ người Italia là Luigi Pernier tìm ra năm 1908. Đặc điểm của nó là 241 dấu hiệu, hình thành lên 45 dấu hiệu độc đáo, rõ ràng được tạo thành bằng cách đóng những “con dấu” tượng hình đã tạo sẵn vào một chiếc đĩa đất sét còn mềm, xoáy trôn ốc thuận chiều kim đồng hồ về phía tâm đĩa - ND.

    (57) Mật mã Dorabella là một bức thư mã hoá do Tòng Nam tước Edward Elgar, nhà soạn nhạc người Anh, viết cho cô Dora Penny. Cho đến giờ ý nghĩa của bức thư vẫn là điều bí mật. Bức mật mã này gồm 87 ký tự chia làm 3 dòng, có vẻ như được tạo thành từ một bảng chữ cái gồm 24 biểu tượng, mỗi biểu tượng gồm 1, 2, hoặc 3 hình bán khuyên, xoay theo một trong 8 hướng - ND.

    (58) Di cảo Voynich là một cuốn sách có minh hoạ bí ẩn vẫn chưa được giải mã. Người ta nghĩ rằng nó được viết trong khoảng thế kỷ XV-XVI. Vẫn chưa rõ về tác giả, kiểu chữ viết và ngôn ngữ trong di cảo. Cuốn sách được đặt theo tên thương nhân bán sách người Mỹ gốc Ba Lan là Wilfrid M. Voynich, người có được nó vào năm 1912. Hiện di cảo được lưu giữ tại Thư viện Di cảo và Sách hiếm Beinecke thuộc Đại học Yale với số hiệu “MS 408”. Người ta ước đoán sách gốc có 272 trang chia thành 17 tay sách, mỗi tay sách 16 trang. Hiện nay chỉ còn 240 trang bằng giấy da cừu, có một vài trang đã bị thất lạc khi Voynich có được cuốn sách - ND.
    hết Chương 41

  9. #39
    Ninja


    Thành Viên Thứ: 71816
    Giới tính
    Nam
    Đến Từ: An Giang
    Tổng số bài viết: 113
    Thanks
    175
    Thanked 120 Times in 24 Posts
    Chương 42


    Người đàn ông da đen đang dẫn Langdon qua mê cung ngầm của Điện Capitol rõ ràng là một nhân vật quyền thế. Ngoài việc thông thuộc đường đi lối lại giữa những hành lang và phòng ốc, ông ta còn mang theo một chiếc chìa khoá dường như mở được tất cả mọi cánh cửa trên đường họ đi.

    Langdon theo sau, mau chóng chạy lên một cầu thang lạ hoắc. Quai da của chiếc túi đang đeo thít chặt vào vai anh theo mỗi bước đi Kim tự tháp đá nặng đến nỗi Langdon chỉ sợ nó sẽ làm quai túi đứt tung.

    Những phút vừa qua thật phi lý, và giờ Langdon thấy hành động của mình hoàn toàn thuần bản năng. Lòng anh mách bảo rằng hãy tin tưởng người lạ này. Không chỉ cứu Langdon khỏi bị bắt giữ, ông ta còn mạo hiểm bảo vệ kim tự tháp bí ẩn của Peter Solomon cho dù cái kim tự tháp có là gì đi nữa. Tuy chưa rõ động cơ của người lạ, nhưng Langdon đã kịp nhận ra chiếc nhẫn vàng lấp lánh trên tay ông ta, một chiếc nhẫn của Hội Tam điểm với con phượng hoàng hai đầu cùng chữ số 33. Người đàn ông này và Peter Solomon không chỉ là những người bạn đáng tin cậy của nhau mà còn là huynh đệ Tam điểm ở cấp độ cao nhất.

    Langdon theo người nọ lên đến đỉnh cầu thang, bước vào hành lang khác, băng qua một cánh cửa không có biển đề để tới lối đi dành cho nhân viên phục vụ. Họ chạy qua hàng dãy hộp nhu yếu phẩm và những túi rác, thình lình rẽ sang một cánh cửa dẫn tới một rạp chiếu phim sang trọng. Người dẫn đường đi theo lối ngách, qua những ô cửa chính để tới một tiền sảnh rất lớn. Giờ thì Langdon nhận ra họ đang ở trung tâm khách tham quan mà anh đã đi qua hồi tối.

    Thật không may, ở đó có một nhân viên an ninh Điện Capitol.

    Khi hai bên chạm mặt cả ba người đều dừng lại, đăm đăm nhìn nhau. Langdon nhận ra anh chàng gốc Tây Ban Nha này chính là người có mặt bên máy chiếu X quang.
    - Nhân viên Nunez - người Mỹ da đen lên tiếng - Đừng nói gì. Hãy theo tôi.
    Anh chàng cảnh vệ có vẻ băn khoăn nhưng vẫn làm theo mà không hỏi gì.
    Người này là ai nhỉ?

    Cả ba vội vã đi về góc đông nam của trung tâm du khách, tới một phòng giải lao nhỏ và một dãy cửa nặng nề với nhiều cột màu cam. Các cửa này đều được dán băng dính, rõ ràng để khỏi dính bụi từ khu vực tham quan bên ngoài. Người đàn ông bước tới và gỡ băng dính trên một cánh cửa. Sau đó, ông lục tìm chùm chìa khoá và nói với anh chàng nhân viên an ninh.
    - Chỉ huy Anderson của chúng ta đang ở tầng đáy. Có lẽ anh ấy bị thương. Anh nên xuống xem tình hình thế nào.
    - Vâng, thưa ngài - Trông Nunez thiểu não y như vấp phải tình huống báo động vậy.
    - Điều quan trọng nhất là anh không hề gặp chúng tôi - Người đàn ông lựa ra một chiếc chìa khoá, tháo rời khỏi chùm và dùng nó để mở một cánh cửa đã cũ. Ông kéo cánh cửa thép và ném chiếc chìa cho anh chàng nhân viên - Hãy khoá cánh cửa này lại sau khi chúng tôi qua. Dán băng dính như cũ. Cho chìa khoá vào túi và đừng nói gì với bất kỳ ai. Kể cả Chỉ huy. Rõ chưa, nhân viên Nunez?
    Anh chàng kia nhìn chiếc chìa khoá như thể vừa được tin tưởng giao phó một viên đá quý.
    - Rõ, thưa ngài.
    Người đàn ông bước vội qua cửa, Langdon đi theo. Anh nhân viên an ninh khoá cánh cửa nặng nề, Langdon còn nghe rõ tiếng anh ta dán lại băng dính.
    - Giáo sư Langdon, - người đàn ông lên tiếng, đồng thời sải bước theo một hành lang khá hiện đại đang xây dở - Tên tôi là Warren Bellamy, bạn chí thân của Peter Solomon.
    Langdon giật mình nhìn người đàn ông lịch lãm. Ông ta là Warren Bellamy ư? Tuy chưa từng gặp mặt, nhưng anh đã nghe nhắc nhiều đến tên tuổi vị kiến trúc sư Điện Capitol này.
    - Peter đánh giá anh rất cao - Bellamy nói - và tôi thật tiếc vì chúng ta gặp nhau trong hoàn cảnh không vui vẻ gì.
    - Peter đang gặp rắc rối. Tay ông ấy…
    - Tôi biết - Giọng Bellamy đanh lại - Tôi sợ rằng thế chưa phải đã hết đâu.
    Họ đến cuối hành lang khá sáng sủa, và lối đi đột ngột ngoặt sang trái, phía ấy tối như mực.
    - Đi nào, - Bellamy nói và biến mất trong một phòng điều khiển điện gần đó, có cả mớ dây nhợ màu cam bò ra từ phòng này rồi chạy vào bóng tối hun hút của hành lang. Langdon chờ đợi, còn Bellamy dò dẫm bên trong. Chắc ông định tìm công tắc điện, bởi cả đãy hành lang trước mặt họ đột nhiên sáng trưng.
    Langdon đứng đờ ra nhìn.
    Washington D.C. - cũng như Rome - là một thành phố có nhiều lối đi bí mật và nhiều đường hầm dưới lòng đất. Lúc này, lối đi trước mặt khiến Langdon nhớ tới đường hầm Passetto(59) nối Vatican với Lâu đài Sant’Angelo(60). Rất dài. Tối tăm. Chật hẹp. Tuy nhiên, khác với Passetto cổ kính, lối đi này còn mới và vẫn chưa hoàn thiện. Đây là một khu vực xây dựng dài đến mức dường như không có điểm cuối. Thứ ánh sáng duy nhất là một dãy bóng đèn bố trí cách quãng càng làm nổi bật chiều sâu hun hút của đường hầm.
    Bellamy đã tiến vào hành lang.
    - Theo tôi. Cẩn thận khi bước đấy.
    Langdon theo sát dấu chân Bellamy, lòng băn khoăn không rõ đường hầm này dẫn tới đâu.
    ***
    Cùng lúc đó, Mal’akh bước ra khỏi Khoang 3 và rảo chân theo hành lang chính vắng hoe của SMSC để tiến về phía Khoang 5. Gã nắm chặt tấm thẻ của Trish trong tay và khẽ lẩm bẩm.
    - Không-tám-không-bốn.

    Trong đầu gã còn lởn vởn ý nghĩ gì đó. Mal’akh vừa nhận được một tin nhắn khẩn từ Điện Capitol. Tay trong của ta vướng phải những trở ngại ngoài dự đoán. Thế nhưng vẫn có những tin khá thú vị: Rober Langdon đã nắm giữ cả kim tự tháp và cái chóp. Cho dù mọi việc diễn ra ngoài dự liệu thì các đồ vật quan trọng đều đã tụ về một chỗ. Số phận đang an bài mọi sự kiện tối nay, bảo đảm cho thắng lợi của Mal’akh.

    Chú thích:
    (59) Đường hầm Passetto di Borgo, gọi tắt là Passetto, là một lối đi trên cao nối giữa Vatican và Lâu đài Sant’Angelo. Đây là một hành lang dài gần 800 m, được Giáo hoàng Nicholas III cho xây năm 1277. Trong một số trường hợp, nó được dùng làm lối thoát hiểm cho Giáo hoàng - ND.
    (60) Bảo tàng Hadrian, thường được đến với tên gọi Lâu đài Sant’Angelo, là một toà nhà hình tròn cao vút ở Rome, nguyên thuỷ được Hoàng đế La Mã Hardian xây dựng làm bảo tàng cho mình và gia đình. Sau này, công trình được sử dụng như một pháo đài, thậm chí là nơi giam cầm, còn nay là một bảo tàng. Lâu đài Sant’Angelo xuất hiện trong tiểu thuyết Thiên thần và ác quỷ của Dan Brown với tư cách là hang ổ bí mật của Hội Hassassin Và là thánh đường cuối cùng còn tồn tại của tổ chức Illuminati - ND.
    hết: Chương 42
    Chương 43


    Langdon vội vã bước cho kịp Warren Bellamy, cả hai cùng im lặng di chuyển dọc đường hầm dài dằng dặc. Cho đến giờ, Kiến trúc sư Điện Capitol quan tâm đến việc mang kim tự tháp đi thật xa khỏi chỗ Sato hơn là giải thích cho Langdon về những điều đang xảy ra.

    Langdon càng lúc càng hiểu rằng sẽ có nhiều biến cố vượt quá mọi hình dung của anh.

    Nào là CIA? Rồi Kiến trúc sư Điện Capitol? Hai hội viên Tam điểm ở cấp 33?
    Điện thoại di động của Langdon chợt ré lên. Anh móc nó ra khỏi túi áo khoác và ngập ngừng nghe máy.
    - A lô?
    Đầu bên kia là tiếng thì thào kỷ quái quen thuộc.
    - Giáo sư, tôi nghe nói ông có một người bạn đồng hành bất ngờ.
    Langdon bỗng ớn lạnh.
    - Peter đâu rồi?! - anh hỏi, giọng vang vọng trong đường hầm kín bưng. Warren Bellamy lo lắng liếc sang và ra hiệu cho Langdon tiếp tục đi - Đừng lo, - gã kia đáp - Tôi đã nói với ông rồi. Peter ở một chỗ rất an toàn.
    - Mày đã chặt đứt tay ông ấy, lạy Chúa? Ông ấy cần bác sĩ!
    - Ông ấy cần giáo sĩ. - gã kia đáp - Nhưng ông có thể cứu Peter. Nếu ông làm theo lời tôi, Peter sẽ sống. Tôi thề đấy.
    - Lời thề của một thằng điên chẳng nghĩa lý gì với tao hết.
    - Điên ư? Giáo sư. Ông hãy ngẫm lại sự trân trọng tôi dành cho những nghi thức cổ xưa tối nay xem. Mật Thủ đã dẫn ông tới một cánh cổng, chính là cái kim tự tháp có thể hé mở những tri thức cổ xưa. Tôi biết là giờ ông đã có nó.
    - Mày tưởng đây là Kim tự tháp Tam điểm ư? - Langdon hỏi lại - Nó chỉ là một cục đá thôi.
    Đầu bên kia im lặng.
    - Langdon, ông đừng giả ngốc nữa. Ông hiểu rất rõ những gì vừa khám phá tối nay. Một nhân vật Tam điểm rất quyền thế… giấu một kim tự tháp bằng đá… ở trung tâm Washington D.C.…?
    - Mày đang theo đuổi một câu chuyên hão huyền? Cho dù Peter đã nói gì với mày thì đó cũng là vì ông ấy buộc phải nói. Truyền thuyết Kim tự tháp Tam điểm chỉ là hư cấu. Hội Tam điểm chưa bao giờ xây dựng bất kỳ kim tự tháp nào để bảo vệ tri thức bí truyền cả, và cho dù họ có xây đi chăng nữa thì cái kim tự tháp này cũng quá nhỏ, không thể là cái mà mày nghĩ đâu.
    Gã đàn ông cười khùng khục.
    - Tôi thấy là Peter tiết lộ rất ít với ông. Tuy nhiên, cho dù ông có chịu chấp nhận rằng mình đang giữ Kim tự tháp Tam điểm hay không, thì ông cũng phải làm theo những điều tôi yêu cầu. Tôi biết rất rõ rằng cái kim tự tháp ông mang theo bên người có một dòng chữ khắc ông sẽ giải mã dòng chữ ấy hộ tôi. Sau đó, nhớ là chỉ sau đó nhé, tôi sẽ trả Peter Solomon về cho ông.
    - Dù dòng chữ khắc tiết lộ điều gì đi nữa thì nhất định nó cũng không phải là những Bí mật cổ xưa - Langdon nói.
    - Dĩ nhiên là không phải rồi, - gã kia đáp - Những bí mật đó quá đồ sộ nên không thể viết lên bề mặt một cái kim tự tháp đá nhỏ xíu được.
    Câu trả lời khiến Langdon phải chú ý.
    - Nhưng nếu dòng chữ khắc không phải là Bí mật cổ xưa thì cái kim tự tháp này cũng không phải là Kim tự tháp Tam điểm. Truyền thuyết nói rất rõ Kim tự tháp Tam điểm được xây dựng để bảo vệ những Bí mật cổ xưa mà.
    Giọng gã kia chợt nhũn nhặn hẳn.
    - Thưa ông Langdon, Kim tự tháp Tam điểm được xây dựng để gìn giữ những Bí mật cổ xưa, nhưng với một dụng ý mà rõ ràng là ông vẫn chưa nắm được. Chẳng lẽ Peter lại chưa kể với ông ư? Sức mạnh của Kim tự tháp Tam điểm không phải ở chỗ nó tiết lộ các bí mật… mà là cho biết vị trí chôn giấu các bí mật ấy.
    Langdon hết sức hoang mang.
    - Hãy giải mã dòng chữ khắc đi - gã kia tiếp tục - và nó sẽ cho ông biết nơi cất giấu kho tàng vĩ đại nhất của nhân loại - Gã cười - Lão Peter không tin tưởng giao cho ông kho báu rồi, thưa Giáo sư!
    Langdon đứng sững lại trong hầm.
    - Này. Y anh nói, kim tự tháp này là một… bản đồ ư?
    Bellamy cũng dừng bước, vẻ mặt bất ngờ và cảnh giác. Rõ ràng, kẻ gọi tới vừa tạo một ấn tượng mạnh. Kim tự tháp là một tấm bản đồ.
    - Tấm bản đồ này, - gã kia thì thào - hay kim tự tháp, cánh cổng, hoặc bất kỳ tên gọi nào ông thích… được tạo ra từ rất lâu về trước để bảo đảm rằng vị trí cất giấu những Bí mật cổ xưa sẽ không bị quên lãng… và nó sẽ không bao giờ chìm nghỉm trong lịch sử.
    - Một chuỗi 16 biểu tượng trông chẳng giống một bản đồ tí nào.
    - Vẻ ngoài dễ gây nhầm lẫn đấy, thưa Giáo sư. Nhưng chỉ mình ông mới có đủ quyền năng để đọc những dòng chữ khắc đó.
    - Anh nhầm to rồi, - Langdon vặc lại, cố hình dung ra dòng mật mã giản dị kia - Bất kỳ ai cũng có thể giải mã dòng chữ khắc này. Nó chẳng có gì phức tạp cả.
    - Tôi cho rằng kim tự tháp còn nhiều ý nghĩa khác ẩn sâu. Nhưng dù sao thì cũng chỉ mình ông mới có phần chóp.
    Langdon nhớ lại cái chóp nhỏ nằm trong túi mình. Trật tự từ trong hỗn loạn? Anh không biết tin vào điều gì nữa, cứ mỗi thời khắc qua đi cái kim tự tháp đá trong túi anh dường như nặng thêm.
    Mal’akh áp chặt di động vào tai, khoái trá nghe tiếng thở đầy nôn nóng của Langdon ở đầu bên kia.
    - Bây giờ tôi có việc phải làm, thưa Giáo sư, và ông cũng vậy. Hãy gọi cho tôi ngay khi ông giải mã được tấm bản đồ. Chúng ta sẽ cùng tới chỗ cất giấu và làm công việc của chúng ta. Mạng sống của Peter… đổi lấy toàn bộ tri thức của mọi thời đại.
    - Tôi sẽ là làm gì hết, - Langdon tuyên bố - Đặc biệt là nếu không có bằng chứng rằng Peter vẫn còn sống.
    - Tôi khuyên ông đừng thử thách tôi. Ông là một bánh răng rất quan trọng trong một cỗ máy đồ sộ. Nếu ông không nghe tôi, hay cố gắng truy tìm tôi, thì Peter sẽ chết. Tôi thề đấy.
    - Theo tất cả những gì tôi biết thì Peter đã chết rồi.
    - Peter vẫn còn sống, thưa Giáo sư, nhưng ông ấy rất cần sự giúp đỡ của ông đấy.
    - Thực sự thì mày đang mong muốn điều gì? - Langdon quát vào điện thoại.
    Mal’akh im lặng chốc lát rồi đáp.
    - Rất nhiều người truy tìm các Bí mật cổ xưa và tranh giành sức mạnh của những bí mật ấy. Tối nay, tôi sẽ chứng minh những bí mật ấy là có thật.
    Langdon im lặng.
    - Tôi khuyên ông hãy xử lý cái bản đồ ngay đi, - Mal’akh nói - Tôi cần thông tin này trong ngày hôm nay.
    - Hôm nay ư? Đã hơn 9 giờ tối rồi.
    - Chính xác. Thời gian không còn nhiều đâu.
    hết: Chương 43
    Chương 44


    Jonas Faukman, biên tập viên Thời báo New York, vừa tắt đèn trong văn phòng của mình ở Manhattan thì điện thoại đổ chuông.

    Anh không hề có ý định nghe máy giờ này - nhất định thế, cho tới khi nhìn thấy danh tính người gọi. Hay ho đây, anh nghĩ bụng và với tay nhấc ống nghe.
    - Cậu sẽ xuất bản chứ - Faukman hỏi, vẻ nghiêm túc.
    - Jonas! - Giọng Robert Langdon đầy lo lắng - ơn Chúa là cậu vẫn còn đó. Tớ cần cậu giúp đỡ.
    Tinh thần Faukman phấn chấn hẳn.
    - Cậu đã xong bản thảo cho tớ biên tập rồi phải không Robert? Xong rồi hả?
    - Không, tớ cần thông tin. Năm ngoái, tớ có giới thiệu cậu với một nhà khoa học tên là Katherine Solomon, em gái Peter Solomon ấy?
    Faukman cau mày. Không có bản thảo.
    - Cô ấy tìm một nhà xuất bản để ra cuốn sách về Lý trí học? Cậu còn nhớ cô ấy không?
    Faukman đảo mắt.
    - Rồi. Tớ nhớ, và vô cùng biết ơn vì vụ giới thiệu đó. Cô ấy không những từ chối cho tớ xem kết quả các nghiên cứu của mình mà còn không muốn xuất bản bất kỳ thứ gì cho tới một ngày quái nào đó trong tương lai cơ.
    - Jonas, nghe tớ này, tớ không có thời gian đâu. Tớ cần số điện thoại của Katherine. Ngay bây giờ. Cậu có không?
    - Tớ phải cảnh báo cậu rằng… cậu đang làm một việc vô vọng đấy Cô ấy trông rất tuyệt, nhưng cậu không gây ấn tượng cho cô ấy bằng…
    - Đừng đùa, Jonas, tớ cần số điện thoại của cô ấy ngay.
    - Được rồi… chờ nhé - Faukman là bạn thân của Langdon đã nhiều năm, đủ để biết khi nào thì Langdon nghiêm túc. Anh gõ tên Katherine Solomon vào cửa sổ tìm kiếm và bắt đầu rà máy chủ e-mail của công ty.
    - Tớ đang tìm đây, - Faukman nói - Nhưng để làm gì chứ, khi gọi cho cô ấy, có thể cậu sẽ không muốn gọi từ bể bơi Harvard đâu. Như thế thì chẳng khác gì cậu đang ở trong trại tâm thần.
    - Tớ không ở bể bơi. Tớ đang ở trong một đường hầm bên dưới Điện Capitol.
    Nghe giọng Langdon. Faukman cảm nhận được rằng bạn mình không hề đùa cợt. Có chuyện gì với thằng cha này vậy nhỉ?
    - Robert, sao cậu không ở nhà và viết sách nhỉ? - Máy tính của Faukman dừng lại - Được, nào… tớ có đây rồi - Anh lật qua danh sách e-mail dài dằng dặc - Hình như tớ còn số di động của cô ấy.
    - Tớ sẽ ghi lại ngay.
    Faukman đọc số điện thoại cho Langdon.
    - Cảm ơn nhé, Jonas, - Langdon nói, giọng cảm kích - Tớ nợ cậu lần này.
    - Cậu nợ tớ một bản thảo, Robert. Cậu định bao lâu nữa…
    Máy ngắt.

    Faukman đăm đăm nhìn ống nghe và lắc đầu. Xuất bản sách sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu không có các ông bà tác giả.

    hết: Chương 44
    Chương 45


    Katherine Solomon ngạc nhiên khi nhìn thấy tên người gọi. Cô cứ nghĩ cuộc gọi tới là của Trish để giải thích lý do tại sao hai người họ lại đi lâu đến vậy. Nhưng người gọi không phải là Trish.

    Hoàn toàn không phải.

    Một nụ cười bẽn lẽn thoáng hiện trên môi Katherine. Liệu tối nay còn chuyện gì lạ lùng hơn nữa không?
    Cô mở máy.
    - Đừng nói với tôi là - giọng cô vui vẻ - Một anh chàng độc thân suốt ngày chúi mũi vào sách vở lại tìm kiếm một nhà Lý trí học chưa lập gia đình nhé?
    - Katherine! - giọng Robert Langdon vang lên - ơn Chúa, chị vẫn ổn.
    - Dĩ nhiên là tôi vẫn ổn, - Katherine đáp, vẻ bối rối - Chỉ phiền lòng vì anh chẳng chịu gọi cho tôi từ sau bữa tiệc ở nhà Peter mùa hè năm ngoái.
    - Tối nay có một sự cố. Xin hãy nghe đây - Giọng nói trơn tru ngày thường của Langdon bỗng như vấp váp - Tôi lấy làm tiếc phải nói với chị chuyện này… nhưng anh Peter đang gặp rắc rối lớn.
    Nụ cười của Katherine biến mất.
    - Anh đang nói gì vậy?
    - Anh Peter… - Langdon chần chừ như muốn lựa lời - Tôi không biết phải nói sao, nhưng anh ấy đã bị… bắt cóc. Tôi không rõ như thế nào và do ai, nhưng…
    - Bị bắt cóc ư? - Katherine hỏi lại - Robert, anh doạ tôi đấy à? Bắt đi đâu?
    - Bị bắt làm con tin - Giọng Langdon đầy bối rối - Chắc sự việc xảy ra sớm hôm nay hoặc từ hôm qua.
    - Đừng đùa thế, - Katherine giận dữ - Anh trai tôi vẫn ổn. Tôi vừa nói chuyện với anh ấy mười lăm phút trước?
    - Thật không?! - Giọng Langdon đầy sửng sốt.
    - Thật! Anh ấy gửi tin nhắn cho tôi nói rằng đang trên đường tới phòng thí nghiệm.
    - Anh ấy gửi tin nhắn cho chị… - Langdon kêu to - Nhưng chị không hề nghe thấy tiếng anh ấy phải không?
    - Không, nhưng…
    - Nghe tôi nói này. Tin nhắn chị nhận được không phải của anh trai chị. Có kẻ đã lấy điện thoại của Peter. Hắn rất nguy hiểm. Chính hắn là kẻ đã lừa tôi tới Washington tối nay.
    - Lừa anh ư? Chẳng ra làm sao cả.
    - Tôi biết, tôi xin lỗi - Langdon có vẻ hoang mang khác thường - Katherine, tôi nghĩ chị đang gặp nguy hiểm đấy.
    Katherine Solomon biết chắc rằng Langdon không bao giờ đùa cợt kiểu này, nhất là với giọng điệu như mất trí ấy.
    - Tôi ổn mà, - cô đáp - Tôi đang ở trong một toà nhà rất an toàn!
    - Đọc cho tôi nghe tin nhắn chị nhận từ điện thoại của Peter. Nào!
    Hết sức bối rối, Katherine mở lại tin nhắn và đọc cho Langdon nghe, cô thấy châu thân ớn lạnh khi đọc đến phần nhắc tới bác sĩ Abaddon. “Nếu được, mời bác sĩ Abaddon cùng tham gia với chúng ta. Anh tin anh ấy hoàn toàn…”
    - Ôi lạy Chúa… - Giọng Langdon đầy sợ hãi - Chị đã mời người này vào đó chưa?
    - Rồi! Trợ lý của tôi đã ra sảnh dẫn anh ta vào. Tôi nghĩ họ sẽ quay lại bất kỳ…
    - Katherine, thoát ra ngay đi! - Langdon hét lên - Ngay bây giờ!

    ***

    Phía bên kia SMSC, điện thoại phòng an ninh bỗng đổ chuông, át hẳn tiếng trận đấu của đội Redskins. Người bảo vệ chần chừ tháo tai nghe một lần nữa.
    - Phòng chờ đây, - anh ta lên tiếng - Tôi là Kyle.
    - Kyle, Katherine Solomon đây! - Katherine hổn hển gọi, giọng đầy thảng thốt.
    - Thưa cô, anh trai cô vẫn chưa…
    - Trish đâu rồi? - cô hỏi - Anh có thấy cô ấy trên màn hình không?
    Người bảo vệ xoay ghế về phía dãy màn hình.
    - Cô ấy vẫn chưa trở lại Khối hộp ạ?
    - Chưa! - Katherine hét lên như báo động.
    Lúc này, người bảo vệ mới nhận ra rằng Katherine Solomon hoàn toàn mất bình tĩnh, hình như cô ấy đang chạy. Có chuyện gì ở đó không biết? Anh ta nhanh chóng điều khiển cần máy quay, lướt qua các khuôn hình với tốc độ nhanh.
    - Đây rồi, vâng, tôi đang tua lại… tôi thấy Trish cùng vị khách của cô rời phòng khách… họ đi xuống hành lang… tua nhanh nhé… rồi, họ vào Thuỷ trì tua nhanh nhé… rồi, đây họ vừa rời Thuỷ trì chừng một phút trước… đi về phía… - Anh ta gõ gõ vào trán, cho máy chạy chậm lại - Chờ chút. Không ổn rồi.
    - Sao cơ?
    - Chỉ có mình quý ông ra khỏi Thuỷ trì thôi.
    - Trish vẫn ở bên trong à?
    - Vâng, có vẻ như vậy. Tôi thấy vị khách của cô… anh ta ở trong sảnh một mình.
    - Trish đâu rồi? - Katherine hỏi, giọng càng cuống hơn nữa.
    - Tôi không thấy cô ấy trên video, - người bảo vệ đáp, giọng thoáng lo lắng. Anh ta xem lại màn hình và nhận ra tay áo khoác người kia bị ướt… lên đến tận khuỷu. Thằng cha này làm quái gì trong Thuỷ trì không biết? Hắn ta bắt đầu bước dọc hành lang chính về phía Khoang 5, tay cầm chặt một thứ trông giống… tấm thẻ.
    Người bảo vệ cảm thấy tóc ở sau gáy dựng đứng.
    - Cô Solomon, chúng ta gặp phải một chuyện rất nghiêm trọng rồi.

    ***

    Tối nay là một buổi tối dị thường đối với Katherine Solomon.
    Hai năm qua, cô chưa hề sử dụng điện thoại di động trong bóng tối cũng chưa bao giờ phải băng qua khoảng tối ấy bằng cách chạy thục mạng cả. Tuy nhiên, lúc này, Katherine đang áp chặt điện thoại di động vào tai và quáng quàng lao vội dọc chiều dài lớp thảm vô định. Mỗi lần cảm thấy chân chệch ra khỏi thảm, cô lại nhích vào giữa, hối hả băng qua bóng tối mịt mùng.
    - Gã ta đâu rồi? - Katherine hỏi người bảo vệ.
    - Tôi đang kiểm tra, - người bảo vệ đáp - Tua lên đây… được rồi, gã đang đi xuống đại sảnh… về phía Khoang 5…
    Katherine guồng mạnh chân, hy vọng kịp ra tới cửa để khỏi bị kẹt lại trong này.
    - Còn bao lâu nữa thì gã tới được cửa Khoang 5?
    Người bảo vệ nín lặng.
    - Thưa cô, cô không hiểu sao? Tôi đang tua đi mà. Đây là chế độ xem lại. Mọi việc đã xảy ra rồi - Anh ta ngừng lời - Chờ chút, để tôi kiểm tra màn hình lối vào - Dừng chốc lát, anh ta nói tiếp - Thưa cô, thẻ của cô Dunne đã nhập lệnh vào được một phút rồi.
    Katherine khựng lại ngay giữa khoảng tối mịt mùng.
    - Gã đã mở cửa Khoang 5 rồi à? - cô thì thào trên điện thoại.
    Người bảo vệ vội vã gõ bàn phím.
    - Vâng, hình như gã đã vào… 90 giây trước.
    Toàn thân Katherine cứng đờ. Cô nín thở. Bóng tối xung quanh đột nhiên như có sự sống.
    Gã đã vào trong này cùng với mình.
    Trong khoảnh khắc, Katherine nhận ra rằng thứ ánh sáng duy nhất trong khoảng không gian tối om này chính là từ điện thoại di động của cô, soi rõ gương mặt cô.
    - Gọi hỗ trợ ngay - cô thì thào với người bảo vệ - Và tới Thuỷ trì giúp Trish - Rồi cô vội tắt điện thoại.
    Bóng tối mịt mùng phủ kín xung quanh.
    Katherine đứng im lìm và thở thật khẽ. Sau vài giây, mùi. ethanol toả ra từ khoảng tối trước mặt cô. Mùi đó càng lúc càng đậm. Cô có thể cảm nhận được sự hiện diện của kẻ kia, gã chỉ ở cách cô vài bước.
    Trong im lặng, tiếng tim đập nghe sao rõ đến vậy. Rất khẽ khàng, Katherine rút chân khỏi giày và nhích sang trái, bước lệch khỏi tấm thảm. Nền xi măng lạnh ngắt dưới chân cô. Cô dịch ra khỏi tấm thảm thêm một bước.
    Một ngón chân cô bỗng miết két xuống sàn nhà.
    Chẳng khác gì tiếng súng giữa thinh không.
    Tiếng quần áo sột soạt vang lên cách đó vài bước. Katherine phản ứng quá trễ, một cánh tay chắc khỏe sượt qua cô, quờ quạng trong bóng tối như cố túm lấy cô. Katherine vùng mạnh ra khi bàn tay lạ nắm được áo choàng, kéo cô trở lại.
    Katherine duỗi thẳng hai tay ra sau để tuột khỏi áo choàng và thoát đi. Đột nhiên, chẳng cần biết đâu là lối ra nữa, cô quáng quàng lao về phía trước, băng qua bóng tối vô định mịt mùng.
    hết: Chương 45

  10. #40
    Cua Cua... bò bò...
    sarujun's Avatar


    Thành Viên Thứ: 74964
    Giới tính
    Nữ
    Đến Từ: Châu Á
    Tổng số bài viết: 354
    Thanks
    1,183
    Thanked 499 Times in 202 Posts
    Chương 46


    Mặc dù sở hữu “không gian đẹp nhất thế giới”, như nhiều người thường nói, nhưng Thư viện Quốc hội lại được biết đến nhờ bộ sưu tập sách đồ sộ hơn là nhờ kiến trúc tráng lệ mê hồn. Với những giá sách kéo dài đến hơn 500 dặm - một khoảng cách tương đương từ Washington D.C. đến Boston - nó dễ dàng giành được danh hiệu thư viện lớn nhất thế giới, và vẫn đang tiếp tục mở rộng với tốc độ hơn 10.000 đầu mục sách mỗi ngày.

    Thư viện Quốc hội là nơi cất giữ bộ sưu tập cá nhân sách khoa học và triết học của Thomas Jefferson, giờ đây nó đã trở thành biểu tượng cho lời cam kết của nước Mỹ về sự nghiệp phổ biến tri thức. Là một trong những toà nhà đầu tiên ở Washington được mắc điện, thư viện thực sự toả sáng như ngọn đèn hiện trong bóng u minh ở Tân Thế giới.
    Đúng như tên gọi của nó, Thư viện Quốc hội được thành lập để phục vụ các nghị sĩ đáng kính làm việc trong Điện Capitol ngay bên kia đường. Mối liên hệ lâu đời giữa thư viện và Điện Capitol gần đây lại được củng cố thêm nhờ việc xây dựng một cầu nối hữu hình - một đường hầm dài ngay bên dưới Đại lộ Độc Lập, nối liền hai toà nhà.

    Đêm nay, trong đường hầm tăm tối này, Robert Langdon theo Warren Bellamy băng qua khu vực đang xây dựng dở, cố gắng chế ngự tâm trạng lo lắng mỗi lúc một tăng về Katherine. Gã điên đang ở phòng thí nghiệm của chị ấy! Langdon thậm chí còn không muốn hình dung xem vì sao lại như vậy. Khi gọi đến để cảnh báo, Langdon đã cho Katherine biết chính xác địa điểm để cô tới gặp anh. Cái đường hầm quái quỷ này còn kéo dài bao xa nữa đây? Đầu anh đau như búa bổ vì những ý nghĩa chồng chéo, đan xen quay cuồng: Katherine, Peter, Hội Tam điểm. Bellamy, kim tự tháp, lời tiên tri cổ xưa và một tấm bản đồ.

    Langdon lắc đầu, cố xua đuổi những ý nghĩ ấy và rảo bước đi tới.

    Bellamy đã hứa sẽ giải đáp cho mình.

    Tới đầu bên kia của đường hầm, Bellamy dẫn Langdon đi qua một dãy cửa hai cánh vẫn đang trong quá trình xây dựng. Chưa thể khoá được cửa, Bellamy đành ứng biến bằng cách lấy một chiếc thang nhôm trong đống dụng cụ xây dựng, dựa hờ nó vào mé ngoài cánh cửa. Sau đó, ông đặt một cái xô bằng kim loại lên đỉnh thang. Nếu có ai mở cửa, cái xô sẽ rơi loảng xoảng xuống sàn.

    Hệ thống báo động đây hả? Langdon ngó cái xô đặt chênh vênh, hy vọng Bellamy có một kế hoạch toàn diện hơn để bảo đảm an toàn cho họ tối nay. Mọi thứ diễn ra quá nhanh, tới lúc này Langdon mới bắt đầu xem xét hậu quả của việc tẩu thoát. Mình là một kẻ đang trốn chạy CIA.

    Bellamy đi trước quành qua một góc tường, từ đây họ bắt đầu leo lên một cầu thang rộng rãi nằm giữa hai hàng cột màu cam. Cái túi da kéo trĩu vai Langdon theo từng bước tiến.

    - Về kim tự tháp đá, - anh đánh tiếng - tôi vẫn chưa hiểu…

    - Không phải ở đây, - Bellamy ngắt lời - Chúng ta sẽ xem xét nó ở chỗ sáng. Tôi biết một nơi an toàn.

    Langdon băn khoăn, liệu có nơi nào đủ an toàn cho kẻ vừa đánh trọng thương Giám đốc Phòng An ninh của CIA hay không.

    Lên hết cầu thang, hai người bước vào một hành lang rộng xây bằng đá cẩm thạch Italia, vữa trang trí và vàng lá. Đại sảnh có tám cặp tượng dàn thành hai hàng, tất cả đều là tượng nữ thần Minerva. Bellamy vẫn rảo bước, dẫn Langdon đi về phía đông, qua một cửa vòm để tiến vào một không gian rộng lớn hơn nhiều.

    Dù đèn đóm chỉ còn lờ mờ do đã hết giờ làm việc, đại sảnh thư viện vẫn hiện lên rực rỡ trong dáng vóc cổ điển của một toà dinh thự sang trọng kiểu châu Âu. Ở độ cao 22 mét, những ô cửa sổ lắp kính màu lấp lánh giữa viền khung thếp nhôm lá hiếm - thứ kim loại có thời còn quý hơn vàng. Đỡ bên dưới là một dãy cột đôi sừng sững chạy dọc ban công tầng hai, dẫn đến hai cầu thang xoắn rất lộng lẫy, mỗi chấn song lại đỡ một bức tượng thiếu nữ bằng đồng đang giơ cao ngọn đuốc khai sáng.

    Vừa cố gắng thể hiện chủ đề khai tâm thời hiện đại vừa nỗ lực bảo lưu phong cách kiến trúc trang trí thời Phục hưng, các lan can đều chạm hình thiên sứ kháu khỉnh, dáng dấp tựa thần ái tình nhưng tư thế lại mô phỏng khoa học gia, chẳng hạn kỹ sư điện thiên thần cầm điện thoại hoặc nhà côn trùng học ngây thơ bưng mẫu vật… Langdon tự hỏi không biết Bernini(61) sẽ nghĩ gì khi trông thấy cảnh này.

    - Chúng ta lại đằng kia nói chuyện - Bellamy gọi, dẫn Langdon đi qua dãy tủ trưng bày lắp kính chống đạn, bên trong chứa hai cuốn sách quý nhất của thư viện: cuốn Đại Kinh thánh Mainz, bản viết tay năm 1450, và bản sao cuốn Kinh thánh Gutenberg của Mỹ, một trong ba bản sao bằng da cừu hoàn hảo nhất the giới. Thật thích hợp là phần vòm trần phía trên thể hiện bức vẽ sáu mảnh nhan đề Lịch sử tiến hoá Sách của John White Alexander.

    Bellamy bước thẳng tới hai ô cửa cánh đôi rất trang nhã trổ chính giữa mặt sau bức tường hành lang phía đông. Langdon biết rõ loại phòng nằm sau mấy cánh cửa ấy, nhưng chọn nơi này để trao đổi thì quả có hơi lạ lùng. Thật hài hước vì họ sẽ nói chuyện trong một không gian đầy những tấm biển “Giữ im lặng”, chưa kể đó còn là một nơi rất thiếu an toàn. Nằm chính giữa mặt bằng hình thập giá của thư viện, căn phòng này chẳng khác gì trung tâm toà nhà. Ẩn mình ở đây cũng tương tự đột nhập vào một thánh đường và núp sau bàn thờ.

    Vậy mà Bellamy vẫn mở khoá cửa. Ông bước vào khoảng tối rồi lần mò tìm đèn điện. Công tắc vừa bật lên, một trong những kiệt tác kiến trúc vĩ đại của nước Mỹ thình lình hiện ra.
    Phòng đọc sách nổi tiếng này thực sự thoả mãn mọi giác quan. Đây là một không gian hình bát giác đồ sộ với chóp đỉnh chạm tới độ cao 48 mét, tám cạnh đều “ốp đá cẩm thạch, nào là Tenessee màu nâu sô-cô-la, Siena màu kem, rồi Algeria màu táo đỏ. Vì được chiếu sáng từ cả tám góc nên bóng tối không có nơi hiện hữu, tạo cảm giác rằng gian phòng tự phát quang.

    - Có người nhận xét đây là gian phòng ấn tượng nhất Washington, - Bellamy lên tiếng, giục Langdon bước vào.

    Có khi nhất thế giới ấy, Langdon nghĩ thầm và đưa chân qua ngưỡng cửa. Như thường lệ, trước tiên ánh mắt anh lướt ngược lên dọc thân cột trung tâm, tới chỗ những ô trần lõm uốn cong theo mái vòm xuống một ban công tầng trên. Tại đây, mười sáu pho tượng “chân dung” bằng đồng đứng quây tròn theo viền phòng, đăm đăm nhìn xuống. Phía dưới cũng là một ban công, do dãy cong tò vò tạo thành. Ở phần sàn, những chiếc bàn gỗ láng bóng xếp thành ba đường tròn đồng tâm, toả ra quanh một chiếc bục bát giác rất
    lớn.

    Bellamy đẩy mạnh cho hai cánh cửa phòng mở rộng hơn. Langdon chuyển sự chú ý sang ông, anh thắc mắc.

    - Chúng ta đang lẩn trốn cơ mà.

    - Tôi muốn phát hiện động tĩnh nếu chẳng may có ai vào toà nhà - Bellamy nói.

    - Nhưng họ sẽ mau chóng tìm thấy chúng ta ở đây thôi.

    - Nhất định họ sẽ tìm thấy, dù chúng ta trốn ở đâu. Nhưng nếu bị bao vây, anh sẽ lấy làm mừng vì tôi đã chọn căn phòng này.

    Langdon chưa hiểu vì sao, nhưng rõ ràng Bellamy không định thảo luận tiếp. Ông tiến thẳng vào giữa phòng, chọn một trong những chiếc bàn đặt sẵn ở đó, kéo hai chiếc ghế lại, bật đèn bàn lên và trỏ cái túi của Langdon.

    - Được rồi, Giáo sư, chúng ta cùng xem xét kỹ hơn nào.
    Không muốn mạo hiểm để khối đá hoa cương thô cứng làm xước mặt gỗ nhẵn bóng, Langdon đặt cả túi lên bàn, mở khoá và gấp hết mép túi xuống cho lộ cái kim tự tháp bên trong ra. Warren Bellamy chỉnh lại đèn và cẩn thận xem xét kim tự tháp. Ông rờ tay lên những dòng chữ khắc dị thường.

    - Tôi đồ rằng anh nhận ra thứ ngôn ngữ này chứ? - Bellamy hỏi.

    - Dĩ nhiên rồi, - Langdon đáp, mắt nhìn mười sáu ký tự.


    Thứ ngôn ngữ mã hoá, thường được gọi là Mật mã Tam điểm này, là phương tiện liên lạc riêng giữa các huynh đệ Tam điểm thời kỳ đầu. Sau này họ không dùng phương pháp mã hoá ấy nữa, vì một lý do hết sức đơn giản là quá dễ phá giải. Hầu hết các sinh viên môn biểu tượng học của Langdon đều có thể giải loại mật mã này trong vòng năm phút. Còn chính anh thì chưa cần đến 60 giây, chỉ với cây bút chì và tờ giấy.

    Xét từ đặc tính dễ giải nổi tiếng của loại mật mã đã có lịch sử hàng trăm năm này, câu chuyện tối nay bộc lộ vài điều phi lý. Thứ nhất, thật ngớ ngẩn nếu cho rằng Langdon là người duy nhất trên Trái đất hoá giải được nó. Thứ hai, bảo mật mã Tam điểm là vấn đề an ninh quốc gia (như lời Sato) chẳng khác nào bảo mật mã phóng tên lửa hạt nhân được khoá bằng chiếc khuyên giải mã trong gói bim bim Cracker Jack(62). Langdon vẫn nghi hoặc về hai điểm trên. Kim tự tháp là một bản đồ? Nó sẽ chỉ đường tới kho tri thức đã thất truyền của mọi thời đại?

    - Robert, - Bellamy lên tiếng, giọng nghiêm trang - Giám đốc Sato đã cho anh biết lý do vì sao bà ta quan tâm đến vụ này phải không?

    Langdon lắc đầu.

    - Không cụ thể. Sato chỉ nói đây là vấn đề an ninh quốc gia. Tôi ngờ bà ta nói dối.

    - Có lẽ thế, - Bellamy nói và xoa xoa gáy, vẻ đang băn khoăn điều gì. - Nhưng còn một khả năng đáng ngại hơn thế - ông quay sang nhìn Langdon - Chưa chừng Giám đốc Sato đã phát hiện ra tiềm năng thật sự của kim tự tháp này.

    --hết chương--

    ------------------------
    Chú thích:
    (61) Gian Lorenzo Bernini (1598 -1680) là một nghệ sĩ Italia làm việc tại Rome trong thế kỷ XVII. Ông là nhà điêu khắc trường phái Cổ điển hàng đầu của thời đại mình và cũng là một Kiến trúc sư nổi tiếng. Ngoài ra, ông cũng vẽ, viết kịch và thiết kế sân khấu - ND.
    (62) Bộ giải mã bí mật, dưới dạng phù hiệu hoặc cái khuyên, là một trò chơi rất phổ biến cho trẻ em từ những năm 1930 và trong suốt thế kỷ XX. Nó thường được đặt trong các hộp ngũ cốc và bim bim, chẳng hạn của hãng Cracker Jack, làm phần thưởng. Đây là một cách khá lý thú để phát huy trí tưởng tượng của trẻ em rằng chúng có những loại mật mã dùng để gửi các thông điệp bí mật cho nhau - ND.
    thay đổi nội dung bởi: sarujun, 29-01-2011 lúc 01:57 AM

Trang 4/5 đầuđầu 1 2 3 4 5 cuốicuối

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. [Truyện Dài] MẬT MÃ DA VINCI (Dan Brown)
    By minhthang6 in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 104
    Bài mới gởi: 08-05-2009, 01:55 PM
  2. [Truyện dài] Deception Point (Điểm dối lừa) - Dan Brown
    By Shouri Yumi in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 129
    Bài mới gởi: 08-05-2009, 09:25 AM
  3. [Truyện dài] THIÊN THẦN VÀ ÁC QUỶ - Dan Brown
    By Fang [(] in forum Văn Hóa Bốn Phương
    Trả lời: 26
    Bài mới gởi: 18-01-2009, 12:48 PM

Bookmarks

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •